Thứ Năm, 20 tháng 10, 2016

SỐNG VUI ĐẠO HẠNH (Tánh Thiện)


 Bài thơ đã được đăng trên website http://quangduc.com
                                                                          http://quangduc.com/a59490/song-vui-dao-hanh

SỐNG VUI ĐẠO HẠNH
Kính tặng thi hữu Minh Đạo (Tranh-Thư Pháp Minh Đạo)

Sống chuyên tu Phật
Giàu có như ai
Hạnh phúc không cần
Nghĩ đến ngày mai .
Vui trong chánh tín
Cảm đức Phật ân
Phước báo đời đời
Đến đi tự tại .
Đạo thường vô ngại
Tỏ sáng nguồn tâm
Rong chơi tháng ngày
Vui chốn thiền lâm .
Hạnh nguyện chuyên cần
Cho lòng chẳng vướng
Qua bao nghiệp chướng
Vĩnh biệt từ đây .
                   Tánh Thiện
                   20-10-2016   


Thứ Tư, 19 tháng 10, 2016

AI CŨNG NÊN ĐỌC, LỜI KHUYÊN CHO CON, ĐÁNG SUY NGẪM

Kết quả hình ảnh cho lời khuyên con


1. Con ạ, con nhất định phải học nấu cơm. Việc này không liên quan với chuyện hầu hạ người khác. Khi những người yêu thương con đều không ở bên cạnh, con có thể đối đãi bản thân thật tốt. (Có thể độc lập sinh tồn)

2. Con ạ, con nhất định phải học lái xe. Việc này không liên quan với thân phận địa vị. Như thế vào bất cứ lúc nào, con cũng có thể cất bước đi đến bất cứ nơi nào con muốn, không cầu cạnh bất cứ người nào. (Tự do)

3. Con ạ, con có biết không? Dấu chân có bao xa, lòng dạ có bao rộng. Tấm lòng rộng rãi, con mới vui vẻ. Ngộ nhỡ đi không xa, hãy để sách vở đưa con đi. (Mở rộng tầm nhìn của mình, nhờ vào tầm nhìn của tri thức)

4. Nếu trên đời chỉ sót lại hai bát nước, một bát dùng để uống, một bát phải dùng để rửa sạch gương mặt và quần áo lót của con. (Tự tôn không liên quan với giàu nghèo)

5. Trời sập xuống cũng đừng khóc lóc, đừng oán trách. Như thế chỉ khiến những người yêu thương con càng đau lòng, những kẻ thù hận con thêm đắc ý. (Bình tĩnh chấp nhận số mệnh, những người yêu thương con đương nhiên sẽ quan tâm)

6. Dù ăn cơm trộn nước tương, cũng phải trải khăn ăn sạch sẽ, ngồi với tư thế trang nhã. Sống cuộc sống thô sơ theo cung cách cầu kỳ. (Phong độ không liên quan với cảnh ngộ)

7. Khi đến phương xa, ngoài máy ảnh, nhớ mang theo giấy bút. Phong cảnh giống nhau, nhưng tâm tình ngắm cảnh mãi mãi không trùng lặp. (Hình ảnh và ký ức tình cảm là khác nhau)

8. Nhất định phải có không gian thuộc về mình, dù chỉ hơn chục mét vuông. Nó có thể giúp con khi cãi nhau với người yêu giận dỗi bỏ đi không đến nỗi lưu lạc đầu phố, đụng phải kẻ xấu. Càng quan trọng hơn là, khi con nông nổi, có một nơi để con bình tĩnh lại, cho lòng mình một góc ở yên. (Nhân cách độc lập)

9. Lúc nhỏ phải có kiến thức, lớn lên phải có từng trải, con mới có cuộc đời tinh tế đẹp đẽ! (Đọc từng trải của người khác, tìm từng trải của bản thân)

10. Bất kể lúc nào, đều phải làm một người hiền lành lương thiện. Hãy ghi nhớ, lương thiện, sẽ khiến con trở thành người được trời cao chiếu cố nhất. (Kiểu chiếu cố này không hẳn là giàu có và quyền thế. Thiện có thiện báo, thứ được báo đáp, là tình yêu thương.)

11. Nụ cười, ưu nhã, tự tin, là của cải tinh thần lớn nhất. Sở hữu chúng, con sẽ sở hữu tất cả.
Đây chính là tinh thần “quý tộc”.


                                                                                 (Sưu tầm)


Thứ Ba, 18 tháng 10, 2016

PHÁT HIỆN ĐÁNG KINH NGẠC: TẾ BÀO UNG THƯ SỢ NHẤT LÀ TÌNH YÊU


Sau một thời gian, toàn bộ các tế bào ung thư đã không còn nữa, đây là kết quả nằm ngoài sức tưởng tượng của con người.

Tiến sĩ David Hawkins là một bác sĩ rất nổi tiếng ở Mỹ, bệnh nhân của ông đến từ khắp nơi trên thế giới. Ông cho biết, chỉ cần nhìn thấy bệnh nhân là ông biết người đó vì sao bị bệnh. Bởi trên cơ thể người bệnh không bao giờ tìm thấy chữ ‘yêu’, chỉ thấy chữ ‘khổ, hận, phiền muộn’ bao bọc toàn cơ thể họ.




“Rất nhiều người bị bệnh vì không được yêu, ở họ chỉ thấy nỗi khổ và phiền muộn, tần số rung động thấp hơn 200 sẽ dễ bị bệnh”,ông cho biết. Tần số rung động chính là từ trường mà mọi người thường hay nói.

Ông cũng phát hiện ra rằng, những người bệnh thường có suy nghĩ tiêu cực. Tần số rung động của người trên 200 sẽ không bị bệnh. Ở người bệnh, tần số này thường thấp hơn 200. Tần số rung động của những người như nào thấp hơn 200? Đó là những người hay oán giận, chỉ trích, hận thù người khác, tần số của họ chỉ là 30, 40. Trong quá trình trách móc người khác sẽ làm tiêu hao rất nhiều năng lượng của họ vì thế tần số rung động sẽ giảm thấp hơn 200, những người này có nguy cơ bị mắc rất nhiều loại bệnh.

Chỉ số rung động cao nhất là 1000, thấp nhất là 1. Ông nói, trong cuộc đời ông từng gặp người có tần số rung động cao nhất là 700, năng lượng trong cơ thể anh ấy rất dồi dào. Khi những người này xuất hiện, họ sẽ làm ảnh hưởng đến từ trường của cả khu vực xung quanh. Lấy ví dụ, như khi bà tu sĩ Trisara lên nhận giải thưởng Nobel Hòa bình, không khí cả hội trường rất tốt, tần số rung động rất cao, từ trường của bà làm cho cả hội trường đều cảm nhận được năng lượng tràn ngập sự tốt đẹp và cảm động từ bà.



Khi người có năng lượng cao xuất hiện, từ trường của họ sẽ làm cho vạn vật trở lên tốt đẹp hơn. Còn với người có suy nghĩ tiêu cực, không chỉ làm tổn hại chính họ mà còn làm cho từ trường xung quanh cũng bị xấu đi.

TS Hawkins nói, ông đã từng làm bệnh án cho hàng triệu người, các chủng loại người khác nhau trên toàn thế giới, tất cả đều cho một đáp án giống nhau. Chỉ cần tần số rung động thấp hơn 200 là người đó sẽ bị bệnh. Trên 200 sẽ không bị bệnh, những suy nghĩ có tần số rung động trên 200 gồm có: quan tâm đến người khác, giàu lòng từ bi, nhân ái, hướng thiện, bao dung, độ lượng, v.v. Đây đều là những đức tính có tần số rung động rất cao, đạt đến mức 400-500.



Ngược lại, người có tính căm ghét, phẫn nộ, hay chỉ trích, trách móc, đố kị, đòi hỏi người khác, luôn tư lợi cá nhân, ích kỷ, không màng đến cảm nhận của người khác sẽ có tần số rung động rất thấp. Tần số rung động thấp là nguyên nhân dẫn đến các bệnh như ung thư, tim v.v.

Từ góc độ y học ông cho rằng, ý niệm có ảnh hưởng vô cùng lớn đến sức khỏe con người.

Sau khi nghệ sỹ chơi đàn Violoncelle Sean của Nhật Bản bị bệnh ung thư, ông đã không ngừng chiến đấu với bệnh tật nhưng xem ra tình trạng ngày một nặng hơn. Ông đã thay đổi tâm trạng, quyết định chuyển sang yêu từng tế bào ung thư trong cơ thể mình. Ông lạc quan với cuộc sống, mọi việc ông đều luôn thấy vui vẻ và biết ơn các tế bào ung thư. Ông thấy cảm giác này rất tuyệt. Sau đó, ông đã quyết định yêu mọi thứ trong cuộc sống, bao gồm cả mỗi con người và mỗi sự việc.

Sau một thời gian, toàn bộ các tế bào ung thư đã không còn nữa, đây là kết quả nằm ngoài sức tưởng tượng của con người. Sau này, ông trở thành bác sĩ trị liệu nổi tiếng tại Nhật Bản. Đây chính là bản chất của cuộc sống: Tình Yêu.
Căn nguyên của bệnh tật là do trong cơ thể người bệnh thiếu tình yêu thương. Bệnh tật bị đẩy lùi một cách vô điều kiện là nhờ ‘yêu và được yêu’.

                                                                            (Theo Phununews)


Chủ Nhật, 16 tháng 10, 2016

THIỀN LỘ (Tánh Thiện)



Nhân đọc bài GẶP NHAU MỘT CHẶNG ĐƯỜNG, thầy Thích Tánh Thiện cảm tác bài Thiền lộ. Minh Đạo trân trọng gởi đến quí độc giả gần xa:

                    THIỀN LỘ 

Gặp nhau đi một chặng đường
Cùng chung thiền lộ chân thường kết duyên
Hướng về pháp Phật dạy khuyên
Cho lòng ngưng sóng lắng yên não phiền

Giữ tâm thanh tịnh muôn nơi
Niềm vui đạo hạnh cuộc đời trong ta
Ra vô vào cõi ta bà
Mang tình yêu đến muôn nhà đắp xây

Dù cho đi khắp Đông Tây
Cuối cùng nên nhớ về ngay chính mình
Chẳng ai cứu độ đời mình
Con đường thiền lộ tự mình phải qua.
                 
                                         Tánh Thiện

                                         16-10-2016


Thứ Bảy, 15 tháng 10, 2016

GẶP NHAU MỘT CHẶNG ĐƯỜNG


Bài nầy đã được đăng trên các website: http://www.daophatngaynay.com/vn/van-hoc/tho/21932-gap-nhau-mot-chang-duong.html, http://hoavouu.com/p41/1/trang-tho, http://www.hoalinhthoai.com/poetry/Tho-Van.html.http://www.hoalinhthoai.com/poetry/Tho-Van.html
                                                 
                                                  GẶP NHAU MỘT CHẶNG ĐƯỜNG

                                                  Loanh quanh thoáng chốc lại rời đi,
                                                  Tính thiệt hơn thua giúp ích chi ?
                                                  Nhịn nhục trăm lần luôn có được,
                                                  Khen chê vạn lối chẳng ra gì !!!
                                                  Bao năm thế sự tìm sân hận,
                                                  Mấy cõi càn khôn chuốc mạn si !!!
                                                  Biển ái thuyền từ nguồn phước lạc,
                                                  Chung nhau đoạn ngắn chớ hoen mi…


                                                                                   Minh Đạo

TỨ ĐẠI – DƯỚI CON MẮT CỦA PHẬT HỌC VÀ KHOA HỌC

Kết quả hình ảnh cho đức phật


 
Hãy nhìn tứ đại bằng cái nhìn rộng rãi và bao quát hơn: đất là chất rắn, nước là chất lỏng, gió là chất khí và lửa là hơi ấm. Với cái nhìn này, chúng ta dễ dàng công nhận hơn với mệnh đề: “bốn yếu tố cấu thành nên toàn bộ vật chất thuộc về vật lý của thế gian”.

TỨ ĐẠI TRONG TA

 Hôm nay chúng ta sẽ nghiên cứu về Sắc Uẩn trong Ngũ Uẩn.

 Chúng ta biết, Sắc Uẩn bao gồm Tứ Đại theo nghĩa cổ truyển (Cattarimahabhu-tani): đất, nước, gió và lửa và vật chất do bốn đại tạo thành (sở tạo sắc – Upadaya-rupa). Đó là bốn yếu tố cấu thành nên toàn bộ vật chất thuộc về phạm trù vật lý của thế gian.

 Nhưng nếu chúng ta học tứ đại bằng cái nhìn: đất là nắm đất ven đường, nước là dòng suối sau nhà, gió là cơn gió trước hiên và lửa là ngọn lửa trong bếp mẹ đang nấu; thì chúng ta đã thấy tứ đại nhưng còn hạn hẹp lắm. Học như vậy, sẽ làm cho Đạo Phật rất dễ xa dần các bạn trẻ, nhất là các bạn có học thức, vì các bạn sẽ biện luận rằng: “cơ thể chúng tôi làm gì có đất ven đường, suối sau hè, gió trước hiên và lửa mẹ nấu”.

 Các bạn ấy đâu có hạnh phúc bằng ta, vì chúng ta đã được học giáo lý Duyên Khởi, Tương Tức và Tương Nhập nên chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra đất, nước, gió và lửa ở trong chính bản thân của chúng ta. Tứ Đại được dễ dàng nhận diện qua năm căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Qua những đối tượng của thế giới bên ngoài tương ứng với năm căn đó: hình sắc, âm thanh, hương, vị, xúc. Và qua ý nghĩ hay tư tưởng thuộc về đối tượng của tâm (Dharmayatana: pháp xứ).

 Nhưng các bạn trẻ kia thì khó lòng mà nhận thấy được điều đó. Cho nên chúng ta cần có một cái nhìn tổng quát hơn đối với Tứ Đại, để chúng ta và các bạn trẻ kia đều có thể có được một cái nhìn chuẩn xác về Phật học và Khoa học không phải là hai thái cực trái ngược nhau hoặc không đồng nhất với nhau.

 CÁI NHÌN TỔNG QUAN

  Hãy nhìn tứ đại bằng cái nhìn rộng rãi và bao quát hơn: đất là chất rắn, nước là chất lỏng, gió là chất khí và lửa là hơi ấm. Với cái nhìn này, chúng ta dễ dàng công nhận hơn với mệnh đề: “bốn yếu tố cấu thành nên toàn bộ vật chất thuộc về vật lý của thế gian”.

 Xét về chính cơ thể con người chúng ta: xương, thịt, da, lông, tóc… đó là chất rắn; máu, mủ, dịch,… là chất lỏng; hơi thở lưu thông là chất khí và thân nhiệt là hơi ấm. Ngoài ra, quyển sách chúng ta đang đọc có thể hiểu là đất, trà chúng ta uống đó chính là nước, gió từ chiếc quạt của mẹ và hơi ấm từ là sưởi đó chính là lửa. Tứ đại có mặt trong ta và có mặt xung quanh cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Như vậy, tứ đại có mặt ở khắp mọi nơi. Với cách nói này, chúng ta thấy tứ đại đã dần có mặt ở trong cơ thể của các bạn trẻ và các bạn trẻ đã dễ dàng chấp nhận hơn về khái niệm tứ đại.

 Tuy nhiên, cách hiểu trên vẫn chưa thật sự là cách hiểu toàn vẹn về tứ đại. Tứ đại thay vì hiểu là đất, nước, gió, lửa thì hãy hiểu theo cái nội hàm mà nó biểu thị ban đầu Pathavi, Apo, Vayo và Tejo. Bốn danh từ này được sử dụng trong những bản kinh nguyên thủy trước khi được dịch thành đất, nước, gió và lửa.

 Ý NGHĨA NGUYÊN THỦY

 Pathavi: yếu tố giãn nở. Chính yếu tố giãn nở này mà các vật chất có một cái ngoại viên và chiếm lấy một khoảng không gian nhất định. Bất kỳ vậy nào có chiếm lấy một phần thể tích trong không gian thì đó chính là Pathavi. Như vậy, Pathavi không chỉ là đất. Một dòng sông cũng có Pathavi. Đại dương mênh mông cũng là Pathavi và chúng ta thấy đại dương là thấy qua cái Pathavi đó. Pathavi dễ dàng nhận thấy đối với các chất rắn. Đối với chất lõng, tính Pathavi của chất lỏng phụ thuộc nhiều vào hình dáng của vật chứa chất lỏng đó. Điều này cũng tương ứng với tính Pathavi của chất khí. Bên cạnh đó Pathavi còn là cái tính nặng như kim loại, nhẹ như bông gòn, cứng như đá hay mềm như bột cũng là những trạng thái, những tính chất của Pathavi.

 Apo: yếu tố liên kết. Chúng ta biết, vạn vật đều được cấu tạo từ các nguyên - phân tử nhỏ bé. Các phân tử liên kết lại với nhau để cấu thành nên các chất rắn, lỏng và khí. Chúng luôn luôn tương tác (hút và đẩy) nhau. Sự liên kết đó chính là Apo. Từ các liên kết to lớn như các hành tinh trong một hệ hành tinh, các căn nhà trong một dãy nhà,… đến các liên kết nhỏ hơn như các mắc xích trong một sợi xích, các tép bưởi trong một múi bưởi,… và cuối cùng là các liên kết bé nhỏ mà mắt người không thấy được, như những giọt nước trong đại dương bao la, hay giữa nguyên tử Oxy và Hydro trong một phân tử nước,… tất cả các liên kết đó đều là Apo. Khi tính Apo mạnh mẽ, chặt chẽ; lúc đó các nguyên tử và phân tử nằm sát nhau thì vật được gọi là chất rắn. Chất lõng có tính liên kết phân tử yếu hơn chất rắn, tính Apo yếu hơn chất rắn. Do đó, ta gọi các chất là rắn, lỏng hay khí là dựa vào tính Apo của các vật chất.

 Vayo: yếu tố chuyển động. Chúng ta biết, các nguyên tử và phân tử cấu thành các vật chất (rắn, lỏng, khí) luôn luôn chuyển động hỗn độn, không ngừng đó chính là tính Vayo. Sự chuyển động không chỉ vận hành ở chính bên trong mỗi vật chất mà còn là sự chuyện động tương đối giữa vật chất này và vật chất khác. Một vật được xem là đứng yên hay chuyển động khi có một cái mốc cụ thể được ấn định. Tuy nhiên, không có một vật nào được xem là bất động hoàn toàn trong vũ trụ. Khi nó bất động với cái này thì lại chuyển động so với một cái khác. Hành khách trên xe có thể xem là bất động với chiếc xe, nhưng lại chuyển động so với hàng cây bên đường. Bên cạnh đó, chính vị hành khách cũng sẽ không bao giờ bất động hoàn toàn giữa hai khoảnh khắc thời gian nối tiếp nhau. Tất cả những sự chuyển động vừa nêu đều là Vayo

 Tejo: yếu tố nhiệt độ. Chúng ta đã biết các phân tử cấu thành các vật chất chuyển động không ngừng bên trong các vật chất. Và khi các phân tử chuyển động hỗn loạn không ngừng sẽ tạo ra một nguồn năng lượng dưới dạng động năng. Tổng các động năng này của các phân tử chính là nhiệt năng của vật. Trong Phật học, khái niệm trên được gọi dưới danh từ là Tejo. Chúng ta cũng biết rằng, nhiệt năng có quan hệ chặt chẽ với nhiệt độ. Nhiệt độ của vật càng cao thì các phân tử cấu tạo nên vật sẽ chuyển động càng nhanh và nhiệt năng của vật càng lớn. Nói cách khác, tính Tejo của phân tử cấu thành vật có liên hệ chặt chẽ với tính Vayo. Việc xác định yếu tố “nóng” hay “lạnh” ở một vật thể chỉ mang tính chất tương đối. Khi ta nói “lạnh” có nghĩa là nhiệt độ của vật này thấp hơn nhiệt độ của vật khác. Khi ta nói “nóng” đồng nghĩa vật có nhiệt độ cao hơn. Như vậy, cái “nóng” và “lạnh” đều là một yếu tố của nhiệt độ và đều là tính chất của Tejo.

 Như vậy, nếu chúng ta hiểu Tứ Đại theo nội hàm Pathavi, Apo, Vayo và Tejo thì một vật chất bất kì nào đó trong vũ trụ đều được cấu tạo từ Tứ Đại. Vì một vật chất bất kỳ nào cũng có các yếu tố: giản nỡ, liên kết, chuyển động và nhiệt độ. Khi nhìn mọi vật dưới con mắt của Tứ Đại chúng ta vừa tìm hiểu, thì nguyên lý Duyên Khởi lại một lần nữa được xác minh và chứng thức một cách cụ thể và khoa học. Một vật không bao giờ tồn tại độc lập một mình nó trong vũ trụ mà luôn luôn có sự tương quan lẫn nhau đối với các vật chất khác.

 TIẾP CẬN MỌI NGƯỜI

 Tứ Đại ngoài cách hiểu là “đất, nước, gió, lửa”; còn có thể hiểu là “chất rắn, chất lỏng, chất khí, hơi ấm” và cách hiểu tổng quát nhất là “Pathavi, Apo, Vayo, Tejo”. Tuy nhiên, trong quá trình học Phật và hoằng Pháp, chúng ta cần phải làm sao giáo lý của Đức Thế Tôn đến với từng người, trong từng hoàn cảnh và từng điều kiện cụ thể một cách thích hợp và mang lại kết quả tốt đẹp nhất. Nói chuyện với một người nông dân, hãy nói tứ đại là: đất ruộng, nước tưới, gió trời và nắng ấm. Khi trao đổi với người công nhân, hãy triển khai tứ đại với hình ảnh: rắn như sắt, lỏng như dầu, khí là gas, sức nóng của lò luyện. Và khi nào triển khai cùng giới học giả trí thức, hãy sử dụng bốn tính chất Pathavi, Apo, Vayo và Tejo để thấy được cái nhìn của Phật Học cách đây hơn 2500 đã vượt trội hơn Khoa Học hiện tại đến dường nào.

 Triển khai Tứ Đại một cách linh hoạt và uyển chuyển như vậy chính là tinh thần: khế lý, khế cơ, khế xứ, khế thời của Đức Thế Tôn đã dạy.

                                                                                          Tuệ Quý

 

 

Thứ Năm, 13 tháng 10, 2016

CĂN NGHIỆP CỦA CON NGƯỜI

Kết quả hình ảnh cho nghiệp duyên



Nói cách khác, mình gieo nhân thì tự gặt quả lấy, hoàn toàn không có một tác nhân của Phật, Chúa Trời, Thần, Quỷ … can dự vô nhân quả của mình. 

Mới đây nhất, ngày thứ hai 15 tháng 4 năm 2012, có vụ khủng bố nổ bom tại cuộc chay đua ở Boston (Boston Marathon) đã gây thiệt mạng cho 3 người và gây thương tích gần ba trăm người khác (282). Rất nhiều người trong số bị thương đó đã bị cưa một chân hoặc hai chân.

Đặc biệt ngày 25/4/2013 đài CNN đã giới thiệu một nạn nhân là cô Heather Abbot, 35 tuổi, một cư dân của tiểu bang Rhode Island, bị cưa mất một chân. Lý do cô đến thăm Boston là để xem trận đấu Baseball của đội Red Sox Boston ngày hôm đó. Nhân tiện cô đi xem cuộc chạy bộ. Trong số 3 người chết có cô Lü Lingzi, 23 tuổi là sinh viên của Boston University đến từ Trung Hoa.
Tuy nhiên, ông Joe Berti, 43 tuổi), là trường hợp ngoại lệ đã thoát khỏi hai vụ nổ bom ở Boston và hai ngày sau đó ở Waco, Texas. Ông là một trong tám người từ Austin (Texas) đến Boston chạy đua để gây quỷ cho hội từ thiện “Champions4Children” với mục đích cứu giúp những trẻ em bị bệnh hiểm nghèo và gia đình họ. Chỉ vài giây sau khi ông đến điểm cuối (finish line) thì ông nghe tiếng nổ kinh hoàng. Bà Amy Berti, vợ ông ta, chờ ông ta bên lề đường ở finish line, chỉ cách vụ nổ vài thước, nhưng may mắn không bị thương. Trong khi người đàn bà đứng kế bên Amy thì bị chặt đứt hai chân mà mấy ngón tay. Thoát khỏi tại họa ở Boston, ông trở về Texas để làm việc trở lại. Trên đường đến Dallas, ông phải lái xe trên xa lộ 35 gần Waco thì đột nhiên ông nghe một tiếng nổ rất lớn (ông kể giống như trái bom nguyên tử nổ). Một trái lửa rất lớn dội ngược vào xe ông. May mắn thay ông không hề hấn gì.

Vào tháng ba, năm 2011, có trận động đất rất lớn lên đến 9.0 Richter scale, dọc theo bờ biển Tohoku phía Đông Bắc Nhật Bản. Trận động đất kéo theo những đợt sóng thần cao đến 40.5 thước (133 ft), giết chết trên 15,848 người, mất tích gần 6,011 người và tàn phá biết bao nhà cửa…

Vậy nhà Phật giải thích hiện tượng này như thế nào?

Trong nhà Phật có hai loại nghiệp, đó là biệt nghiệp và cộng nghiệp.

1) Biệt nghiệp:
 Như thường lệ, cứ mỗi sáng ông A đi tản bộ chung quanh khu phố nhà ông. Nhưng sáng nay vì sương mù dày đặc nên một chiếc xe không thấy ông băng qua đường nên đụng làm ông chết tại chỗ. Trường hợp cái chết của ông A là biệt nghiệp. Đối với biệt nghiệp thì vấn đề trở nên đơn giản vì nghiệp ai đã gieo thì chỉ người ấy chịu, nhưng trước một tai họa chung thì sự việc phức tạp hơn nhiều.

2) Cộng nghiệp: Thật ra không nhất thiết một nghiệp ác đời này sẽ sinh ra quả báo ở đời sau mà Luật Nghiệp Báo đã sắp xếp quả báo của mọi người một cách rõ ràng từ nhiều trăm năm về trước khiến họ sống quay quần với nhau dọc theo bờ biển, hoặc có những người ở nước khác thì nhân duyên cũng khiến họ đi du lịch đến những nơi nầy trong thời điểm xảy ra tai họa.

Thật vậy, chính nghiệp lực đã thúc đẩy những người có quả báo giống nhau tìm về ở chung một môi trường với nhau. Ví dụ có khoảng vài ngàn người trong quá khứ tạo nghiệp ác ở rải rác khắp nơi trên thế giới mà quả báo của họ khá giống nhau là phải chịu chôn vùi theo dòng nước. Nhưng nhân duyên để họ quay quần về sống gần nhau cần phải một thời gian là vài trăm năm sau, do đó khi chúng ta thấy trận động đất, sóng thần ở Nhật Bản nước cuốn theo hàng ngàn người là có sự chuẩn bị nhiều trăm năm của Luật Nghiệp Báo mà thôi. Chưa chắc là những nạn nhân nầy đã từng tạo chung một nghiệp ác trong quá khứ. Có thể mỗi người tạo riêng cho mình mỗi nghiệp ác nặng nhẹ khác nhau, nhưng tất cả đều chiêu thành một quả báo giống nhau nên nghiệp duyên đã thúc đẩy họ cùng định cư chung quanh bờ biển. Vì thế người nghiệp nặng thì chết, người nghiệp nhẹ hơn thì bị gãy chân, gãy tay, hay chỉ bị xây xát.

Một hôm, đức Phật đang ngồi trên núi Linh Thứu thấy có nhiều đoàn tỳ kheo đi thiền hành. Đoàn thứ nhất gồm một số Tỳ kheo đi theo tôn giả Xá Lợi Phất, đoàn thứ hai đi theo tôn giả Mục Kiền Kiên, đoàn thứ ba đi theo tôn giả Đại Ca Diếp, đoàn thứ tư đi theo tôn giả A Na Luật, đoàn thứ năm đi theo tôn giả Ưu Bà Ly và đoàn thứ sáu đi theo sau Đề Bà Đạt Đa. Khi đó đức Phật mới nói với các tỳ kheo đang ở bên cạnh rằng:

- Những Tỳ kheo cùng đi theo Xá Lợi Phất là những Tỳ kheo có trí tuệ lớn. Những Tỳ kheo cùng đi với Mục Kiền Liên là những Tỳ kheo có đại thần thông. Những tỳ kheo đi theo Đại Ca Diếp là những tỳ kheo thích tu khổ hạnh đầu đà…Còn những tỳ kheo mà đi theo Đề Bà Đạt Đa là những tỳ kheo có tâm ác dục.

Và đức Phật đã kết luận rằng:

- Ai cùng đi theo người nào là đã có cái nghiệp chung với người đó. Những Tỳ kheo đi theo tôn giả Xá Lợi Phất có cái nghiệp chung, tức là cộng nghiệp, với Ngài về trí tuệ. Những Tỳ kheo đi theo tôn giả Mục Kiền Liên là có nghiệp chung với Ngài về thần thông… Cho tới các Tỳ kheo đi theo Đề Bà Đạt Đa cùng có nghiệp chung về ác dục.

Ngày nay, chúng ta thấy cộng nghiệp hiển hiện rất thực tế và cụ thể. Người thích cờ bạc chỉ muốn giao du với người chơi cờ bạc, còn kẻ ham rượu chè thì lân cận ăn chơi với người uống rượu. Người thích đi chùa tụng kinh niệm Phật thì kết bạn với người đi chùa tụng kinh niệm Phật. Như vậy, cộng nghiệp đưa đẩy con người thân cận, kết bạn với nhau và biệt nghiệp khiến chúng ta có dáng mạo, tánh tình, năng khiếu và trí tuệ khác nhau.

Vậy Nghiệp có thể chuyển được chăng?

Con người từ trong quá khứ đã tạo biết bao Nghiệp Báo, mà cứ mỗi nghiệp chính là một nét vẽ, một vết mực điểm tô dần dần để hoàn thành bức tranh cho cuộc đời của họ ở đời sau. Một lời nói thiện vừa thốt ra thì lập tức một niềm vui đã hình thành và ngược lại một hành vi ác vừa thực hiện xong thì Luật Nghiệp Quả vô hình cũng lập tức kiến tạo một nỗi khổ để sắp đặt cho họ phải thọ lãnh về sau. Do đó bao nhiêu hạnh phúc, khổ đau, cay đắng hay vinh quang đều đã được hình thành xong từ kiếp trước. Như vậy khi con người vừa mới kết tinh vào noãn bào của người mẹ thì hài nhi đã cưu mang một định mệnh do chính nó tạo ra từ (kiếp) trước. Cái định mệnh vô hình nầy sẽ quyết định mọi thưởng phạt cho cuộc đời của nó khi nó lớn lên. Nhưng đây là một định mệnh không do thần linh áp đặt mà do chính do con người tự tạo lấy cho mình. Vậy con người có thể thay đổi được cái định mệnh nầy không? Hay là với những nghiệp đã hình thành, con người bị sức mạnh của nghiệp (lực) cuốn trôi khó mà chống lại?

Để trả lời nghi vấn nầy, trong kinh A Hàm, đức Phật dạy rằng:

Người gây nhân bất thiện, dù đời trước hay sau, nếu họ biết tu tâm, tu thân và tu giới thì quả sẽ đổi thay. Còn nếu người gây nhân bất thiện mà không biết tu tâm, tu thân và tu giới thì gây nhân nào sẽ thọ quả nấy. Đó là nhân nào quả nấy và nếu gây nhân mà biết chuyển nghiệp thì quả cũng đổi thay.

Chính đức Phật đã cho chúng ta một nhận định rõ ràng về cuộc sống để chúng ta không còn bận tâm về sự may rủi thành bại trong đời. Nhưng làm thế nào để chuyển nghiệp?

Tâm hồn của chúng ta đã tích lũy biết bao khuynh hướng vị kỷ, tham lam, thù hận, đố kỵ, hơn thua…từ bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp. Vì chúng nó là Ý nghiệp của đời quá khứ nên đời hiện tại tất cả những khuynh hướng bất thiện này thúc đẩy chúng ta tiếp tục tạo tác những hành vi bất thiện để đưa chúng ta mãi mãi vào con đường tối tăm tội lỗi. Vậy muốn chuyển nghiệp chúng ta phải cố gắng chuyển hóa nội tâm của mình trước đã, rồi hành động và hoàn cảnh sẽ dần dần thay đổi theo sau.

Trong xã hội có nhiều người nhận thấy cuộc đời của họ không được may mắn, khổ nhiều hơn vui và thường gặp cảnh trái ý nghịch lòng. Vì tin sâu vào luật Nghiệp Quả nên họ công nhận rằng trong đời quá khứ họ ít làm việc phước mà tạo quá nhiều nghiệp bất thiện. Vì khao khát muốn chuyển nghiệp, họ đi chùa cầu nguyện sự gia bị của thần thánh. Họ cúng dường một mà muốn hưởng phước đức tới mười. Họ cũng chịu khó làm những việc thiện khác, nhưng nội tâm tham lam, ích kỷ vẫn còn nguyên vẹn. Đối với họ thì làm việc thiện vì muốn quả báo tốt cho chính họ chứ không phải tình thương chân thật đối với con người. Chính họ đã xây lâu đài phước thiện trên bãi cát vì nó không xuất phát từ nội tâm thuần thiện nào cả. Theo luật Nghiệp Quả thì dĩ nhiên đời sau họ sẽ gặp nhiều may mắn, nhưng trong họ bản chất tham lam, ích kỷ vẫn còn và chính bản chất tham lam ích kỷ này sẽ thúc đẩy họ làm các việc bất thiện khác.

Vậy tu tâm hay chuyển hóa nội tâm là cố gắng loại bỏ cho được lòng tham lam, tính sân hận và tật si mê…Bản chất của con người là tham ăn, tham uống, tham mặc, tham sống lâu, tham tiền, tham sắc, tham danh, tham lợi… Ai đụng đến chút tự ái là nổi điên và hễ thấy vật đẹp, cao quý thì muốn chiếm lấy. Đây là tâm trạng chung của con người vì tham, sân, si đã ăn sâu vào trong tiềm thức của chúng ta từ bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp. Do đó chuyển hóa nội tâm là phải can đảm từ bỏ dần dần cho được tánh tham, tật đố để tâm được sáng suốt. Một khi tâm được sáng suốt thì thân khẩu ý trở thành thanh tịnh và dĩ nhiên căn nghiệp sẽ chấm dứt.

Phật dạy tu thân là thân nầy không làm điều ác dù lớn hay nhỏ đều phải tránh xa. Còn điều thiện thì phải cố gắng hoàn thành. Còn tu giới là người Phật tử phải giữ tròn ngũ giới, đó là không được sát sanh, không được trộm cướp, không được vọng ngữ, không được uống rượu và không được tà dâm. Tuy nói tu tâm, tu thân và tu giới nhưng chủ yếu vẫn là tu tâm. Nếu chúng sinh tu tâm được viên mãn thì mọi nghiệp chướng không còn do đó nghiệp khổ sẽ chấm dứt và cuộc đời sẽ được an vui tự tai.

Đức Phật dạy nguyên nhân của mọi đau khổ là vô minh và ái dục, hay nói một cách khác chính lòng tham lam, sân hận, si mê là nguồn gốc của mọi tranh chấp, oan trái để rồi đem đến những sự lo âu sầu muộn và bất mãn. Con đường chuyển hóa nội tâm thiết thực là chúng ta phải biết giữ mình theo Giới, Định, Tuệ để có thể diệt trừ tham, sân, si thì đời sống sẽ được tự tại bởi vì tham thì phá giới, sân phá định, còn si thì phá trí tuệ.

Cứu cánh của đạo Phật là giúp chúng sinh giải thoát hoàn toàn và vĩnh viễn khỏi khổ, bằng cách tuyệt trừ mọi phiền não mà phiền não căn bản nhất chính là si mê hay còn gọi là vô minh. Muốn diệt trừ tận gốc vô minh, con người phải phát triển trí tuệ vì chỉ có ánh sáng của trí tuệ mới có đủ công năng xóa đi hết màn đêm bóng tối của si mê. Không phải hễ con người có thân là phải khổ, nhưng khổ là tại vì chúng ta nhận định sai lầm nhắm mắt chạy theo chủ kiến hay định kiến của mình.

Vì thế Chánh kiến giúp con người thấy biết đúng mà nhà Phật gọi là “Như thị” và từ đó làm nền tảng để phát triển trí tuệ. Thật vậy, có thấy biết đúng thì dòng tư tưởng mới trong sáng cho nên con người hãy suy tư chính chắn vì tư tưởng sẽ biến thành lời nói. Hãy cẩn thận với lời nói của mình vì lời nói, ví như mủi tên bắn đi rồi không lấy lại được, sẽ biến thành hành động. Hãy hành xử cẩn thận những hành động của mình vì hành động sẽ biến thành thói quen (tập khí). Và sau cùng, con người hãy nhìn lại những thói quen của mình vì thói quen kia sẽ biến thành nhân cách của mình đó. Cuộc đời có thanh thoát, nhẹ nhàng hay sóng gió chập chùng, phong ba bảo tố cũng bởi từ cái nhân cách hay lối sống của chúng ta vậy. Nói cách khác cũng vì vô minh bất giác, con người lầm lẫn nương theo thân, khẩu, ý mà tạo ra nghiệp (thiện, bất thiện) (Hành) và từ đó số phận của mình sẽ do nghiệp lực đẩy đưa (Thức).

Nhà bác học Marie Curie nói rằng: “Không có gì trong cuộc đời là đáng sợ (khó khăn) cả, một khi chúng ta (thực sự) hiểu được nó”. Do vậy, đạo Phật là đạo không làm khổ mình, không làm khổ người mà muốn thành tựu thì con người phải quay về sống với đạo đức nhân bản tức là cố gắng ly dục, ly bất thiện pháp.

Một số người nói rằng điều kiện của một đời sống hạnh phúc là có sức khỏe, có tiền tài và có địa vị trong xã hội, nhưng một đời sống hạnh phúc chân thật chưa chắc đã hoàn toàn dựa vào những điều kiện vật chất như thế. Chẳng hạn như một người mạnh khỏe lại dùng sức mạnh của mình làm những điều tội lỗi thì chẳng được ích lợi gì. Còn người giàu sang mà sống bỏn xẻn, ích kỷ, tham lam vô độ thì chính họ chẳng tìm được hạnh phúc cho chính mình mà còn làm hại đến kẻ khác. Người có địa vị lại lạm dụng quyền hành thì chỉ rước thêm oan trái oán thù mà thôi. Như thế thì tiền tài danh vọng chưa phải là yếu tố chính cho một đời sống hạnh phúc mà điều kiện tiên quyết để đem lại an vui là phải có tinh thần sáng suốt và lành mạnh. Được tinh thần sáng suốt lành mạnh nầy thì sẽ không còn bị dục lạc, oán thù hay mê loạn chi phối. Vì thế đức Phật lại dạy rằng:

- Người tùy theo thế tình thức là chạy theo tham cầu danh vọng. Khi được công danh hiển đạt, thì thân thể đã già yếu. Kẻ tham danh lợi ở đời mà không lo học đạo thì chỉ uổng công nhọc xác mà thôi. Ví như cây hương đốt, khi được người ta ngửi thấy mùi thơm thì thân hương đã hóa thành tro bụi, vì lửa nung đốt cháy liền thân hương vậy.

Tôn chỉ của đạo Phật là giúp chúng sinh giải thoát ra khỏi mọi hệ lụy của phiền não khổ đau để có cuộc sống an vui tự tại mà muốn đạt đến cứu cánh này thì chúng sinh phải biết buông xả. Vì thế trong Kinh Trung A Hàm (Majjhima Nikaya), Đức Phật đã tóm gọn cốt lõi của đạo Phật trong một câu thật ngắn gọn là ”Không được bám vúi vào bất cứ gì cả” mà Kinh Kim Cang gọi là “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”.

Thêm nữa, muốn chuyển hóa nội tâm được chu toàn thì trước hết chúng ta phải phá tan cái bản ngã của mình. Trong kinh A Hàm, Đức Phật dạy rằng một khi chúng ta chứng được “ngã không” nên khi làm việc lợi ích cho người thì làm với một tâm niệm vô tư, không dính mắc. Có nghĩa là khi làm việc thiện thì đừng nghĩ đến lợi lạc cho mình mà hướng tâm về sự lợi lạc cho chúng sanh do đó việc thiện đó sẽ mang nhiều thiện quả về sau.

Ví dụ như khi chúng ta đi chùa lạy Phật thì thường hay cúng dường chút ít tiền hay hoa quả, nhưng khi bái Phật thì chúng ta thường cầu nguyện cho con trai có vợ đẹp, con gái có chồng giàu sang, làm ăn mua may bán đắt, bà con thân quyến được bình an mạnh giỏi…Như vậy chúng ta đi chùa với tinh thần bản ngã là cầu lợi cho mình nên không đúng với lời Phật dạy. Mục đích tới chùa lạy Phật là để bớt tham thế mà chúng ta đi chùa lạy Phật lại càng tham hơn thì cái bản ngã mê lầm đó sẽ biến cuộc đời thêm đau khổ. Vì thế chúng ta nên làm việc phước đức với lòng vô ngã, tức là làm việc thiện mà không cần quả báo cho mình hay hướng lòng từ bi về người khác, thì Luật Nhân Quả chẳng những sẽ đền bù cho ta nhiều phước đức về sau hay ở đời sau mà còn tạo cho ta một nhân cách cao thượng và một tâm hồn trong sáng để tiếp tục hưởng phước thiện và làm việc thiện.

Vậy chuyển nghiệp là cố gắng giải thoát cái bản ngã vị kỷ thấp hèn để có một đời sống đạo đức xả kỷ, quên mình để sống trọn vẹn vì mọi người chung quanh.

Đời sống xả kỷ vị tha được coi là một đức hạnh cao đẹp nhất của con người. Cho dù chúng ta chưa chứng được trạng thái vô ngã thực sự, đó là không còn chấp có “Cái Ta” và “Cái của Ta”, nhưng từng giây từng phút, từng tâm niệm, chúng ta biết từ bỏ những lợi ích của mình để lo cho lợi ích của mọi người thì cái tự ngã đang từ từ bị tiêu diệt.

Đức Phật đã khẳng định rất rõ ràng rằng ta gieo nhân thì chính ta phải gặt quả và không có tha nhân nào, cho dù đó là Đức Phật hay Bồ Tát Quán Thế Âm có thể chuyển “quả” của chúng ta được. Nói cách khác, mình gieo nhân thì tự gặt quả lấy, hoàn toàn không có một tác nhân của Phật, Chúa Trời, Thần, Quỷ … can dự vô nhân quả của mình. Mình gieo nhân tốt, không cần sự cứu rỗi của ai cũng được sanh lên các cảnh giới an lành. Nếu mình làm chuyện bất thiện thì sau khi chết, nghiệp bất thiện nầy tương ứng với cảnh giới của những người bất thiện, khiến tâm thức của người ấy sanh về cảnh giới chịu khổ sở để trả quả báo ác độc chớ không có một vị thần nào đày ta xuống cõi âm ti, địa ngục cả.

Tuy nhiên, muốn lìa khổ được vui, đạo Phật dạy chúng sinh chuyển nghiệp tức là chuyển mê thành giác. Cơ quan phát ra và tạo thành nghiệp gồm có: thân, khẩu, ý. Trong 3 thứ nầy, quan trọng nhứt là ý . Ý nghiệp, là những suy tính, so đo phân biệt, Duy Thức Học gọi nó là “liễu biệt cảnh thức”. Ý là chủ động tạo nghiệp. Khi ý nghĩ điều lành, thì nó thúc đẩy cái miệng nói ra điều lành và cái thân làm điều lành. Ngược lại, khi ý nghĩ điều xấu ác, thì nó xúi giục cái miệng nói điều xấu ác hung dữ và thân hành động tàn bạo độc ác. Chính ba nghiệp này là động cơ tạo thành thiên đường hay địa ngục ở thế gian. Tất cả mọi khổ vui của con người, từ cá nhân, đến đoàn thể, nói rộng ra là tất cả nhân quần xã hội khắp năm châu bốn biển, đều do thân, khẩu, ý tạo ra cả. Cho nên, trong nhà Phật rất chú ý đến 3 nghiệp quan trọng nầy. Sự tu hành của người Phật tử, Phật dạy không cần tu đâu xa, chỉ cần tu chuyển đổi ở nơi 3 nghiệp nầy. Một người biết tu chuyển nghiệp, thì chính người đó được lợi lạc trong hiện tại và mai sau. Gia đình nào biết tu chuyển nghiệp thì gia đình đó được hạnh phúc, hòa thuận, êm ấm. Và từ đó, lan rộng ra xã hội được trật tự, an bình, hạnh phúc, lợi lạc, đó là mục đích mà người Phật tử hướng đến.

Thế thì tu là chuyển nghiệp bởi vì nếu nghiệp không chuyển được thì không ai tu làm gì. Chuyển là chuyển xấu thành tốt, chuyển ác thành thiện, chuyển tà thành chánh, chuyển dở thành hay, chuyển mê thành giác. Sở dĩ nói chuyển nghiệp mà không nói sửa nghiệp, bởi chữ chuyển ngầm ý nói lên bên trong nội tâm hơn là nói cái bên ngoài. Chuyển đổi từ ý niệm xấu để trở thành ý niệm tốt. Do đó, nhà Phật nói chuyển nghiệp mà không nói sửa nghiệp là vậy.

Trở lại câu chuyện của ông Joe Berti ở trên. Đáng lẽ nhân duyên quả báo đưa đẩy ông và gia đình đến Boston để trả những nghiệp quả mà ông đã tác tạo từ kiếp trước, nhưng vì ông có tâm hồn thiện, hành động từ tâm cứu giúp những người kém may mắn nên những phước đức quá to lớn đó đã chuyển hết những tội nghiệp ngày xưa khiến ông và bà vợ thoát khỏi tại họa hiểm nghèo. Đây là chuyện có thật bởi vì đạo Phật là đạo nhân duyên nghĩa là trong quá khứ cho dù con người vì sống trong vô minh bất giác tạo nên bao nhiêu tội nghiệp (nhân). Nhưng nếu bây giờ biết thức tĩnh, dừng lại, tu tâm dưỡng tánh, tránh xa ác nghiệp, tạo nhiều thiện nghiệp thì những ác nhân đó không có cơ hội tác tạo với ác nghiệp để gây ra cảnh khổ cho mình. Nhân mà không có duyên thì tuyệt đối không bao giờ thành quả. Cũng như gạo (nhân) mà không có nước, không nấu (duyên) thì không bao giờ thành cơm được (quả).

Có người lý luận ngày xưa Tôn giả Mục Kiền Liên bị bọn ngoại đạo lõa thể ném đá cho đến chết là để trả hết những tội nghiệp mà kiếp trước Tôn giả làm nghề đánh cá đã giết hại vô số chúng sinh? Dựa theo tinh thần Phật giáo, Tôn giả là người tu đắc đạo, chứng Thánh quả A la hán, tâm hoàn toàn thanh tịnh thì tất cả chủng tử hữu lậu đã chuyển thành chủng tử vô lậu nghĩa là tất cả tội nghiệp đã biến mất. Thế thì còn tội gì để Tôn giả phải trả? Còn chuyện sống chết của người “đắc đạo” là do nhân duyên chớ không phải do tội nghiệp. Cũng như khi nhân duyên độ sinh hết thì đức Phật nhập Niết bàn thế thôi. Nên nhớ A la hán là quả vô sanh vì thế từ đức Phật cho đến tất cả các vị A la hán khác không còn tái sanh nữa cho nên không có vấn đề các Ngài tái sinh trở thành vị này vị kia để độ sanh được. Do đó, cứu cánh của đạo Phật là giải thoát chớ không phải tái sinh.

Để làm sáng tỏ vấn đề, có người hỏi đức Phật rằng:

- Bậc A-la-hán còn hay không còn sau khi chết?

Đức Phật trả lời rằng:

-Bậc A-la-hán đã giải thoát khỏi 5 uẩn thật sâu thẳm, khó lường như đại dương. Bảo rằng Như Lai có tái sinh sẽ không thích hợp cho trường hợp này. Bảo rằng Như Lai không tái sinh, cũng không phải không tái sinh đều không thích hợp cho trường hợp này.

-Không thể nói rằng một bậc A-la-hán còn tái sinh, vì tất cả những dục vọng tạo điều kiện tái sinh đều được đoạn trừ, cũng không thể nói rằng bậc A-la-hán bị hủy diệt, vì không có cái gì để hủy diệt cả.

Đức Phật khi còn tại thế đã cực lực chống đối lối cúng tế nghi lễ phức tạp của Bà la môn và tôn thờ thần thánh một cách mù quáng. Đó là một trong những nguyên nhân đạo Phật ra đời để thổi một luồng sinh khí mới vào trong xã hội phong kiến, đẳng cấp, kỳ thị của Ấn độ lúc bấy giờ. Ngài xiễn dương tình thần khách quan bình đẳng vì ai cũng đều có máu đỏ và nước mắt cùng mặn (Nguyên thủy) hay ai ai cũng đều có Phật tính (Đại thừa) cho nên thay vì kỳ thị, xua đuổi con người nên gần lại với nhau, cùng nhau xoa dịu những mãnh đời bất hạnh. Nhân loại kính phục đức Phật chẳng những Ngài là đấng vô thượng đạo sư mà cuộc sống thanh bạch của Ngài là một tấm gương sáng chói rạng ngời, là mẫu mực cho những ai muốn đi trên con đường giải thoát giác ngộ. Đức Phật y bát bình thường giản dị, đi chân đất đầu đội trần. Ngài nhỗ tận gốc rễ phong kiến, giai cấp và bỏ công danh phú quý như bỏ đôi dép rách.


Do đó một Phật tử chân chính là người thấm nhuần giáo lý đức Phật, rồi sau đó quay lại sống với mọi người bằng lòng từ bi vô ngã. Phật pháp là con đường để sống, là ánh sáng trí tuệ hướng dẫn mọi người sống đúng với chân lý và chắc chắn sẽ mang lại an vui tự tại cho mình và cho tất cả mọi người.

Học Phật trước tiên là học làm người nghĩa là phải vun bồi. Tuy nhiên đời sống đạo đức nhân bản thì thân tâm mới được tự tại cho nên Phật mới dạy Bát Chánh đạo để chuyển hóa cuộc sống dần dần từ phàm đến thánh. Ngay cả Lục Tổ Huệ Năng cũng nói rằng:”Phật Pháp tại thế gian, không lìa thế gian giác” là như vậy. Còn lìa thế gian mà tìm Bồ Đề Niết bàn chẳng khác tìm lông rùa, sừng thỏ mà thôi.

Khi nói về thiện ác, Lục Tổ dạy rằng:

Ngột ngột bất tu thiện nghĩa là đừng đặt vấn đề thiện vì bất cứ việc gì không trái với chơn tánh thì con người gán cho nó cái tên là thiện, chớ chẳng có gì thật là thiện ác cả.

Đằng đằng bất tạo ác nghĩa là chuyện ác ở đâu cũng có chỉ có điều là mình không làm vì thế nếu không làm ác thì tự nó thành thiện chớ chẳng có cái gì là thiện.

Tịch tịch bất kiến văn nghĩa là không còn chấp nơi thấy, nghe, hay, biết thì có thanh tịnh nhẹ nhàng tức là thấy thì thấy tất cả mà như không thấy gì hết. Nghe, ngửi, nếm, xúc, biết cũng thế. Nói thế thì người chứng đạo cũng biết vui, biết đẹp, biết xấu, biết dở, biết tất cả đấy chứ, nhưng họ không đưa cái biết ấy vào tâm (vô trước là không chấp) để rồi sanh ra tham luyến cho nên đối với họ cái gì cũng biết nhưng xem như không biết gì hết.

Đản đản tâm vô trước nghĩa là tâm thênh thang mở rộng như trời cao đất rộng, không còn dính mắc, chấp trước. Trời thì che chở bao dung cho tất cả mà không có ý niệm che chở riêng cho bất cứ một chủng loại nào. Đất thì bao dung tất cả cho dù con người có đổ lên đất những thứ hôi tanh nhơ bẩn hay hương hoa thơm ngát thì đất cũng an nhiên, không giận, chẳng mừng.

Vì thế Phật giáo nhập thế là phải từ cái thế gian đầy ô nhiễm này mà tự mình thanh lọc thân tâm, quán biết đời là giả tạm, cố gắng buông bỏ mỗi ngày một chút thì hoa sen nơi chính mình sẽ vươn lên và nở rộ. Cho dù đóa sen còn nằm trong bùn, sắp vọt ra khỏi bùn, vươn lên khỏi mặt nước hay đã nở rộ thì tất cả đều mang theo bên trong mình một tiềm năng để trở thành những đóa sen tươi đẹp, màu sắc rực rỡ và hương thắm dịu dàng.

Tóm lại, đức Phật khai mở một tôn giáo lấy lý trí làm nền tảng, một tôn giáo khoa học, một tôn giáo dựa trên tinh thần vô ngã vị tha, một tôn giáo vô tín ngưỡng cho nên toàn bộ giáo lý Phật Đà dựa trên giáo lý “Duyên Khởi” nghĩa là tất cả hiện tượng vật chất hữu vi trên thế gian này từ nhỏ như vi trần cho đến to lớn như biết bao hành tinh trong muôn vàn dãy Thiên hà đều là do trùng trùng duyên khởi tức là vật thể làm nhân làm duyên, nhân này quả nọ, tác tạo mà thành chớ không có bàn tay mầu nhiệm nào nhúng vào. Từ đó tam pháp ấn (xương sống) của nhà Phật ra đời, đó là “vô ngã, vô thường, khổ” (Nguyên thủy) hoặc “vô ngã, vô thường, Niết bàn” hoặc là “vô ngã, vô thường, khổ, không” (Đại thừa). Nếu đã là Duyên Khởi thì làm sao có tín ngưỡng được?

                                                                        Nguồn: www.lesyminhtung.net

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2016

VỖ VÀO LÕM KHUỶU TAY: TUYỆT CHIÊU CỨU BỆNH NHÂN LÊN CƠN ĐAU TIM.



Vỗ vào lõm khuỷu tay: Tuyệt chiêu cứu bệnh nhân lên cơn đau tim
 

 Không chỉ cứu sống người đang bị lên cơn đau tim, vỗ vào lõm khuỷu tay còn là cách phòng bệnh tim mạch và huyết áp hiệu quả.

Vào cuối năm 2011, dư luận Trung Quốc không khỏi xôn xao về trường hợp một cụ ông 70 tuổi bị lên cơn đau tim trong đám cưới của con gái.

Theo lời kể của các nhân chứng, khi cơ thể cụ ông cứng ngắc, thở rất khó thì một vị khách mời trong đám cưới đã nhanh chóng vỗ mạnh vào phần lõm xuống ở khuỷu tay nạn nhân.

Vài phút sau đó, cụ ông mới dần tỉnh lại và lập tức được đưa vào bệnh viện.

Tại phòng hồi sức cấp cứu, bác sĩ có hỏi người nhà: "Ai đã vỗ vào lõm khuỷu tay của bệnh nhân?"

Sau khi được người nhà thuật lại tình hình lúc đó, vị bác sĩ này nói: "Vỗ vào đây là đúng, vừa có thể ngăn chặn tắc mạch máu, lại vừa có tác dụng khai thông huyết mạch. Nếu không, chỉ e rằng xe cứu thương chưa kịp tới, tình huống xấu đã xảy ra".

Câu chuyện cụ ông may mắn được cứu sống nhờ phương pháp vỗ vào chỗ lõm khuỷu tay đã nhanh chóng trở thành chủ đề xôn xao trong giới y học và dư luận nước này.

Hiển thị


Trong "Đạo gia", hành động vỗ vào khuỷu tay được gọi bằng cái tên "Điều thương pháp". (Tranh minh họa).

Kỳ thực, đây là cách cấp cứu đã được cổ nhân Trung Hoa vận dụng từ ngàn đời xưa. Trung y có câu: "Hàn ngưng trí ứ, huyết đi chịu trở", đại ý là "lạnh khiến cho máu huyết ứ đọng và khó lưu thông".

Theo đó, máu huyết của con người có tính chất tương tự như dầu đậu phộng, gặp lạnh sẽ ngưng tụ lại, gặp nóng sẽ nhanh chóng trở lại trạng thái lưu thông bình thường.

Trong khi đó, chỗ lõm ở khuỷu tay là nơi có màng ngoài tim và kinh tâm nối thẳng với tim.

Vỗ mạnh vào bộ phận này sẽ tác động vào hai kinh lạc kể trên, giúp cho khí huyết lưu thông, kích thích cơ thể ấm lên và đổ mồ hôi nhằm bài tiết chất độc, đồng thời làm "tăng dương khí", khai thông mạch máu ứ tắc, đồng thời ngăn ngừa tắc động mạch.

Bởi vậy, việc vỗ mạnh vào khuỷu tay để sơ cứu cho người trụy tim như trường hợp cụ ông kể trên không phải là việc làm thiếu căn cứ, thậm chí còn đúng với nhiều nguyên lý y khoa.

Hiển thị


Vết bầm tím ở chỗ lõm vùng khuỷu tay sau khi vỗ mạnh cảnh báo về tình trạng bất thường của tim. (Ảnh minh họa).

Các bác sĩ cũng lưu ý trong lúc dùng biện pháp cấp cứu này, nếu thấy xuất hiện vết bầm tím ở chỗ lõm vùng khuỷu tay nạn nhân, chúng ta cần tiếp tục vỗ cho tới khi chuyển sang màu đỏ mới ngừng lại.

Mặc dù chỉ là động tác đơn giản, nhưng hành động vỗ vào chỗ lõm ở khuỷu tay rất dễ áp dụng trong các trường hợp nguy cấp, không cần học qua trường lớp đào tạo, thậm chí còn có tác dụng phòng ngừa các bệnh tim mạch và cao huyết áp, giảm nguy cơ phát sinh đột quỵ.

                                                                                     Theo Eacast Health

Chủ Nhật, 9 tháng 10, 2016

4 THÓI QUEN VÀO BUỔI SÁNG TÀN PHÁ SỨC KHỎE CỦA BẠN

 Đứng dậy vội, đi quá mạnh, dùng nhiều sức khi vừa mới thức dậy khiến huyết áp thay đổi, thói quen bỏ bữa sáng hay không uống nước đều ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe.
Buổi sáng sớm là thời điểm nhạy cảm khi cơ thể vừa trải qua giấc ngủ dài, huyết áp tương đối thấp và mọi tác động từ bên ngoài đều có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của bạn. Thói quen không tốt thường ngày như không thích uống nước, bỏ bữa sáng hay ngồi bật dậy khỏi giường vội vã, có thể gây hại dài lâu cho cơ thể mà bạn không ngờ tới, theo Style Craze. Sau mỗi bức ảnh này là những lời khuyên giúp bạn khắc phục các thói quen không tốt cho cơ thể này.

Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2016

HỘI NGỘ




                      HỘI NGỘ
                       (Thân tặng Xuân Thành - Thùy Dung)
 
Hẹn ngày gặp lại thú điền viên.
Tâm sự cổ kim lạc cảnh tiên.
Nhớ thuở miệt mài khi giảng dạy,
Theo thời rộn rã lúc điều nghiên.
Quản Di tri kỷ vui tình đẹp,
Bảo Thúc cố nhân sáng bạn hiền.
Trôi chảy dòng đời luôn giữ mãi,
Bên nhau trân trọng phút bình yên.
 
                                Minh Đạo