Thứ Hai, 24 tháng 10, 2016

PHƯỚC BÁU THẾ GIAN VÀ PHƯỚC ĐIỀN TAM BẢO

bat-com-cung-duong

Mỗi người trong chúng ta, ai sinh ra trong cuộc đời nầy cũng đều có một nghiệp quả khác nhau. Có kẻ sinh ra làm vua, làm thái tử, làm công chúa. Có người sinh ra làm quan, làm tổng thống, làm thủ tướng, làm người lãnh đạo, làm nhà tư bản, nhà giáo dục, bác học, bác sĩ v.v… Nhưng cũng có lắm người khi được sinh ra lại phải bị rơi vào trong những gia đình thiếu cơm ăn áo mặc, rách nát tang thương. Cũng có lắm người khi sinh ra đã không có đủ mắt, tai, mũi, lưỡi, tay chân v.v…
Quả thật trong cuộc đời nầy có muôn hình vạn trạng, không sao có thể kể hết ra được. Nhưng tất cả đều có chung một điểm là lúc sinh ra chỉ là kết quả của một chuỗi dài nhân quả của nhiều kiếp trước đã định sẵn rồi mà ta không biết và tuyệt nhiên chẳng có cha mẹ nào hay con cái nào có thể định đoạt sẵn cho sự chào đời ấy.

Thế gian nầy khởi đi từ 50% là thiện và 50% là ác. Nếu con người từ điểm thiện căn bản ấy tiếp tục làm thiện nữa thì kết quả là con người sẽ được sanh vào thế giới cao hơn; nhưng nếu con người vẫn mãi mê trong danh lợi, dục lạc và quên đi con đường tu tỉnh thì cũng từ 50% thiện ấy, con người sẽ rơi vào những con đường xấu ác. Tất cả đều do cái nhân chính là ta tự tạo ra; chứ không phải do cha mẹ hay một đấng thiêng liêng nào khác. Ai lại không muốn cho mình danh giá. Có ai trong chúng ta lại không muốn giàu sang phú quý, thế mà ta vẫn nghèo hèn, khốn khổ. Không ai trong chúng ta mong mỏi khi sinh ra phải làm kẻ tôi đòi, hạ liệt. Thế mà hơn 6 tỉ người trên thế giới nầy, tất cả các chỉ tay đều không giống nhau; nên nghiệp lực của mỗi người cũng chẳng giống nhau, ngay cả như anh em sinh đôi cùng cha cùng mẹ mà phước báu của mỗi người đều khác nhau.

Sinh ra được làm thái tử, công chúa hay những người lãnh đạo quốc gia, tất cả đều là do phước báu nhiều đời trước của những người nầy đã gây tạo và bây giờ họ chỉ hưởng những gì mà họ đã trồng trong quá khứ mà thôi. Họ đã làm phước, họ đã bố thí, đã cúng dường Tam Bảo, đã giúp đỡ người, giúp đời, giúp dân, giúp nước v.v… Cái nhân ấy trong quá khứ cứ tích tụ mãi trong một hay nhiều đời để trở thành một số tiền lời lớn mà họ đã để dành, khi họ trở lại làm người, chính họ được thừa hưởng những phước báu mà họ đã tu tạo từ trước. Còn những người sinh ra trong đời nầy mặc dầu cố gắng hết sức trong mọi công việc; nhưng nghèo đói vẫn hoàn nghèo đói; bởi lẽ những người ấy vay nợ ngân hàng nghiệp quá nhiều trong quá khứ, bây giờ họ phải làm để trả nợ cũ trong nhiều đời. Nợ chưa trả hết thì làm sao có thể có tiền lời cho được.

Nhiều người sinh ra thiếu những cơ phận trong người; bởi vì trong quá khứ đã liên hệ với những nghiệp sát, đạo, dâm v.v… nhưng cũng có lắm người khi mới sinh ra lại đẹp đẽ lạ thường, khiến cho ai trông thấy cũng đem lòng mến mộ. Có mỹ nhân, hoa khôi, á hậu, đồng thời cũng có những tướng cướp vang bóng một thời. Có người khi sinh ra đã ăn chay, có người muốn đi xuất gia tầm sự giải thóat; chứ không muốn vướng bận thê triền, tử phược… Có người sinh ra thông minh trí tuệ mà cũng có lắm người bị ám muội vì vô minh che lấp trong nhiều đời. Có người cơm không đủ ăn, áo không đủ ấm; nhưng ngược lại cũng có nhiều người của cải dư thừa, kẻ ăn người ở, đâu đó đủ đầy. Nhiều người cho rằng ông trời bất công; nhưng nói như vậy là chưa hiểu nhân quả của nhà Phật. Đức Phật dạy rằng “nhân nào thì quả đó“, „hình ngay thì bóng thẳng, hình vạy thì bóng cong“.

Rõ ràng là như vậy. Không ai có thể làm cho ta tốt hơn, mà cũng không có ai có thể làm cho ta xấu hơn; ngoại trừ chính chúng ta phải tự chịu trách nhiệm về những hành vi tạo tác của mình trong quá khứ liên hệ đến hiện tại và dẫn mãi đến tương lai. Đây là điểm chính của nhân duyên sanh và nhân quả nhiều đời vậy. Khi hiểu được như vậy thì chúng ta cố gắng vun trồng cội phước từ ngay bây giờ để tích lũy vốn về sau. Có như thế chúng ta mới khỏi bị điểm trừ của nghiệp quả. Có nhiều người làm từ thiện giúp kẻ bần cùng cơ nhỡ. Vì biết rằng trong đời nầy “đâu có ai giàu ba họ và cũng chẳng có ai khó ba đời“. Giúp người cũng chính là giúp mình vậy. Hiểu được như vậy thì tất cả những việc làm phước, bố thí, cúng dường v.v… chúng ta luôn hoan hỷ, không có gì để than phiền hay trách móc. Vì mình làm cho chính mình mà. Chính người đi bố thí phải cảm ơn người nhận của thí ấy. Vì lẽ nếu không có người nhận thì mình bố thí cho ai. Chúng ta cũng phải cảm ơn những người chửi mắng ta. Vì lẽ nếu không có họ thì làm sao ta biết sự nhẫn chịu của mình đã đạt đến mức nào. 

Cho nên Đức Phật đã dạy trong kinh Tạp A Hàm rằng: "Sức mạnh của trẻ thơ là tiếng khóc. Sức mạnh của người trí là dùng ánh sáng trí tuệ để xét soi. Sức mạnh của người học rộng là dùng sự hiểu biết của mình để phán đoán sự việc. Sức mạnh của đàn bà là sự hờn dỗi. Sức mạnh của người tu là sự nhẫn nhục và sức mạnh của người ngu là sự lệ thuộc vào sự khen chê của người khác“…
 Nội từng ấy việc, chúng ta thử thẩm định lại mình ở vào hạng người nào. Các bậc A La Hán lậu tận đã hết; nên các Ngài tuy còn sống; nhưng các Ngài đã có thể khẳng định rằng: “Ta, sự sanh đã hết, phạm hạnh đã lập, những việc cần làm đã làm xong và biết chắc chắn rằng kiếp sau ta không còn tái sanh nữa“.Các Ngài thì dõng mãnh và dứt khoát như vậy. 

Còn chúng ta thì sao? Làm việc gì cũng bị sự chấp ngã và chấp thủ chi phối. Do vậy vẫn mãi còn lênh đênh trong biển khổ luân hồi, chưa biết bao giờ mới ra khỏi. Có nhhiều người Phật Tử Nam Tông ở các nước Miến Điện, Thái Lan, Tích Lan, Lào, Cam Bốt v.v… họ hiểu rất rõ về phước báu; nên họ đã tu tạo chùa tháp, cúng dường chư Tăng, hộ trì Tam Bảo; nên những nơi nầy Tam Bảo được hưng long cả hơn 2.500 năm nay và chắc chắn rằng sẽ còn dài lâu hơn như thế nữa. Có người đến ngày sinh nhật tập trung con cái về chùa phát tâm làm việc thiện, tiền bạc con cháu biếu tặng đem hiến dâng vào cửa chùa những tịnh tài ấy, nhằm vun bồi phước báu về sau. Bây giờ bên Bắc Tông, một số quý Phật Tử thấy những việc làm nầy có ý nghĩa; nên những ngày sinh nhật của chính mình hay những thành viên trong gia đình của mình cũng muốn tu tạo phước báu bằng cách về chùa làm lễ và muốn hộ trì chùa bằng cách mang những tịnh tài có được trong ngày sinh nhật dâng lên cúng dường, hộ trì Tam Bảo và để tạo nhân duyên thù thắng cho mỗi thành viên trong gia đình mình. 

Có nhiều người lý luận rằng: Chư Tăng Ni là những người xả tục xuất gia; nên để cho họ chuyên tu, còn vấn đề vật chất người cư sĩ có thể cáng đáng được; nên để cho Phật Tử tại gia lo liệu. Nhiều vị có điều kiện còn lập chùa, tháp xong xuôi, sau đó cung thỉnh chư Tăng Ni về Trụ Trì, giảng pháp. Còn việc tứ sự cúng dường đều do cư sĩ lo hộ trì. Đây là những hình ảnh đẹp mà chúng ta nên thực hành. Vì lẽ người xuất gia không có khả năng tạo ra kinh tế dễ dàng như người tại gia. Trong khi đó người tại gia vẫn còn vướng bận gia đình nên cũng không thể có toàn thời gian để lo cho Tam Bảo như người xuất gia được. Nếu cả hai bên đều cộng tác hỗ tương như vậy thì Đạo Phật sẽ được phát triển mạnh mẽ và dài lâu.

Đức Phật một hôm đứng trên núi cao nhìn xuống đồng bằng, thấy những người nông phu đang làm ruộng và họ chia những thửa ruộng ra làm nhiều mảnh khác nhau. Ngài thấy xong, cho gọi các Đệ Tử lại và dạy rằng: “Từ đây về sau những chiếc y mà chư Tăng Ni đắp hằng ngày đều nên kết thành bằng nhiều tấm vải thô khác nhau, giống như những thửa ruộng kia và đây chính là nơi mà người tại gia có thể gieo trồng phước báu vào“.Lời dạy ấy vẫn còn đây. Tuy rằng ngày nay y áo của chư tăng ni theo mỗi trường phái đều có sự thể hiện khác nhau; nhưng trên những mảnh y ấy không thiếu những mảnh ruộng phước như ngày xưa mà Đức Phật đã dạy.

Có hôm Ngài hỏi các vị đệ tử đi khất thực cùng với Ngài rằng: “Cả hai con bò đang đi cày, gồm bò trắng và bò đen. Vậy con nào khổ hơn?“. Có vị trả lời rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Con bò đen khổ hơn con bò trắng; hoặc hai con đều khổ như nhau“. Cuối cùng cũng có Thầy Tỳ Kheo trả lời rằng: “Chính cái ách nó làm cho hai con bò kia khổ“. Đức Phật từ tốn giải thích rằng: "Thật ra con bò bị khổ, cái ách không khổ mà do chính cái ý dục của con người tạo ra những loại khổ kia, khiến cho con người vì danh sắc mà phải chạy theo nó. Phàm những gì có hình tướng đều bị vô thường chi phối, mà đã là vô thường thì phải khổ, đã khổ thì đều do không chi phối, mà cái nhân chính của không là vô ngã“.Thế nhưng con người bị vô minh che lấp; nên tạo ra những hành động. Những hành động ấy là do sự hiểu biết, rồi tạo ra những hình tướng. Nếu vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì danh sắc diệt v.v… cứ như thế thẩm thấu qua 12 nhân duyên và bản thể của sự vật; nếu con người thực chứng được điều nầy thì con người sẽ hết khổ; chứng được quả vô thượng bồ đề. Tuy nhiên quả ấy vẫn còn xa; nếu con người không chấp nhận những thực tế đang xảy ra nhan nhãn khắp nơi trên quả địa cầu nầy.

Ngay cả Đức Phật cũng cần đến phước đức nữa, như qua câu chuyện xâu kim cho Ngài A Na Luật thì chúng ta sẽ rõ. Một hôm Ngài A Na Luật ngồi xâu kim; nhưng vì mắt bị mờ; nên hỏi lớn tiếng lên rằng: "Có ai đó có thể xâu giùm kim cho ta để được phước đức không?" Đức Phật đứng gần đó trả lời rằng: “Như Lai sẽ xâu cho Ông“. Ngài A Na Luật thưa: “Như Lai đâu cần phước đức nữa“. Đức Phật trả lời Ngài A Na Luật rằng: “Chính Như Lai cũng cần phước đức“. Chúng ta nghĩ sao về câu chuyện nầy? Nó không phải là một mẩu chuyện ngụ ngôn hay truyền thuyết, mà nó là một bài học sống động cho cả người tại gia lẫn xuất gia. Vì lẽ phước đức ai ai cũng phải cần đến.

Ngài Tulku Thondup người Tây Tạng hiện đang ở Hoa Kỳ, Giáo Sư Đại Học Havard, tác giả tập sách “Peaceful Death, Joyful Rebirth“ mà tôi và Thượng Tọa Nguyên Tạng dịch là: “Chết an lạc, tái sanh hoan hỷ“ đã được nhiều người đọc. Trong sách ấy Ngài định nghĩa về công đức và phước báu như thế nầy: “Những giọt nước mưa từ hư không rơi xuống mặt đất, nước ấy sẽ chảy vào ao, rồi hồ. Tiếp đó nước sẽ chảy vào sông và cuối cùng chảy ra biển lớn. Trong biển cả mênh mông kia chứa rất nhiều nước; nhưng sẽ không thiếu những giọt nước lúc ban đầu“. Việc nầy Ngài muốn nhắn nhủ đến chúng ta những gì?

Mỗi một lạy mà chúng ta đảnh lễ trước tôn tượng của chư Phật và chư vị Bồ Tát cũng giống như những giọt nước mưa ban đầu ấy; hoặc giả khi chúng ta đi chùa, mang cúng Phật một cành bông hay đĩa trái cây; hoặc giả đốt cúng Phật một cây nhang thơm, nhẫn đến cúng dường cho việc xây chùa, đắp tượng, đúc chuông hay làm những công đức giúp người trong cơn hoạn nạn, khó nghèo; hoặc giả xây trường học, cầu cống v.v… tất cả những việc nầy là những điều có thể tạo nên biển công đức đại dương như nước trong biển cả mênh mông kia. Do vậy chúng ta không sợ chúng ta dư thừa phước báu, mà chỉ sợ rằng chưa đủ phước đức mà thôi. Ngược lại việc tạo tội, dầu là vô tình hay cố ý, chúng ta không thấy, không nghe, chẳng biết; nhưng tội ấy dần tăng, khiến cho phước báu của chúng ta tăng trưởng không kịp; nên nỗi khổ vẫn cứ mãi chất chồng và con người vẫn mãi bị vòng luân hồi sanh tử chi phối.

Từ những câu chuyện thực tế bên trên, nếu chúng ta tự suy gẫm, gạn lọc cũng như biết hỗ thẹn cho những ác nghiệp lâu nay mà chúng ta đã tự tạo trong nhiều đời, nhiều kiếp, cố gắng buông bỏ những điều xấu, thực hành những niệm thiện lương, cứu người, giúp đời v.v… thì chính đây là những nhân tố khả dĩ giúp ta có được số tiền lời đáng kể, để một mai chúng ta có đi đầu thai ở chỗ nào đi chăng nữa, thì chúng ta cũng có vốn luyến để tiêu xài. Người biết tu tập là người biết bảo hộ bởi chính mình, không nên thấy người khác tốt hay xấu, làm hay không làm, mà hãy tự nhắc nhở mình là nên làm những gì lợi lạc cho chính bản thân của chúng ta, thì đó mới là điều đáng nói.

Khuyến tấn người khác cùng làm việc thiện; đó chính là những thiện hữu tri thức của chúng ta. Chúng ta nên gần gũi những người nầy, vì gần họ lâu ngày cũng giống như đi vào trong sương mai. Tuy sương không làm cho ta ướt áo; nhưng sương ấy sẽ thấm dần vào da thịt của chúng ta. Cũng như thế, nếu ta vào rừng trầm, tuy không lấy trầm đi; nhưng mùi trầm vẫn thấm nhuộm vào thân ta. Ngược lại, nếu chúng ta chỉ muốn gần gũi những ác tri thức, chẳng khác nào ta đi vào chợ cá. Tuy ta không ăn cá, không mua cá; nhưng mùi tanh của cá làm cho áo ta mặc bị tanh lây. Do vậy chúng ta cần gần gũi những bậc thiện hữu tri thức để phước báu được tăng trưởng nhiều hơn và không nên gần gũi những bạn ác hay “cản duyên thiện sự“ thì tâm lẫn thân của ta chẳng được lợi ích gì.

Mong rằng người Phật Tử chúng ta sẽ ý niệm được như vậy.
                                                                               Thích Như Điển

MỐI DUYÊN NỢ GIỮA CON CÁI VÀ CHA MẸ TRONG KIẾP NÀY

Kết quả hình ảnh cho duyên nợ vợ chồng kiếp trước


Mối nhân duyên của cha mẹ và con cái trong kiếp này cũng là do những duyên nợ trong những kiếp trước mà thành.

           Người ta nói rằng, được gặp nhau thoáng qua trên đường cũng là vì có duyên. Vậy nên, không ngẫu nhiên mà trở thành người thân của nhau và sống cùng một mái nhà. Mọi chuyện xảy đến là vì những duyên nợ, những ân ân oán oán từ các kiếp trước mà thành. Mối nhân duyên giữa con cái và cha mẹ cũng là không tránh khỏi quy luật nhân quả này.


Ở một ngôi làng kia có hai vợ chồng nông dân nọ, họ mãi mới sinh được một cô con gái. Nhưng đứa con gái này vừa chào đời đã có nhiều bệnh tật, thường xuyên ốm yếu. Cũng chính vì chỉ có một đứa con mà lại đau ốm liên miên nên hai vợ chồng rất nuông chiều đứa con này, đứa trẻ muốn gì liền được nấy.

Vì để chữa bệnh cho con gái, tiền của và tài sản trong nhà lần lượt ra đi. Vào năm người con gái tròn 18 tuổi, tài sản trong nhà chỉ còn lại một con ngựa duy nhất. Một ngày, cô gái chỉ vào con ngựa và nói: “Con muốn ăn thịt ngựa, cha mẹ hãy làm thịt con ngựa này đi”.

Hai vợ chồng người nông dân nhìn con ngựa khỏe mạnh, là tài sản duy nhất trong nhà, giúp làm việc đồng áng nên không nỡ lòng giết nó. Nhưng nhìn cô con gái duy nhất đang nằm trên giường thoi thóp thì trong lòng lại thấy đáng thương.

Trong lúc hai người họ còn đang phân vân thì cô con gái kia nhắc thêm lần nữa: “Con đang rất muốn ăn thịt ngựa. Cha mẹ không giết thịt con ngựa này đi thì con sẽ chết mất”.

Hai vợ chồng thấy con gái nói như vậy thì luống cuống hoảng loạn, liền mang con ngựa ra giết thịt. Sau khi làm thịt con ngựa, vợ chồng họ làm món hầm cho con gái ăn. Nhưng thật không ngờ, chỉ nửa canh giờ sau khi ăn, cô con gái nằm trên giường mà chết.

Hai vợ chồng người nông dân gào khóc thảm thiết. Hàng xóm láng giềng đến an ủi động viên nhưng cũng không thể làm vơi đi nỗi đau mất con trong lòng họ.http://tinhhoa.net/wpcontent/uploads/2014/08/BcKCN8.jpg

Con gái chết đi là một sự mất mát rất lớn đối với hai vợ chồng tội nghiệp. Mặc dù họ biết rằng, từ khi con gái ra đời đều là mang đến vô số họa nạn, đến mức mà ngay cả tiền làm tang chôn cất cũng không còn. Nhưng vì thương con, vợ chồng họ cũng không còn thiết sống, cả ngày thẫn thờ.

Thấy thương cho tình cảnh của hai vợ chồng, một người đàn ông trong làng đã tìm đến nhà nói với họ rằng: “Ở ngôi chùa phía nam của ngọn núi kia có một lão hòa thượng. Nghe nói ông ấy có thể giải phá được rất nhiều chuyện ly kỳ. Hai người thử lên núi tìm gặp lão hòa thượng để hỏi chuyện xem”.http://tinhhoa.net/wpcontent/uploads/2014/08/BcKCN8.jpg

Thế là, hai vợ chồng người nông dân này trèo đèo lội suối tìm đến gặp lão hòa thượng để thỉnh giáo. Sau khi kể hết sự tình về con gái từ khi ra đời đến lúc mất đi, người chồng cất lời hỏi: “Thưa thầy, không biết nhân duyên kiếp trước của vợ chồng con và đứa con gái này là như thế nào ạ?”

Lã hòa thượng nghe xong không nói gì mà nhắm mắt lại ngồi thiền nửa ngày. Sau đó, ông chậm rãi nói: “Ở kiếp trước, thí chủ còn nợ con của thí chủ một khoản nợ nên kiếp này phải hoàn trả. Hai người có muốn biết kỹ càng về khoản nợ này không?”

Hai vợ chồng người nông dân phủ phục trước mặt lão hòa thượng rồi nói: “Chúng con muốn biết nguyên nhân thực sự là gì? Xin thầy nói chi tiết ạ!”

Lão hòa thượng vừa nhắm mắt lại vừa chậm rãi nói: “Ở kiếp trước, con gái của hai người là thiên kim tiểu thư của một gia đình giàu có. Vào năm tiểu thư này 18 tuổi, cha mẹ họ cùng cô con gái của mình đi thăm người thân. Không ngờ giữa đường lại gặp một toán cướp. Thủ lĩnh của toán cướp đó chính là con ngựa của nhà thí chủ ở kiếp này, còn hai thí chủ khi đó là đám thuộc hạ của nó. Ba tên cướp này đã cướp sạch tài sản, giết chết cha mẹ cô gái, đánh đuổi người nhà, tên thủ lĩnh còn cưỡng hiếp vị tiểu thư này.

Cuối cùng, cô gái này đứng trên vách núi thề rằng: ‘Kiếp sau nhất định ta phải lấy đầu tên thủ lĩnh này để trả mối hận trong lòng mình’. Nói xong, cô nhảy xuống núi tự vẫn. Về sau, tên thủ lĩnh vì cướp bóc quá nhiều, khi chết bị đầu thai thành súc sinh, còn hai thí chủ về sau có làm việc thiện nên vẫn được đầu thai làm người nhưng phải hoàn trả khoản nợ kia. Vị tiểu thư kia chuyển sinh làm con gái của hai người chính là để đòi nợ kiếp trước”.

Hai vợ chồng họ nghe xong nửa tin nửa ngờ: “Hòa thượng! Những lời ngài nói là thật sao?”

Lão hòa thượng nhìn hai vợ chồng người nông dân rồi nói thêm: “Thí chủ hãy nghĩ lại tất cả mọi chuyện xảy ra với bản thân và cô con gái của mình thì sẽ thấy rõ điều này. Tất cả tài sản của thí chủ đều dùng để chữa bệnh và nuôi dưỡng con gái, đây chính là tài sản mà thí chủ lấy của người ta ở kiếp trước nay phải trả lại. Đến năm 18 tuổi, con gái thí chủ nhất định đòi giết thịt con ngựa kia, chẳng là ứng với lời thề kiếp trước sao?”

Hai vợ chồng này bấy giờ mới ngẫm nghĩ lại thì thấy quả đúng là mọi chuyện đều y như lời vị hòa thượng nói. Họ lập tức bái lạy rồi thỉnh cầu: “Xin phương trượng chỉ bảo cách để chúng con thoát khỏi nghiệp lực này?”

Lão hòa thượng trả lời: “Chỉ có vứt bỏ cái ác, một lòng hành thiện, làm một người lương thiện thì mới có thể hóa giải hết được. Nếu làm việc ác thì kiếp này không trả, kiếp sau sẽ vẫn phải trả hết”.

Hai vợ chồng họ cung kính cảm ơn lão hòa thượng rồi ra về. Cũng từ đó, cả hai người đều một lòng hướng Phật, hành thiện tích đức để mong sám hối cho những tội ác ở kiếp trước của mình, và cũng là để gieo trồng phúc báo cho kiếp sau.

Theo Daikynguyenvn


 

 

RỒI MỘT NGÀY (Tánh Thiện)





                     RỒI MỘT NGÀY

Đường đạo mãi còn thênh thang rộng mở
Tâm niệm lành nhớ nghĩ đến đường tu
Phước duyên này là cả bước công phu
Mang an lạc về ngay trong cuộc sống .

Dù cuộc đời trải qua bao dậy sóng
Cứ thở vào cho nhẹ gánh người ra
Rồi một ngày ta dễ cảm nhận qua
Cõi sanh tử chẳng có gì đáng sợ .

Sống cao đẹp đừng gây thêm mối nợ
Xem nhẹ nhàng trước tử biệt sanh ly
Ta mỉm cười nhìn mọi chuyện đến đi
Như gió thổi giữa mây trời cao rộng .


                                                                                         Tánh Thiện
                                                                                          22-10-2016


                                                                      http://quangduc.com/p158a59511/roi-mot-ngay

Thứ Sáu, 21 tháng 10, 2016

BỎ ÁO TU HÀNH (Tánh Thiện)




 

triet gia Pham Cong Thien 6

                           BỎ ÁO TU HÀNH
                
                                Kính tưởng nhớ Thầy Nguyên Tánh / Triết gia Phạm Công Thiện

Tôi đã từng ra đón bước Thầy
Bao năm chung sống dưới chùa thân
Cùng nhau đi uống cà phê Pháp
Thuở ấy ngày nào vẫn nhớ đây

Thầy trò mình nằm giữa cỏ xanh
Nhìn chim líu hót hát xung quanh
Chùa xưa là cả niềm thương nhớ
Dù sống chết đâu cũng nghĩ lành

Đời Thầy như gió thổi liên miên
Bỏ áo tu hành tánh vẫn nguyên
Có tu mới hiểu người tu vậy
Tâm đã lắng rồi sóng sẽ yên


                   Tánh Thiện
                  20-8-2016
                             ( Đã đăng trên website http://quangduc.com/a59188/bo-ao-tu-hanh)

Thứ Năm, 20 tháng 10, 2016

RUNG ĐỘNG (Trương Văn Hải)



RUNG ĐỘNG *
Hãy để tim mình rộn tiếng vui 
Tình thân đức huệ nở hoa đời 
An bình thanh thản hồn phơi phới 
Liễu ngộ chân như trí tỏ ngời 
Rạng tỏa khung trời mây ngũ sắc 
Ngát thơm vườn uyển nụ hồng tươi 
Dâng trào mỹ ý lời xao động 
Lạc cảnh trần gian vẫy gọi người

* Theo Tiến sĩ David Hawkins - một bác sĩ rất nổi tiếng tại Mỹ - những rung động thanh cao từ liễu ngộ - an bình - thương yêu ... giúp miễn nhiễm bệnh tật.
                                                                                                        Trương Văn Hải

BỨC THƯ NỔI TIẾNG CỦA CHA GỬI CHO CON TRAI.





Con trai yêu dấu!

Đời người phúc họa vô thường! Không một ai biết trước mình sẽ sống được bao lâu. Có một số việc tưởng nên sớm nói ra thì hay hơn. Cha là cha của con, nếu cha không nói với con, có lẽ không ai nói rõ với con những điều này!

Những lời khuyên để con ghi nhớ này, là kết quả bao kinh nghiệm xương máu, thất bại đắng cay trong cuộc đời, mà bản thân cha đã trải nghiệm. Nó sẽ giúp con tiết kiệm nhiều những nhầm lẫn hoang phí trên bước đường trưởng thành của con sau này.

Dưới đây là những điều con nên ghi nhớ trong cuộc đời:

- Nếu có người đối xử không tốt với con, đừng bận tâm cho mất thời giờ. Trong cuộc đời này, không ai có nghĩa vụ phải đối xử tốt với con, ngoại trừ cha và mẹ của con. Nếu có người đối xử tốt với con, ngoài việc con phải biết ơn và trân quý, con cũng nên thận trọng suy xét, vì người đời làm việc gì thường có mục đích và nguyên nhân. Con chớ vội vàng xem đối phương là chân bằng hữu.

- Con có thể yêu cầu mình phải giữ chữ "Tín", nhưng không thể bắt người khác phải giữ chữ tín với mình. Con có thể yêu cầu mình phải đối xử tốt với người khác, nhưng không thể kỳ vọng người khác phải đối xử tốt với con. Con đối xử người ta thế nào, không có nghĩa là người ta sẽ đối xử lại mình như thế ấy, nếu con không hiểu rõ được điểm này, sẽ tự chuốc lấy buồn phiền cho mình mai sau.

- Trên đời không phải không có người nào mà không thể thay thế được, không có vật gì mà nhất định mình phải sở hữu được. Con nên hiểu rõ ở điểm này. Nếu mai sau rủi người bạn đời không còn muốn cùng con chung sống, hoặc giả con vừa mất đi những gì trân quý nhất trong đời, thì con nên hiểu rằng: Đây cũng không phải là chuyện lớn lao gì cho lắm!

- Trên đời này chẳng hề có chuyện yêu thương bất diệt. Ái tình chỉ qua là một cảm xúc nhất thời. Cảm giác này tuyệt đối sẽ theo thời gian, hoàn cảnh mà thay đổi. Nếu người yêu rời xa con, hãy nhẫn nại chờ đợi, để thời gian từ từ gột rửa, để tâm tư mình dần dần lắng đọng thì nỗi đau thương cũng sẽ từ từ nhạt nhòa đi. Không nên cứ ôm ấp hoài niệm mãi cái ảo ảnh yêu thương, cũng không nên quá bi lụy vì tình.

- Đời người ngắn ngủi, nếu hôm nay con đã lãng phí thời gian, mai đây hiểu được thì thấy rằng quãng đời đó đã vĩnh viễn mất rồi. Cho nên càng biết trân quý sinh mạng của mình càng sớm, thì con sẽ được tận hưởng cuộc đời mình càng nhiều hơn. Trông mong được sống trường thọ, chi bằng con cứ tận hưởng cuộc đời mình ngay từ bây giờ.

- Cha không yêu cầu con phải phụng dưỡng cha trong nửa quãng đời còn lại. Ngược lại, cha cũng không thể bao bọc nửa quãng đời sau này của con, khi mà con đã trưởng thành và tự lập. Đây là lúc cha đã làm tròn trách nhiệm của mình. Sau này con có đi xe buýt hay đi xe hơi riêng; ăn súp vi cá hay ăn mì gói, tự con lo liệu lấy.

- Gia đình thân nhân chỉ là duyên phận một đời. Bất luận trong kiếp này chúng ta sống chung với nhau được bao lâu và như thế nào, nên trân quý khoảng thời gian sum họp, gia đình đoàn tụ. Kiếp sau, dù ta có thương hay không, cũng không chắc sẽ còn gặp lại nhau.

- Tuy có nhiều người thành công trên đường đời mà học hành chẳng đến đâu. Nhưng điều đó cũng không có nghĩa là không cần học hành mà vẫn thành công. Kiến thức đạt được do việc học hành, là vũ khí trong tay của mình. Ta có thể lập nên sự nghiệp từ hai bàn tay trắng, nhưng không thể thiếu sự hiểu biết. Nên nhớ kỹ điều này!

- Hơn mười mấy, hai mươi mấy năm nay, cha tuần nào cũng mua vé số, nhưng đến nay, ngay đến giải 3 vẫn chưa từng trúng. Điều này chứng tỏ rằng: muốn phát đạt phải siêng năng làm ăn, nỗ lực phấn đấu chứ không phải chờ đợi điều may mắn đến với con. Trên thế gian này không có buổi ăn trưa nào miễn phí cả. Nếu may mắn có đến với con, đấy là điều tốt, còn nếu không thì cũng chẳng có vấn đề gì, bởi tất cả phải dựa vào chính bản thân con.

- Con hãy biết ước mơ, nhưng để trở thành hiện thực thì ước mơ đừng xa rời thực tế, đừng hão huyền và ảo tưởng. Con phải luôn có niềm tin. Không chỉ là niềm tin vào chính bản thân mình mà con cũng cần có niềm tin vào mọi người, niềm tin vào cuộc sống. Nếu không có niềm tin, con sẽ chẳng thể làm được việc gì.

Công việc, cuộc sống đôi lúc sẽ có những khó khăn, trở ngại đòi hỏi con phải luôn nỗ lực. Để có được những thành công thì không thể thiếu sự cố gắng và say mê, con ạ. Hãy nhớ rằng 'thàng công không phải là một đích đến, đó là một quá trình'. Vì thế, con hãy tiếp tục ước mơ, tiếp tục tin tưởng và không ngừng nỗ lực, con nhé!.

                                                                      Tác giả: Tôn Vận Tuyền
                                                                         Thủ Tướng Đài Loan.


SỐNG VUI ĐẠO HẠNH (Tánh Thiện)


 Bài thơ đã được đăng trên website http://quangduc.com
                                                                          http://quangduc.com/a59490/song-vui-dao-hanh

SỐNG VUI ĐẠO HẠNH
Kính tặng thi hữu Minh Đạo (Tranh-Thư Pháp Minh Đạo)

Sống chuyên tu Phật
Giàu có như ai
Hạnh phúc không cần
Nghĩ đến ngày mai .
Vui trong chánh tín
Cảm đức Phật ân
Phước báo đời đời
Đến đi tự tại .
Đạo thường vô ngại
Tỏ sáng nguồn tâm
Rong chơi tháng ngày
Vui chốn thiền lâm .
Hạnh nguyện chuyên cần
Cho lòng chẳng vướng
Qua bao nghiệp chướng
Vĩnh biệt từ đây .
                   Tánh Thiện
                   20-10-2016   


Thứ Tư, 19 tháng 10, 2016

AI CŨNG NÊN ĐỌC, LỜI KHUYÊN CHO CON, ĐÁNG SUY NGẪM

Kết quả hình ảnh cho lời khuyên con


1. Con ạ, con nhất định phải học nấu cơm. Việc này không liên quan với chuyện hầu hạ người khác. Khi những người yêu thương con đều không ở bên cạnh, con có thể đối đãi bản thân thật tốt. (Có thể độc lập sinh tồn)

2. Con ạ, con nhất định phải học lái xe. Việc này không liên quan với thân phận địa vị. Như thế vào bất cứ lúc nào, con cũng có thể cất bước đi đến bất cứ nơi nào con muốn, không cầu cạnh bất cứ người nào. (Tự do)

3. Con ạ, con có biết không? Dấu chân có bao xa, lòng dạ có bao rộng. Tấm lòng rộng rãi, con mới vui vẻ. Ngộ nhỡ đi không xa, hãy để sách vở đưa con đi. (Mở rộng tầm nhìn của mình, nhờ vào tầm nhìn của tri thức)

4. Nếu trên đời chỉ sót lại hai bát nước, một bát dùng để uống, một bát phải dùng để rửa sạch gương mặt và quần áo lót của con. (Tự tôn không liên quan với giàu nghèo)

5. Trời sập xuống cũng đừng khóc lóc, đừng oán trách. Như thế chỉ khiến những người yêu thương con càng đau lòng, những kẻ thù hận con thêm đắc ý. (Bình tĩnh chấp nhận số mệnh, những người yêu thương con đương nhiên sẽ quan tâm)

6. Dù ăn cơm trộn nước tương, cũng phải trải khăn ăn sạch sẽ, ngồi với tư thế trang nhã. Sống cuộc sống thô sơ theo cung cách cầu kỳ. (Phong độ không liên quan với cảnh ngộ)

7. Khi đến phương xa, ngoài máy ảnh, nhớ mang theo giấy bút. Phong cảnh giống nhau, nhưng tâm tình ngắm cảnh mãi mãi không trùng lặp. (Hình ảnh và ký ức tình cảm là khác nhau)

8. Nhất định phải có không gian thuộc về mình, dù chỉ hơn chục mét vuông. Nó có thể giúp con khi cãi nhau với người yêu giận dỗi bỏ đi không đến nỗi lưu lạc đầu phố, đụng phải kẻ xấu. Càng quan trọng hơn là, khi con nông nổi, có một nơi để con bình tĩnh lại, cho lòng mình một góc ở yên. (Nhân cách độc lập)

9. Lúc nhỏ phải có kiến thức, lớn lên phải có từng trải, con mới có cuộc đời tinh tế đẹp đẽ! (Đọc từng trải của người khác, tìm từng trải của bản thân)

10. Bất kể lúc nào, đều phải làm một người hiền lành lương thiện. Hãy ghi nhớ, lương thiện, sẽ khiến con trở thành người được trời cao chiếu cố nhất. (Kiểu chiếu cố này không hẳn là giàu có và quyền thế. Thiện có thiện báo, thứ được báo đáp, là tình yêu thương.)

11. Nụ cười, ưu nhã, tự tin, là của cải tinh thần lớn nhất. Sở hữu chúng, con sẽ sở hữu tất cả.
Đây chính là tinh thần “quý tộc”.


                                                                                 (Sưu tầm)


Thứ Ba, 18 tháng 10, 2016

PHÁT HIỆN ĐÁNG KINH NGẠC: TẾ BÀO UNG THƯ SỢ NHẤT LÀ TÌNH YÊU


Sau một thời gian, toàn bộ các tế bào ung thư đã không còn nữa, đây là kết quả nằm ngoài sức tưởng tượng của con người.

Tiến sĩ David Hawkins là một bác sĩ rất nổi tiếng ở Mỹ, bệnh nhân của ông đến từ khắp nơi trên thế giới. Ông cho biết, chỉ cần nhìn thấy bệnh nhân là ông biết người đó vì sao bị bệnh. Bởi trên cơ thể người bệnh không bao giờ tìm thấy chữ ‘yêu’, chỉ thấy chữ ‘khổ, hận, phiền muộn’ bao bọc toàn cơ thể họ.




“Rất nhiều người bị bệnh vì không được yêu, ở họ chỉ thấy nỗi khổ và phiền muộn, tần số rung động thấp hơn 200 sẽ dễ bị bệnh”,ông cho biết. Tần số rung động chính là từ trường mà mọi người thường hay nói.

Ông cũng phát hiện ra rằng, những người bệnh thường có suy nghĩ tiêu cực. Tần số rung động của người trên 200 sẽ không bị bệnh. Ở người bệnh, tần số này thường thấp hơn 200. Tần số rung động của những người như nào thấp hơn 200? Đó là những người hay oán giận, chỉ trích, hận thù người khác, tần số của họ chỉ là 30, 40. Trong quá trình trách móc người khác sẽ làm tiêu hao rất nhiều năng lượng của họ vì thế tần số rung động sẽ giảm thấp hơn 200, những người này có nguy cơ bị mắc rất nhiều loại bệnh.

Chỉ số rung động cao nhất là 1000, thấp nhất là 1. Ông nói, trong cuộc đời ông từng gặp người có tần số rung động cao nhất là 700, năng lượng trong cơ thể anh ấy rất dồi dào. Khi những người này xuất hiện, họ sẽ làm ảnh hưởng đến từ trường của cả khu vực xung quanh. Lấy ví dụ, như khi bà tu sĩ Trisara lên nhận giải thưởng Nobel Hòa bình, không khí cả hội trường rất tốt, tần số rung động rất cao, từ trường của bà làm cho cả hội trường đều cảm nhận được năng lượng tràn ngập sự tốt đẹp và cảm động từ bà.



Khi người có năng lượng cao xuất hiện, từ trường của họ sẽ làm cho vạn vật trở lên tốt đẹp hơn. Còn với người có suy nghĩ tiêu cực, không chỉ làm tổn hại chính họ mà còn làm cho từ trường xung quanh cũng bị xấu đi.

TS Hawkins nói, ông đã từng làm bệnh án cho hàng triệu người, các chủng loại người khác nhau trên toàn thế giới, tất cả đều cho một đáp án giống nhau. Chỉ cần tần số rung động thấp hơn 200 là người đó sẽ bị bệnh. Trên 200 sẽ không bị bệnh, những suy nghĩ có tần số rung động trên 200 gồm có: quan tâm đến người khác, giàu lòng từ bi, nhân ái, hướng thiện, bao dung, độ lượng, v.v. Đây đều là những đức tính có tần số rung động rất cao, đạt đến mức 400-500.



Ngược lại, người có tính căm ghét, phẫn nộ, hay chỉ trích, trách móc, đố kị, đòi hỏi người khác, luôn tư lợi cá nhân, ích kỷ, không màng đến cảm nhận của người khác sẽ có tần số rung động rất thấp. Tần số rung động thấp là nguyên nhân dẫn đến các bệnh như ung thư, tim v.v.

Từ góc độ y học ông cho rằng, ý niệm có ảnh hưởng vô cùng lớn đến sức khỏe con người.

Sau khi nghệ sỹ chơi đàn Violoncelle Sean của Nhật Bản bị bệnh ung thư, ông đã không ngừng chiến đấu với bệnh tật nhưng xem ra tình trạng ngày một nặng hơn. Ông đã thay đổi tâm trạng, quyết định chuyển sang yêu từng tế bào ung thư trong cơ thể mình. Ông lạc quan với cuộc sống, mọi việc ông đều luôn thấy vui vẻ và biết ơn các tế bào ung thư. Ông thấy cảm giác này rất tuyệt. Sau đó, ông đã quyết định yêu mọi thứ trong cuộc sống, bao gồm cả mỗi con người và mỗi sự việc.

Sau một thời gian, toàn bộ các tế bào ung thư đã không còn nữa, đây là kết quả nằm ngoài sức tưởng tượng của con người. Sau này, ông trở thành bác sĩ trị liệu nổi tiếng tại Nhật Bản. Đây chính là bản chất của cuộc sống: Tình Yêu.
Căn nguyên của bệnh tật là do trong cơ thể người bệnh thiếu tình yêu thương. Bệnh tật bị đẩy lùi một cách vô điều kiện là nhờ ‘yêu và được yêu’.

                                                                            (Theo Phununews)


Chủ Nhật, 16 tháng 10, 2016

THIỀN LỘ (Tánh Thiện)



Nhân đọc bài GẶP NHAU MỘT CHẶNG ĐƯỜNG, thầy Thích Tánh Thiện cảm tác bài Thiền lộ. Minh Đạo trân trọng gởi đến quí độc giả gần xa:

                    THIỀN LỘ 

Gặp nhau đi một chặng đường
Cùng chung thiền lộ chân thường kết duyên
Hướng về pháp Phật dạy khuyên
Cho lòng ngưng sóng lắng yên não phiền

Giữ tâm thanh tịnh muôn nơi
Niềm vui đạo hạnh cuộc đời trong ta
Ra vô vào cõi ta bà
Mang tình yêu đến muôn nhà đắp xây

Dù cho đi khắp Đông Tây
Cuối cùng nên nhớ về ngay chính mình
Chẳng ai cứu độ đời mình
Con đường thiền lộ tự mình phải qua.
                 
                                         Tánh Thiện

                                         16-10-2016


Thứ Bảy, 15 tháng 10, 2016

GẶP NHAU MỘT CHẶNG ĐƯỜNG


Bài nầy đã được đăng trên các website: http://www.daophatngaynay.com/vn/van-hoc/tho/21932-gap-nhau-mot-chang-duong.html, http://hoavouu.com/p41/1/trang-tho, http://www.hoalinhthoai.com/poetry/Tho-Van.html.http://www.hoalinhthoai.com/poetry/Tho-Van.html
                                                 
                                                  GẶP NHAU MỘT CHẶNG ĐƯỜNG

                                                  Loanh quanh thoáng chốc lại rời đi,
                                                  Tính thiệt hơn thua giúp ích chi ?
                                                  Nhịn nhục trăm lần luôn có được,
                                                  Khen chê vạn lối chẳng ra gì !!!
                                                  Bao năm thế sự tìm sân hận,
                                                  Mấy cõi càn khôn chuốc mạn si !!!
                                                  Biển ái thuyền từ nguồn phước lạc,
                                                  Chung nhau đoạn ngắn chớ hoen mi…


                                                                                   Minh Đạo

TỨ ĐẠI – DƯỚI CON MẮT CỦA PHẬT HỌC VÀ KHOA HỌC

Kết quả hình ảnh cho đức phật


 
Hãy nhìn tứ đại bằng cái nhìn rộng rãi và bao quát hơn: đất là chất rắn, nước là chất lỏng, gió là chất khí và lửa là hơi ấm. Với cái nhìn này, chúng ta dễ dàng công nhận hơn với mệnh đề: “bốn yếu tố cấu thành nên toàn bộ vật chất thuộc về vật lý của thế gian”.

TỨ ĐẠI TRONG TA

 Hôm nay chúng ta sẽ nghiên cứu về Sắc Uẩn trong Ngũ Uẩn.

 Chúng ta biết, Sắc Uẩn bao gồm Tứ Đại theo nghĩa cổ truyển (Cattarimahabhu-tani): đất, nước, gió và lửa và vật chất do bốn đại tạo thành (sở tạo sắc – Upadaya-rupa). Đó là bốn yếu tố cấu thành nên toàn bộ vật chất thuộc về phạm trù vật lý của thế gian.

 Nhưng nếu chúng ta học tứ đại bằng cái nhìn: đất là nắm đất ven đường, nước là dòng suối sau nhà, gió là cơn gió trước hiên và lửa là ngọn lửa trong bếp mẹ đang nấu; thì chúng ta đã thấy tứ đại nhưng còn hạn hẹp lắm. Học như vậy, sẽ làm cho Đạo Phật rất dễ xa dần các bạn trẻ, nhất là các bạn có học thức, vì các bạn sẽ biện luận rằng: “cơ thể chúng tôi làm gì có đất ven đường, suối sau hè, gió trước hiên và lửa mẹ nấu”.

 Các bạn ấy đâu có hạnh phúc bằng ta, vì chúng ta đã được học giáo lý Duyên Khởi, Tương Tức và Tương Nhập nên chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra đất, nước, gió và lửa ở trong chính bản thân của chúng ta. Tứ Đại được dễ dàng nhận diện qua năm căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Qua những đối tượng của thế giới bên ngoài tương ứng với năm căn đó: hình sắc, âm thanh, hương, vị, xúc. Và qua ý nghĩ hay tư tưởng thuộc về đối tượng của tâm (Dharmayatana: pháp xứ).

 Nhưng các bạn trẻ kia thì khó lòng mà nhận thấy được điều đó. Cho nên chúng ta cần có một cái nhìn tổng quát hơn đối với Tứ Đại, để chúng ta và các bạn trẻ kia đều có thể có được một cái nhìn chuẩn xác về Phật học và Khoa học không phải là hai thái cực trái ngược nhau hoặc không đồng nhất với nhau.

 CÁI NHÌN TỔNG QUAN

  Hãy nhìn tứ đại bằng cái nhìn rộng rãi và bao quát hơn: đất là chất rắn, nước là chất lỏng, gió là chất khí và lửa là hơi ấm. Với cái nhìn này, chúng ta dễ dàng công nhận hơn với mệnh đề: “bốn yếu tố cấu thành nên toàn bộ vật chất thuộc về vật lý của thế gian”.

 Xét về chính cơ thể con người chúng ta: xương, thịt, da, lông, tóc… đó là chất rắn; máu, mủ, dịch,… là chất lỏng; hơi thở lưu thông là chất khí và thân nhiệt là hơi ấm. Ngoài ra, quyển sách chúng ta đang đọc có thể hiểu là đất, trà chúng ta uống đó chính là nước, gió từ chiếc quạt của mẹ và hơi ấm từ là sưởi đó chính là lửa. Tứ đại có mặt trong ta và có mặt xung quanh cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Như vậy, tứ đại có mặt ở khắp mọi nơi. Với cách nói này, chúng ta thấy tứ đại đã dần có mặt ở trong cơ thể của các bạn trẻ và các bạn trẻ đã dễ dàng chấp nhận hơn về khái niệm tứ đại.

 Tuy nhiên, cách hiểu trên vẫn chưa thật sự là cách hiểu toàn vẹn về tứ đại. Tứ đại thay vì hiểu là đất, nước, gió, lửa thì hãy hiểu theo cái nội hàm mà nó biểu thị ban đầu Pathavi, Apo, Vayo và Tejo. Bốn danh từ này được sử dụng trong những bản kinh nguyên thủy trước khi được dịch thành đất, nước, gió và lửa.

 Ý NGHĨA NGUYÊN THỦY

 Pathavi: yếu tố giãn nở. Chính yếu tố giãn nở này mà các vật chất có một cái ngoại viên và chiếm lấy một khoảng không gian nhất định. Bất kỳ vậy nào có chiếm lấy một phần thể tích trong không gian thì đó chính là Pathavi. Như vậy, Pathavi không chỉ là đất. Một dòng sông cũng có Pathavi. Đại dương mênh mông cũng là Pathavi và chúng ta thấy đại dương là thấy qua cái Pathavi đó. Pathavi dễ dàng nhận thấy đối với các chất rắn. Đối với chất lõng, tính Pathavi của chất lỏng phụ thuộc nhiều vào hình dáng của vật chứa chất lỏng đó. Điều này cũng tương ứng với tính Pathavi của chất khí. Bên cạnh đó Pathavi còn là cái tính nặng như kim loại, nhẹ như bông gòn, cứng như đá hay mềm như bột cũng là những trạng thái, những tính chất của Pathavi.

 Apo: yếu tố liên kết. Chúng ta biết, vạn vật đều được cấu tạo từ các nguyên - phân tử nhỏ bé. Các phân tử liên kết lại với nhau để cấu thành nên các chất rắn, lỏng và khí. Chúng luôn luôn tương tác (hút và đẩy) nhau. Sự liên kết đó chính là Apo. Từ các liên kết to lớn như các hành tinh trong một hệ hành tinh, các căn nhà trong một dãy nhà,… đến các liên kết nhỏ hơn như các mắc xích trong một sợi xích, các tép bưởi trong một múi bưởi,… và cuối cùng là các liên kết bé nhỏ mà mắt người không thấy được, như những giọt nước trong đại dương bao la, hay giữa nguyên tử Oxy và Hydro trong một phân tử nước,… tất cả các liên kết đó đều là Apo. Khi tính Apo mạnh mẽ, chặt chẽ; lúc đó các nguyên tử và phân tử nằm sát nhau thì vật được gọi là chất rắn. Chất lõng có tính liên kết phân tử yếu hơn chất rắn, tính Apo yếu hơn chất rắn. Do đó, ta gọi các chất là rắn, lỏng hay khí là dựa vào tính Apo của các vật chất.

 Vayo: yếu tố chuyển động. Chúng ta biết, các nguyên tử và phân tử cấu thành các vật chất (rắn, lỏng, khí) luôn luôn chuyển động hỗn độn, không ngừng đó chính là tính Vayo. Sự chuyển động không chỉ vận hành ở chính bên trong mỗi vật chất mà còn là sự chuyện động tương đối giữa vật chất này và vật chất khác. Một vật được xem là đứng yên hay chuyển động khi có một cái mốc cụ thể được ấn định. Tuy nhiên, không có một vật nào được xem là bất động hoàn toàn trong vũ trụ. Khi nó bất động với cái này thì lại chuyển động so với một cái khác. Hành khách trên xe có thể xem là bất động với chiếc xe, nhưng lại chuyển động so với hàng cây bên đường. Bên cạnh đó, chính vị hành khách cũng sẽ không bao giờ bất động hoàn toàn giữa hai khoảnh khắc thời gian nối tiếp nhau. Tất cả những sự chuyển động vừa nêu đều là Vayo

 Tejo: yếu tố nhiệt độ. Chúng ta đã biết các phân tử cấu thành các vật chất chuyển động không ngừng bên trong các vật chất. Và khi các phân tử chuyển động hỗn loạn không ngừng sẽ tạo ra một nguồn năng lượng dưới dạng động năng. Tổng các động năng này của các phân tử chính là nhiệt năng của vật. Trong Phật học, khái niệm trên được gọi dưới danh từ là Tejo. Chúng ta cũng biết rằng, nhiệt năng có quan hệ chặt chẽ với nhiệt độ. Nhiệt độ của vật càng cao thì các phân tử cấu tạo nên vật sẽ chuyển động càng nhanh và nhiệt năng của vật càng lớn. Nói cách khác, tính Tejo của phân tử cấu thành vật có liên hệ chặt chẽ với tính Vayo. Việc xác định yếu tố “nóng” hay “lạnh” ở một vật thể chỉ mang tính chất tương đối. Khi ta nói “lạnh” có nghĩa là nhiệt độ của vật này thấp hơn nhiệt độ của vật khác. Khi ta nói “nóng” đồng nghĩa vật có nhiệt độ cao hơn. Như vậy, cái “nóng” và “lạnh” đều là một yếu tố của nhiệt độ và đều là tính chất của Tejo.

 Như vậy, nếu chúng ta hiểu Tứ Đại theo nội hàm Pathavi, Apo, Vayo và Tejo thì một vật chất bất kì nào đó trong vũ trụ đều được cấu tạo từ Tứ Đại. Vì một vật chất bất kỳ nào cũng có các yếu tố: giản nỡ, liên kết, chuyển động và nhiệt độ. Khi nhìn mọi vật dưới con mắt của Tứ Đại chúng ta vừa tìm hiểu, thì nguyên lý Duyên Khởi lại một lần nữa được xác minh và chứng thức một cách cụ thể và khoa học. Một vật không bao giờ tồn tại độc lập một mình nó trong vũ trụ mà luôn luôn có sự tương quan lẫn nhau đối với các vật chất khác.

 TIẾP CẬN MỌI NGƯỜI

 Tứ Đại ngoài cách hiểu là “đất, nước, gió, lửa”; còn có thể hiểu là “chất rắn, chất lỏng, chất khí, hơi ấm” và cách hiểu tổng quát nhất là “Pathavi, Apo, Vayo, Tejo”. Tuy nhiên, trong quá trình học Phật và hoằng Pháp, chúng ta cần phải làm sao giáo lý của Đức Thế Tôn đến với từng người, trong từng hoàn cảnh và từng điều kiện cụ thể một cách thích hợp và mang lại kết quả tốt đẹp nhất. Nói chuyện với một người nông dân, hãy nói tứ đại là: đất ruộng, nước tưới, gió trời và nắng ấm. Khi trao đổi với người công nhân, hãy triển khai tứ đại với hình ảnh: rắn như sắt, lỏng như dầu, khí là gas, sức nóng của lò luyện. Và khi nào triển khai cùng giới học giả trí thức, hãy sử dụng bốn tính chất Pathavi, Apo, Vayo và Tejo để thấy được cái nhìn của Phật Học cách đây hơn 2500 đã vượt trội hơn Khoa Học hiện tại đến dường nào.

 Triển khai Tứ Đại một cách linh hoạt và uyển chuyển như vậy chính là tinh thần: khế lý, khế cơ, khế xứ, khế thời của Đức Thế Tôn đã dạy.

                                                                                          Tuệ Quý