Thứ Tư, 16 tháng 11, 2016

TẠ ƠN (Tánh Thiện)



          TẠ ƠN

Tạ ơn Tam Bảo
Tu tập pháp lành
Mở rộng lòng ra
Dứt trừ cái ác .

Niềm vui Chánh Pháp
Sức mạnh ngàn cân
Ẩn nhẫn tu hành
Thúc liễm thân tâm .

Chánh niệm chuyên cần
Phá màn u ám
Tâm hồn tỏ sáng
Đẹp bước đời ta .

Học sống buông tha
Chắp tay cung kính
Trải nghiệm một lòng
Vững mạnh niềm tin .

                   Tánh Thiện

                   16-11-2016

Thứ Hai, 14 tháng 11, 2016

CHUYỆN CẢM ĐỘNG VỀ NHỮNG NGƯỜI THẦY CỦA VUA CHÚA VIỆT


Những người thầy cao cả của vua Hàm Nghi
Thầy giáo Nguyễn Doãn Cử, quê Vũ Thư - Thái Bình đỗ Cử nhân, được làm giảng quan của phủ Tôn Nhân, chuyên dạy con em vương hầu nhà Nguyễn. Có lần, cậu bé Ưng Lịch không thuộc bài, thầy Cử đã phạt đòn thẳng tay, bất chấp trò là dòng dõi vương tôn. Sau đó thầy cử liền dâng sớ tạ tội, cáo quan về quê cũ.
Nhưng vua Tự Đức chẳng những không quở trách mà còn đưa thêm roi cho thầy và nói: Khanh quý trẫm vì nể trọng khuôn phép, chứ không phải nể quyền uy nơi trẫm. Nếu không nghiêm như vậy thì làm sao đào luyện được tài năng, hoàng tộc sẽ không có người kế nghiệp xứng đáng.
Cậu bé Ưng Lịch bị thầy đánh đòn ấy sau này trở thành vua Hàm Nghi, một ông vua yêu nước được lưu danh trong sử sách.
Trong các thầy dạy vua Hàm Nghi, người đời cũng nhớ đến thầy Nguyễn Nhuận. Dù không đỗ cao, ông là một nhà Nho được kính nể không chỉ vì trí tuệ uyên thâm mà còn cả sự liêm khiết, quang minh. Sau một thời gian mở trường dạy ở quê, ông được mời vào kinh dạy con cháu hoàng tộc. Trong các học trò của ông có cả Ưng Lịch, khi đó là một cậu bé ngỗ nghịch ít được chú ý đến.
Sau này Ưng Lịch trở thành vua Hàm Nghi, nhớ công ơn thầy dạy dỗ, muốn phong cho thầy một chức quan trong triều. Để tạ ơn vua, nghĩ đến quê mình có vùng đất Tuyên Hóa nghèo khổ lại toàn là núi rừng, dân chúng ít học, thầy Nguyễn Nhuận đã xin được về Tuyên Hóa nhận chức Tri huyện.
Thời gian cụ làm quan ở huyện này, toàn huyện không có ăn xin ăn mày, không có trộm cắp, vườn tược nhà nhà thông thương, hoa quả không bị mất trộm, nhà nhà không phải đóng cửa khi chủ đi vắng…
Vua Lê Hiến Tông và bát canh của người thầy
Lê Hiến Tông (1461 – 1504) là một vị vua thông minh, nhân từ và ôn hoà. Dưới thời của ông, đất nước vẫn duy trì được sự thái bình, thịnh trị có từ thời vua cha Lê Thánh Tông.
Sách Đại Nam Nhất Thống Chí đã ghi lại một câu chuyện cảm động về đạo thầy trò trong một lần vua Lê Hiến Tông về thăm thầy cũ. Nội dung câu chuyện như sau:
Xa giá về đến cổng làng Châu Khê, nhà vua ra lệnh dừng kiệu và bước xuống đầu đường rẽ vào nhà thầy, vua chọn 2-3 cận thần cùng một vị quan sở tại tháp tùng vua vào nhà thầy giáo. Vua ôn tồn nói với mọi người đi theo:
- Hôm nay trẫm về đây là để thăm thầy chứ không phải vi hành, công cán vì vậy cho phép các khanh về nghỉ ở công quán.
Mọi người bái tạ nhà vua rồi đi vào các quán dịch. Ở đó, các quan địa phương chuẩn bị chu đáo, có chăng đèn, kết hoa, có bàn trà nước. Nhà vua đi bộ cùng viên quan trấn và mấy quan hầu cận tiến vào nhà thầy. Không trống phách, không nhạc nhã, không có tiếng hô dẹp đường. Cụ Thượng thư già cùng các con cháu và giai nhân mũ áo chỉnh tề ra tận đầu thôn bày hương án nghênh tiếp nhà vua. Thấy thầy giáo, vua vội vàng đến gần cụ. Theo nghĩa vua tôi, cụ sụp lạy. Nhà vua hai tay nâng vai thầy lên, ôn tồn:
- Xin lão tiên sinh bình thân để cho đệ tử không bị thất lễ.
Vua nói với những người đang quỳ rạp hai bên đường:
- Cho tất cả các người đứng dậy cùng trẫm về nhà tôn sư!
Vua nhắc lại lời nói với các quân sĩ và với người thân của thầy giáo:

                                         Vua Hàm Nghi.
- Hôm nay trẫm đến đây là học trò về thăm thầy, chứ không phải thiên tử đi kinh lý, nghi lễ ở chốn triều đình dùng vào lúc khác!
Ngôi nhà thầy Nguyễn Bảo giản dị, cổ kính và gọn gàng, đúng với phong thái của chủ nhân - một bần nho trong sáng. Vua mời cụ ngồi lên sập giữa để mình đứng vấn an thầy. Cụ giật mình:
- Tâu bệ hạ đâu lại có thể như thế được. Đạo thầy là nặng, song phép nước cao hơn, xin hoàng thượng cho lão phu này được đứng hầu! Người ngoài trông vào sao tiện ạ!
Nhà vua nhẹ nhàng:
- Thưa tôn sư, họ đã biết mục đích của trẫm hôm nay rồi. Tôn sư cho phép đệ tử ngồi chung là đã quá lắm rồi.
Nói xong, nhà vua đỡ cụ xuống cùng ngồi đàm đạo. Vua hỏi thăm sức khoẻ và đời sống của thầy cùng gia đình, xin xem những bài thơ của thầy làm khi nhàn rỗi ở chốn thôn dã. Khi người nhà của cụ giáo dâng trầu nước chỉ đứng ở sân dưới thềm, chuyển qua các thị vệ dâng lên cụ giáo và nhà vua. Vua Hiến Tông lại khoát tay:
- Thôi để họ mang thẳng lên đây, chắc họ cũng muốn gần vua một chút. Âu cũng là cái lộc của lão tiên sinh đây!
Thưởng thức chén trà ngát hương sen đồng nội, nhà vua nói với các quan theo hầu:
- Trẫm cho các ngươi lui! Chiều nay trẫm không dùng "ngự thiện", trẫm xin với lão tiên sinh cùng gia đình ăn bữa cơm quê. Trẫm muốn được ngồi chung mâm với thầy cũ cho thoả tình thầy trò, chắc lão tiên sinh cho phép.
Cụ giáo nghẹn ngào:
- Xin bái tạ đức vua! Thánh chỉ đã truyền, thần xin vâng mệnh!
Bữa cơm thầy trò chiều hôm đó diễn ra thân mật. Các con cụ đứng hầu từ xa ngắm thầy trò nhà vua đối ẩm với thứ rượu nếp quý quê nhà hương thơm sực nức, nghe thầy trò nhà vua vừa ăn vừa ngâm nga thơ phú. Cụ Châu Khê có lẽ còn vui hơn cả nhà vua, bởi lẽ là ông có học trò ở ngôi tôn quý nhất nước vẫn mực thước thuỷ chung giữ đạo nghĩa thầy trò. Ông càng hài lòng vì học trò cũ của ông dẫu ngồi trên ngai vàng vẫn không quên gốc. Nhà vua đặc biệt thưởng thức món canh cua quê kiểng, bất giác nói với cụ Châu Khê:
- Thầy cho con ăn một bát canh này thật là một niềm hạnh phúc. Hương vị cua đồng quê nhà ít có thức ăn nào sánh tày, quả là ngon.

Danh sư Chu Văn An

Nhà giáo lỗi lạc Chu Văn An (1292 – 1370) là người chính trực, đã từng đỗ Thái học sinh nhưng không ra làm quan mà mở trường dạy học ở làng Huỳnh Cung, bên kia sông Tô Lịch. Vua Trần Minh Tông (1300 – 1357) đã mời ông ra làm tư nghiệp Quốc tử giám, dạy cho Thái tử Trần Vượng, tức là vua Trần Hiến Tông tương lai.

                        Tượng danh sư Chu Văn An.
Đến đời Dụ Tông, ông thấy quyền thần làm nhiều điều vô đạo, ông dâng Thất trảm sớ xin chém 7 tên gian nịnh, nhưng vua không nghe. Ông chán nản từ quan về ở núi Phượng Hoàng (Chí Linh, Hải Dương), lấy hiệu là Tiều ẩn (người đi ẩn hái củi), dạy học, viết sách.
Vào những dịp trong triều có lễ hội lớn, ông vẫn được đón về kinh tham dự. Một lần vua Dụ Tông giao cho ông coi việc chính sự, ông từ chối. Biết tin này, bà Hoàng Thái Hậu (tức bà nội vua), nói với những người xung quanh: “Bậc sĩ phu sửa mình trong sạch, dẫu thiên tử cũng không bắt làm bề tôi được. Sao có thể đem bổng cao chức trọng mà dụ dỗ người ta...”. Vua sai nội thần mang áo đến ban tặng, ông tạ ơn xong rồi đem cho người khác. Ai cũng khen cái phong độ của ông là cao thượng.
Khi Trần Nghệ Tông (1370-1372) lên ngôi, Chu Văn An ra kinh đô bệ kiến vua mới, nhưng không nhận chức tước gì, rồi trở về núi cũ. Đông đảo học trò theo tiễn có hỏi:
- Từ nhà vua đến đông đảo các sĩ phu và quan chức đều là học trò của thầy, sao thầy không ở lại để đảm đương một trọng trách? Thầy coi thường những chức tước của triều đình lắm sao?
Nhà giáo Chu Văn An nói:
- Cái quan trọng của con người không ở chỗ chức tước mà ở phẩm giá. Giữ một chức phận nhỏ mà có ích cho đời thì đáng quý biết bao nhiêu. Còn giữ chức tước lớn mà không làm gì có lợi cho dân, cho nước thì chức tước ấy có nghĩa gì. Các con có nhớ Đức Thái Tông triều Trần ta đã nói gì khi Trần Thủ Độ mời người trở lại làm vua không? Ngài nói: “Nếu làm vua mà làm cho dân giàu, nước mạnh thì hãy làm. Còn ngôi vua ư? Ta coi ngôi vua như chiếc dép rách mà thôi!”.

                                                                                        Nguồn internet

MỌI SỰ THẾ GIAN ĐỀU VÔ THƯỜNG, BUÔNG TÂM XUỐNG MỚI THẤY MÌNH TỰ TẠI


 

Mọi sự trên thế gian, hết thảy đều là vô thường, con người sống và chết chỉ cách nhau có một hơi thở. Tình yêu, sắc đẹp cũng vậy, đều không có gì là bất biến. Vậy nên, có thể buông bỏ mọi dính mắc, mới có thể tự do tự tại.

Xưa kia, ở địa phương nọ có một vị trưởng giả sống cùng hai vợ chồng người con trai và một người con gái. Con dâu của ông có dung mạo xinh đẹp hơn người, quả thực tìm không ra được chỗ khiếm khuyết. Con trai vị trưởng giả ngày đêm ở bên vợ mình như hình với bóng. Anh ta thà chết cũng không chịu rời xa người vợ xinh đẹp của mình nửa bước.

Hồi ấy, toàn bộ đường đi tại địa phương đều bị hư hại nghiêm trọng nên gây trở ngại cho người dân khắp vùng. Người dân lân cận không có đường vào, người dân trong vùng không có đường ra. Thậm chí ngay cả việc qua lại với nước láng giềng cũng bị tuyệt giao trong khoảng thời gian kéo dài đến 12 năm. Hết thảy vật phẩm cung ứng trong nước cũng lâm vào tình trạng thiếu thốn cực độ.http://tinhhoa.net/wpcontent/uploads/2014/08/BcKCN8.jpghttp://tinhhoa.net/wpcontent/uploads/2014/08/BcKCN8.jpg

Đến năm thứ 12, vị trưởng giả nghe tin đồn rằng, rất nhiều thương nhân ngoại quốc đã đến nước láng giềng buôn bán. Vị trưởng giả ngay lập tức căn dặn con trai: “Thương nhân ngoại quốc đến nước láng giềng làm ăn buôn bán, nhất định là mang theo rất nhiều vật phẩm, con hãy nhanh chóng men theo con đường nhỏ đến nước láng giềng để mua một chút nhu yếu phẩm cần thiết về dùng”.

Người con trai vừa nghe xong, tỏ vẻ rất không hài lòng. Anh ta nghĩ thầm: “Lần này chắc mình không thể không rời xa người vợ yêu quý của mình rồi!”.

Nghĩ đến đó, anh ta rất thống khổ và cằn nhằn với người bạn thân thiết: “Cha của tôi tuổi đã già rồi, làm sao hiểu được tình cảm của những người trẻ tuổi. Tôi và vợ tôi thương yêu nhau như vậy, không thể chia lìa, thế mà cha tôi lại phái tôi đi nước láng giềng mua vật phẩm. Chỉ nghĩ đến cảnh ấy thôi, trong lòng tôi đã tan nát rồi. Nếu bắt tôi rời xa vợ tôi nửa ngày thì tôi thà nhảy xuống sông hoặc nhảy từ trên đỉnh núi xuống tự tử chết còn hơn.”

Người bạn thân thiết nghe xong liền chân thành nói: “Anh thật kỳ lạ! Cha mẹ sinh con ra chẳng qua cũng là muốn con cái hiểu được phải chăm lo gia đình, hiểu được phải ra ngoài kiếm tiền, trở về phụng dưỡng cha mẹ.

Ý nghĩ của anh như vậy, quả thực là quá ích kỷ, quá trẻ con, không lao động như vậy thì sống làm sao đây? Cho dù anh có sinh ra ở thiên đường đi nữa, cũng không thể cả ngày không làm gì, sống cuộc sống quá an nhàn. Huống chi, sinh ra làm người, sao có thể không hiếu kính với cha mẹ mình đây?”.

Anh ta nghe xong lời khuyên bảo của người bạn, trong lòng cảm thấy rất có đạo lý. Cuối cùng không thể không rời xa người vợ, ủ rũ hướng về phía nước láng giềng mà đi. Thế nhưng, bất luận là đi đến đâu đi nữa, hình ảnh người vợ thân yêu cứ hiện lên trong đầu anh ta. Vì thế, anh ta vội vã mua một chút vật phẩm cần thiết nhất rồi mau chóng trở về nhà.

Vừa về đến cổng nhà, gặp người em gái, anh ta liền hỏi: “Chị dâu em đâu?”

Người em gái liền trả lời: “Chị dâu đã chuyển đến ở bên cạnh nhà, một mình nằm ngủ ở đó rồi.”

Chuyện là, khi anh ta vừa rời đi thì người vợ bỗng nhiên phát bệnh. Toàn thân của cô lở loét, chảy mủ không ngừng. Mọi người nhìn thấy cô đều sợ hãi, cô đành phải chuyển ra chỗ cạnh nhà ở một mình.

Người chồng vội vàng chạy đến chỗ vợ, không ngờ người vợ xinh đẹp của anh ta giờ đây toàn thân đều đã biến thành đen, sưng phù, gương mặt xấu xí, trông vô cùng đáng sợ. Bất giác, trong lòng anh ta cảm thấy những ân ái và dục tình trước đây đột nhiên bị nguội lạnh xuống. Trong nháy mắt, anh ta ngộ ra, thế gian là vô thường, vẻ xinh đẹp rồi cũng có ngày biến mất.

Đau khổ của con người đến từ nỗi sợ hãi bị mất một thứ gì đó, mà sở dĩ người ta sợ là bởi vì họ đã quá quen thuộc đến nỗi trở thành thói quen hay phụ thuộc vào sự tình, sự vật, con người đó…

Một khi những thứ đó bị mất đi thì mục tiêu cuộc sống của họ, trọng tâm của họ lập tức bị hút ra, khiến cho họ không cách nào tiếp nhận được sự thật mà rơi vào đau khổ. Thế sự là vô thường, tình yêu cũng là vô thường, hãy dũng cảm đối mặt và chấp nhận, hiểu được như vậy, cuộc sống của bạn sẽ nhẹ nhàng hơn!

Theo Daikynguyenvn

 

Thứ Sáu, 11 tháng 11, 2016

KỶ NIỆM KHÓ QUÊN



                                                   

  Suốt 35 năm dạy học (1968 – 2003): 5 năm ở Nguyễn Hoàng - Quảng Trị, 10 năm ở Quốc Học - Huế và 20 năm Sư phạm Đà Nẵng, có biết bao kỷ niệm với học trò của mình nhưng có một kỷ niệm tôi không thể quên với HS lớp 10C NH Quảng Trị.


 Chiến tranh đã làm chúng tôi lạc nhau suốt 20 năm, từ 1970 – 1990. Một buổi sáng, trời mưa lâm thâm, trên đường đi dạy về trường sư phạm (Hòa Khánh – Đà nẵng), vừa đến Ngã Ba Huế (ĐN) bỗng thấy một cô gái băng qua đường, chặn xe tôi lại.

 - Thưa cô, cô có phải cô Hồng từng dạy văn ở NH Quảng Trị không?
 - Ừ! Tôi đây.

 - Em là Hoàng Thị Thy Tuyết, lớp 10C của cô, cô có nhớ em không?
  Mừng qúa, chúng tôi ôm chầm lấy nhau…

- Em có gặp các bạn lớp mình không?


- Dạ có, một ít. Thôi cô đi dạy kẻo trể, em sẽ liên lạc và hẹn các bạn đến nhà thăm cô sau…


  Và rồi, một sáng nọ cả gia đình (chồng con) các em: Thy Tuyết, Thanh Vân, Bích Hường…cả Võ Thị Quỳnh ở Huế, kéo nhau đến trường sư phạm xin gặp và thăm cô Hồng, cả trường ngạc nhiên… Được tin, rời khỏi lớp học, tôi thật ngỡ ngàng, vừa tự hào và thật xúc động…Sau đó gia đình các em kéo về vườn nhà tôi và Quỳnh tổ chức ngay “một góc Nguyễn Hoàng” cho cuộc hội ngộ 10C sau 20 năm xa cách. Tôi nhớ Quỳnh đã dùng phấn trắng viết lên tấm giấy màu tím mấy câu thơ của thầy Phan Phụng Thạch để nói lên tâm trạng của tôi lúc đó:

                                   Ôi ta muốn cúi hôn từng mái tóc
                             Gởi tấm lòng cho lớp tuổi thơ ngây
                             Mai ta đi đường xuôi hay lối ngược
                             Vẫn nhớ hoài hình ảnh buổi hôm nay.
                                                                      (Nắng hạ tình phai)

 
Nguyễn Khắc Điệp (Chồng Thy Tuyết) thì sáng tác ngay bài thơ:
 
                                                             XIN VỀ
                  (Kính tặng cô giáo Võ Thị Hồng)

 
Xin về sống lại cùng Cô
Đôi giây phút cũ bên bờ trường xưa
Chúng em xin làm cơn mưa
Giữa trưa nắng hạ thấm vừa vườn Cô
Chia tay tuổi hãy còn khờ
Bây giờ tay bế ai ngờ họp đây
Cho dù ở tận chân mây
Mà lòng mong mỏi có ngày gặp thôi
Gặp nhau lòng những bồi hồi
Bao nhiêu kỷ niệm liên hồi dứt đâu
Tháng năm đâu có phai màu
Nhưng xin giây phút  nhiệm mầu mãi ghi.
 
(Viết vội tại nhà Cô Hồng trong lần gặp mặt đầu tiên của lớp 10C Nguyễn Hoàng).

 
  Đúng như nhận định của một thầy giáo của tôi: “Nhà giáo ngày trước được hưởng cảm tình sâu đậm của các học sinh thân yêu”, điều nầy dễ thấy qua các buổi hội ngộ do cựu HS các lớp, các khóa của nhiều trường tổ chức và các em đã dành nhiều tình cảm cho thầy cô giáo cũ của mình, trong đó có tôi.
 
 Cô cám ơn hết thảy HS thân yêu, vì tất cả…
 
                                                                               Võ Thị Hồng
                 http://nguyenhoangsaigon.blogspot.com/p/tinh-thay-tro.html
                 http://nguyenhoangsaigon.blogspot.com/

NGỒI ĐÂY (Tánh thiện)

                                                                                



    

              NGỒI ĐÂY

Ngồi đây thắp sáng niềm tin
Soi đường dẫn lối tâm linh đời mình
Thiền môn là bước hành trình
Phá màn u tối ngục hình trong ta .

 Hướng về Phật pháp thiết tha
Con đường trí tuệ bao la cõi lòng
Hương thơm gió mát trăng rằm
Đẹp thay ý niệm trong lành từ nay .

 Phút giây sống lại tháng ngày
Niềm vui thanh thoát đắng cay chuyển hồi
Ngồi đây dục thoát luân hồi
Nguồn tâm khởi dậy bên đồi suối reo .

                       Tánh Thiện
                       11-11-2016

NGƯỜI CÓ NỘI TÂM THỰC SỰ MẠNH MẼ LÀ NGƯỜI NHƯ THẾ NÀO?



Người có nội tâm thực sự mạnh mẽ là người như thế nào?

Cuộc sống này đầy những bon chen, cám dỗ, mỗi bước đi luôn cảm thấy rất áp lực, khó khăn. Đối trước những sự tình này, mỗi người đều có lựa chọn khác nhau, có người buông xuôi để dòng đời đưa đẩy, có người vững vàng tiến lên phía trước, có người chấp nhận hiện thực, vui vẻ với sự đời…

1. Người đàn ông với 3 nỗi đau lớn trong đời

Tôi đã từng thấy một người vô cùng khổ sở. Khi còn nhỏ thì mất mẹ, trung niên mất vợ, về già lại mất con.

Lúc đó tiếp xúc với ông, một lão nhân tinh thần minh mẫn, trò chuyện vui vẻ, nhìn thế nào cũng không ra đó là người đã phải chịu đựng 3 nỗi đau lớn trong đời.

Mỗi sớm, ông lưng đeo một Thái Cực Kiếm đi tới bãi cỏ luyện kiếm, chiều lại ở công viên cùng một nhóm bạn lão niên chơi cờ vua.

Thường ngày ông đều dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ, chế biến đồ ăn ngon, cho dù là đồ ăn rau củ bình thường nhất, ông cũng có thể chế biến ngũ vị đầy đủ. 

Thêm nữa, lúc nằm trên ghế đọc sách, đều đọc những thứ của nho gia như “Thái căn đàm”, “Phó lôi gia thư”… đều có liên qua đến thức ăn.

Bất luận là triết lý sống, hay nghệ thuật nhân văn, tôi đều học được rất nhiều từ ông lão ấy.http://tinhhoa.net/wpcontent/uploads/2014/08/BcKCN8.jpg

Ông lão thường nói với tôi: “Người mạnh mẽ thực sự, không phải chinh phục được thứ gì, mà là có thể chịu đựng được thứ gì”.

2. Cuộc sống của mỗi người thực ra đều vô cùng bất đắc dĩ

Lúc nhỏ, chúng ta thường mong muốn được lớn lên, đã mang thử giày của mẹ, mặc trộm đồ vest của cha, bởi vì chúng ta cho rằng lớn lên sẽ có được rất nhiều thứ. Nhưng mà, sau khi lớn lên, chúng ta lại phát hiện thế giới cũng không phải tốt đẹp như chúng ta vẫn tưởng tượng, chúng ta đối mặt với rất nhiều mất mát: Mất đi thân nhân, mất đi tình yêu, mất đi sức khỏe, mất đi ước mơ, thậm chí mất đi cả dũng khí để sống.

Mỗi khi đối mặt với mất mát, chúng ta đều muốn trốn tránh. Nhưng cho dù chạy trốn tới chân trời góc biển, chúng ta đều không thể nào trốn được. Người có nội tâm mạnh mẽ chưa từng nghĩ tới chạy trốn, mà trực tiếp đối mặt, sau đó học cách chấp nhận chúng.

Chấp nhận sinh mệnh ngắn ngủi vô thường; chấp nhận cuộc sống ảm đạm vô quang; chấp nhận cuộc sống nghèo khổ khốn cùng.

Chúng ta nhiều khi hay đi hâm mộ người khác, nhưng mà, sau khi thực sự hiểu rõ được họ thì sẽ phát hiện rằng, kỳ thực mỗi người đều có cuộc sống vô cùng bất đắc dĩ.

Người nghèo hâm mộ người giàu tiện nghi sang trọng; người giàu hâm mộ người nghèo đơn giản khoái hoạt.

Rất nhiều năm học đại học, nhưng sau ra làm công tác mới phát hiện rằng đó không phải là chỗ mình yêu thích; có người yêu nhau rất nhiều năm, sau khi kết hôn mới phát hiện tình cảm đối với nhau cũng không phải quá sâu đậm.
Cuộc sống chính là như vậy, tất cả mọi người đều sống vô cùng bất đắc dĩ. Đã đều là bất đắc dĩ, vậy hãy cùng nhau tiến bước, xem ai có thể ở trong bất đắc dĩ mà cười đến cùng, xem ai có thể chấp nhận bất đắc đắc dĩ nhiều hơn nữa.
Nội tâm thực sự mạnh mẽ, không phải là đi so danh đấu lợi, mà là có thể chấp nhận được trái ngang cuộc sống này nhiều hơn nữa.

3. Bài thuyết giảng khắc cốt ghi tâm

Tôi đã nghe qua vô số bài thuyết giảng, nhưng chỉ có bài giảng của thầy chủ nhiệm khoa y là khiến tôi khắc cốt ghi tâm.

Trước mỗi bài giảng, ông thường kể cho các học trò về câu chuyện của chính mình.http://tinhhoa.net/wpcontent/uploads/2014/08/BcKCN8.jpg

“Thầy của ta chính là do tự tay ta hại chết. Ta một mực cho rằng ông ấy mắc một chứng bệnh khác cần trị liệu. Cho đến khi ông qua đời vào 3 tháng trước, ta mới xem xét kỹ việc chẩn đoán bệnh, cuối cùng kết quả chẩn đoán lại là ung thư gan, đã ở giai đoạn cuối”.

“Thầy của ta trước khi chết chỉ làm một việc, chính là lập ra một di chúc, có nội dung khẳng định rằng ta không có liên quan tới cái chết của ông, không cho phép bất cứ ai khởi tố ta, mọi chuyện chỉ là do ông ấy không dạy học trò của mình được tốt”.

Lúc thầy chủ nhiệm khoa nói ra lời này thì hết sức bình tĩnh, trong tâm không một chút sợ hãi, ông biết rõ cho đến hôm nay, ông đã hoàn toàn chấp nhận bản thân mình.

Ông nói người học y cần cố gắng đạt tới trình độ y thuật tinh xảo, ngoài ra còn cần một nội tâm mạnh mẽ, có khả năng chấp nhận được chính mình. Nếu không có nội tâm mạnh mẽ, sẽ mang đến cho bản thân và bệnh nhân rất nhiều tổn thương.

Nếu không chấp nhận chính mình, thường sẽ đặt bản thân mình trong ánh mắt người khác, ví dụ, người khác kỳ vọng gì vào mình, người khác đánh giá ra sao về mình…Thật ra, điều nên được quan tâm nhất chính là: Bản thân cần đối xử với mình như thế nào, bản thân tiếp nhận chính mình như thế nào.
Người có nội tâm mạnh mẽ, bất kể là người khác tán dương hay làm tổn hại mình, đều bình tĩnh tiếp nhận. Bởi vì họ biết rõ, người khác bình luận thế nào đều là tâm tình của tự họ, người khác đánh giá thế nào đều chỉ mang bóng dáng của chính họ, không phải là bản thân mình chân thật.

4. Xuất ngoại 5 năm cuối cùng gặt hái được những gì?

Trên mạng xã hội có một bài viết, trả lời câu hỏi: “Xuất ngoại 5 năm cuối cùng gặt hái được những gì?”, đã khiến tôi nhớ mãi.

“Xuất ngoại 5 năm, thứ quan trọng nhất mà tôi thu hoạch được, không phải là vốn tiếng Anh, không phải bằng cấp, đối với tôi mà nói, chính là hai điều: Một là, hiện nay dù đưa tôi đi tới bất kỳ quốc gia nào, thậm chí là nơi xa lạ, tôi cũng vẫn có thể sinh tồn được.

Thứ hai, những thứ như xe xịn hay khu nhà cao cấp không thể làm tôi động tâm, tôi sẵn lòng mỗi ngày ngồi xe buýt, chỉ có mơ ước giản đơn có được nội tâm mạnh mẽ. Tôi cho rằng, hai điều này đủ để cho ta hưởng lợi ích cả đời”.
Người có nội tâm thực sự mạnh mẽ, sẽ không bị những thứ bên ngoài làm dao động. Túi sách LV không làm ta dao động, xe xịn, khu nhà cao cấp cũng không làm ta dao động, phụ nữ chân dài ta không dao động, những lời đồn đại của người khác càng không làm ta dao động.

Chấp nhận chính mình, trên thực tế, là chấp nhận không có khu biệt thự hay xe hơi sang trọng, chấp nhận mình không cao, không đẹp, không giàu có, tiếp nhận bản thân không có học thức uyên thâm, không có kinh nghiệm phong phú.

Người nội tâm mạnh mẽ là hoàn toàn chấp nhận được chính mình. Họ không cần mượn nhờ những thứ vật chất bên ngoài để tăng thêm sự tự tin hay cảm giác an toàn, không phải là một chiếc Ferrari ở khu biệt thự hào nhoáng, mà bình thản, đi xe đạp, ở nhà tranh lụp xụp bụi bặm.

Người nội tâm mạnh mẽ biết rõ mình nên làm gì, không nên làm gì, biết rõ mình là vì bản thân mà sống. Họ sở hữu tất cả nguồn vui sống, hết thảy đều đến từ nội tâm mạnh mẽ của chính họ.

                                                                                               Tuệ Tâm
                                                                                                                                     Nguồn tinhhoa.net

Thứ Tư, 9 tháng 11, 2016

THIỆN HỮU

lotus_5


                               THIỆN HỮU 
   
Thiện hữu cơ duyên chốn bụi trần, 
Sương pha hội ngộ cửa phù vân. 
Khêu đèn Bát Nhã soi  tâm đức, 
Thả chiếc thuyền từ sáng trí nhân. 
Ý diệu xua tan đường mỏi gối, 
Ân thâm gắn chặt  quán dừng chân. 
Bình an tuệ nguyện ơn Tam bảo, 
Tĩnh thức chuông vang giữa sắc xuân. 


                                     Minh Đạo
http://www.hoavouu.com/p41a42224/thien-huu
http://quangduc.com/a59588/thien-huu
http://quangduc.com/

Thứ Ba, 8 tháng 11, 2016

"BÁI LẠY KHÔNG PHẢI CHỈ LÀ KHOM LƯNG CÚI NGƯỜI XUỐNG”

 Kết quả hình ảnh cho hoa sen

 
" Bái lạy không phải chỉ là khom lưng, cúi người xuống mà là buông bỏ ngạo mạn.

 Niệm Phật không phải là thể hiện ở số lượng thanh âm mà là thể hiện ở sự thanh tịnh của tâm địa.

 Chắp tay không phải chỉ là khép hai tay lại mà còn thể hiện sự cung kính.

 Thiền định không phải là ngồi lâu đến mức không dậy nổi mà là trong tâm không bị dao động bởi bên ngoài.


 Vui mừng không phải là ở khuôn mặt rạng rỡ mà là ở sự khoan khoái, dễ chịu trong lòng.

 Thanh tịnh không phải là ở sự vứt bỏ dục vọng mà là thể hiện ở tâm địa không mưu cầu cái lợi.

 Bố thí, quyên tặng không phải chỉ là cho đi hết vật chất mà là chia sẻ tấm lòng yêu thương.

 Tín Phật không phải là học tập tri thức mà là thực hiện vô ngã."

                                                                     nguồn:  Theo Secretchina 
                                                                                   (Mai Trà biên dịch)
 

LỜI CẢNH BÁO CỦA VỊ THIỀN SƯ TRƯỚC LÚC LÂM CHUNG


Kết quả hình ảnh cho thiền sư


Một vị thiền sư trước khi lâm chung đã bày tỏ sự sám hối về những việc đã từng làm trong suốt cuộc đời của mình, cũng là lời cảnh báo cho tất cả những người đã và sẽ bước đi trên con đường tu luyện.

Vị thiền sư ấy là một người bạn thâm giao nhiều năm của tôi, mắc phải bệnh nan y, trong thiền định mà đối mặt với cái chết, cũng như tham ngộ về cái chết.
Vốn là bạn tốt của nhau, trước lúc ông qua đời, tôi thường xuyên đến thăm và lắng nghe những lời chỉ bảo từ ông ấy. Mỗi lần tôi đến, thấy ông luôn ngồi ngay ngắn, trên gương mặt tiều tụy luôn mỉm cười.

Chúng tôi ngồi xuống nói chuyện, ông nói: “Cả một đời của tôi đắm chìm trong hư danh. Tuy nhìn bề ngoài rất có tiếng tăm, cũng xuất bản sách, cũng có người theo tôi học Phật, nhưng tôi biết rõ, bản thân mình vốn không thật sự giác ngộ, cũng không thấy được chân ngã của mình, bây giờ nghĩ lại mới thấy tưởng thông minh lại bị thông minh hại”.

Tôi nói: “Các đấng tôn sư xưa nay, chẳng phải cũng có những người đã đắc Đạo trước lúc lâm chung hay sao?”

Ông nói: “Đó là người đại căn khí, buông bỏ vạn duyên, tâm hồn thanh tịnh, không giống loại tiểu căn khí như tôi. Cả đời này của tôi, chính vì rất thông minh, rất có tài, rất có tình, vì vậy mà có quá nhiều thứ không thể buông bỏ được.”http://tinhhoa.net/wpcontent/uploads/2014/08/BcKCN8.jpg

Tôi lại hỏi: “Thế ông gần đây tu luyện thế nào vậy? Mỗi lần tôi tới, đều thấy ông đang ngồi thiền, tôi cũng không đành lòng quấy rầy ông, chỉ đứng ở bên ngoài niệm Phật, cầu nguyện cho ông!”

Thiền sư cười nhạt một tiếng, nói: “Cảm ơn ông! Về chuyện sinh tử, khi nào chết, thậm chí kiếp sau đầu thai nơi nào, tôi đều đã biết được”.

Tôi nói: “Thế chẳng phải là ông đã tu được rất cao rồi sao, ông đã biết được khi nào sẽ chết, đầu thai nơi nào, vậy mà còn chưa khai ngộ sao?”

Thiền sư có chút hổ thẹn nói: “Đấy chỉ là chút bản sự cỏn con, không con chút quan hệ gì với khai ngộ cả, càng không có quan hệ với việc tìm được chân ngã của mình. Từ khi 3 tuổi, tôi đã có thể nhớ lại nhân duyên đầu thai của mình. Đời này của tôi từ sớm đã biết rõ bản thân ‘sống đến từ đâu’, một đời tu hành chỉ là muốn biết được ‘chết đi về đâu’.

Bây giờ có thể biết rõ ngày chết, cũng biết sau khi chết sẽ đi về đâu, chẳng qua vẫn là luân hồi làm chúng sinh trong Tam giới. Cái kiểu tu hành qua loa này nếu đem so với việc đắc Đạo hoặc khai ngộ hoặc tìm lại được chân ngã của mình thì hãy còn xa lắm”.

Tôi hỏi: “Vậy sao gần đây ông tinh tấn tu hành vậy?” 

Thiền sư nói: “Một lòng sám hối những nghiệp chướng đó, tịnh hóa từ trong tâm. Tôi là một người sắp chết, mong sao trước khi chết, thanh lọc nội tâm mình, mấy tháng nay tôi không ngừng sám hối.

Tôi sám hối cho những nghiệp chướng tôi đã tạo ra, sám hối cho những việc làm sai trái mà tôi đã phạm phải. Sám hối bản thân mình đã không tận hiếu thật sự, sám hối bản thân mình đã làm tổn thương người thân bạn bè, sám hối bản thân đã từng nói rất nhiều lời ngông cuồng, sám hối bản thân đã từng miệng nói một đằng, tâm nghĩ một nẻo, sám hối vì tôi đã làm tổn thương về tâm hồn đối với những cô gái đã từng yêu tôi, sám hối những lời dối trá đối với đồng tu…”.

Thiền sư đã nói nhiều sự tình cần phải sám hối như vậy, lúc nói ông còn chảy nước mắt. Ông nói với tôi: “Một người, trước khi lâm chung mà thành tâm sám hối, chính là buông bỏ gánh nặng, nhẹ nhàng mà lên đường”.