BỐN PHÁP ẤN
CỦA ĐẠO PHẬT
Đức Đạt Lai Lạt ma
Bốn pháp ấn của Đạo
Phật hay những chân lý hình thành nên một bộ phận quan trọng của giáo
huấn tôn giáo của chúng ta. Liên hệ đến thời đại của chúng
ta cũng là sự rèn luyện và hòa bình của tâm thức. Phương
pháp của Đạo Phật về chuyển hóa tâm thức không
chỉ là một vấn đềniềm tin mà cũng là một sự thuyết phục đạt
đến được qua thiền phân tích. Vì thế, khảo sát là rất cần yếu.
Nhằm để thực hiện một
sự khảo sát trong sự quan tâmnày, chúng ta cần một thái độ hoài
nghi. Chúng ta không chỉ chấp nhận những vấn đề trong
một niềm tin mù quáng. Chủ nghĩa hoài nghi đưa đến những
câu hỏi, và câu hỏi kêu gọi một sự khảo sát. Sự khảo sát là thiền quán phân
tích qua điều mà chúng ta đạt đến một sự tỉnh thức trong
sáng hơn: một hình ảnh trong sáng hơn của thực tại.
Điều này phát sinh sự thuyết phục vững chắc. Chỉ qua sự thuyết
phục vững chắc mà sự chuyển hóa tinh thần có thể xãy
ra.
Nói cách khác, cái đầu
hay bộ óc chúng ta giống như một phòng thí nghiệm. Sự thông minh của con
người là đặc biệt và khác biệt với những chủng loại có vú khác.
Sự thông minh như thế là một khí cụ. Vì thế, trong phòng thí nghiệm
của não bộ, sự thông minhcủa con người hay khả năng thông
thái được sử dụng như một khí cụ để thẩm tra những cảm xúc khác
nhau, và rồi thì tiến hành những sự thể nghiệm trên một cấp độ cảm
xúc. Điều này có thể làm cho chúng ta chuyển hóa những cảm
xúc của chúng ta.
Theo một số nhà khoa
học, cảm xúc không nhất thiết là tiêu cực. Cảm
xúc là một cảm nhận rất mạnh mẽ. Trong khi một số cảm xúc là tàn
phá, những cảm xúc khác là xây dựng. Trong một gặp gở với những
nhà khoa học, chúng tôi đã kết luận rằng có những cảm
xúc ngay cả trong tâm của Đức Phật. Có một cảm giác mạnh mẽ
của việc quan tâmvà từ bi và cũng là sự thân chứng tính
không.
Lúc ban đầu, chỉ
có một cảm nhận mơ hồ của tính không. Tại một trình độ,
không có cảm xúc, nhưng một khi chúng ta trở nên quen thuộc hơn
với tính không, rồi thì cảm nhận ấy sẽ tăng lên. Tại một trình độ nào
đó, sự thân chứng tính không cũng trở thành một loại cảm
xúc. Do vậy, trong sự thực hành phát triển tuệ trí và yêu
thương ân cần / từ bi, chúng ta sẽ làm mạnh lên những
phẩm chất nội tại và rồi thì đạt đến một thể trạng nơi mà chúng
ta có một đợt bộc phát của cảm giác gọi là cảm
xúc. Chúng ta có thể thấy một cách rõ ràng sự nối kết này
giữa thông tuệ và cảm xúc. Thế nên, não bộ và trái tim có thể đi
bên cạnh nhau. Tôi nghĩ đây là sự tiếp cận của Đạo Phật.
Trong những truyền
thống tư tưởng cổ xưa của Ấn Độ, những phương pháp tương
tự đã được chấp nhận và thực hiện. Điều đặc biệt đối
với Phật Giáo là Đức Phật cho chúng tasự tự do để
đặt câu hỏi đối với những ngôn từ của chính Ngài. Đức Phật đã
nói một cách rõ ràng rằng tất cả những Tì kheo và người thông
tuệ nên thẩm tra những ngôn từcủa Ngài giống như một người thợ kim
hoàn kiểm tra vàng bằng việc đánh bóng, cắt gọt, và đặt nó trong
lửa. Ngài yêu cầu mọi người không được chấp nhận những giáo
huấncủa Ngài hoàn toàn từ niềm tin.
Do vậy, có một sự nối
kết giữa kiến thức trừu tượng và kinh nghiệm thực sự.
Chúng đi đôi với nhau. Dường như đối với tôi, mỗi quốc gia quan
trọng có một tôn giáo truyền thống. Có hai khía cạnh đối với tôn
giáo: một là sự rèn luyện tâm thức, và thứ đến là triết lý. Trong
dạng thức của sự rèn luyện tâm thức, tất cả những tôn giáo quan
trọng là giống nhau. Tất cả cùng có khả năng giống nhau để chuyển hóa tâm
thức của con người. Một sự biểu hiện rõ ràng của điều này
tất cả những truyền thống tôn giáo quan trọng chứa đựng thông
điệp của từ ái, bi mẫn, tha thứ, toại nguyện, và kỷ luật tự
giác. Thông điệp là giống nhau, nhưng trong một số trường hợp, ý
nghĩa có thể hơi khác nhau do bởi triết lý của họ khác nhau.
Có thể có những sự
khác biệt quan trọng trong triết lý của những tôn giáo khác nhau
nhưng chúng ta không thể nói rằng tôn giáo này tốt hơn tôn
giáo kia. Tất cả có cùng khả năng để chuyển hóa tâm thức. Tuy
thế, mỗi chúng ta có một thiên hướng tinh thần khác
nhau. Vì thế, chúng ta thấy có nhiều phương pháp khác nhau
để tiếp cận. Tuy vậy, kết quả hay tác dụng là giống nhau nhiều hơn
hay ít hơn.
Do vậy, chúng ta không
thể nói rằng tôn giáo này hay tôn giáo kia là tốt hơn.
Một thái độnhư vậy cho phép chúng ta phát triển sự tôn
trọng đối với những truyền thống tôn giáoquan trọng khác. Hàng
triệu người đã từng được truyền linh cảm bởi những truyền thốngkhác nhau
trong quá khứ. Nó có thể giúp họ hướng đến một đời sống đầy đủ ý
nghĩa. Trong tương lai, hàng triệu người sẽ tiếp tục được truyền cảm
hứng và, như một kết quả, đời sống của họ cũng sẽ trở nên đầy đủ ý
nghĩa hơn và tràn đầy với từ bi. Về phía triết lý, tuy thế, chúng
ta có thể nói rằng triết lý này là phức tạp hơn hay triết lý nọ
là đơn giản hơn.
Trong người Tây
Tạng, chúng tôi nói về bốn pháp ấn hay bốn chân lý của Đạo
Phật. Đây là:
1- Tất cả những hiện
tượng do duyên sinh là vô thường (chư hành vô
thường);
2- Tất cả những hiện
tượng nhiễm ô là khổ đau (nhất thiết hành khổ);
3- Tất cả những hiện
tượng là vô ngã và trống không (chư pháp vô ngã);
4- Niết bàn là
hòa bình (niết bàn tịch tĩnh).
Để giải thích pháp
ấn thứ nhất: những hiện tượng đuyên sinh là vô thường,
trước hết chúng ta phải thấu hiểu rằng căn bản của nó liên
hệ đến vô thường. Bất cứ hiện tượngđặc thù mà lệ thuộc trên
những nguyên nhân và điều kiện của nó cho sự tồn tại của
nó là được phân loại như một hiện tượng duyên sinh. Hiện tượng này lệ
thuộc đến nguyên nhân và điều kiện (nhân và duyên). Thí
dụ, trong khi ngồi trong một căn lều đặc biệt, chúng ta tỉnh
thức rằng không có cây cối gì. Do bởi sự vắng bóng của
“cây cối”, chúng ta có thể biết rằng cây cối không hiện hữu.
Trong cách này, tâm thức chúng ta có thể biết điều gì
đấy; được gọi là, sự không tồn tại của cây cối. Vì thế, điều này rõ
ràng chứng tỏvới chúng ta rằng sự không tồn tại của
cây cối là hiện hữu thật sự bởi vì nó là chủ đề đối với tri
thức của chúng ta.
Đồng thời, sự không hiện
hữu của “cây cối” rõ ràng không tồn tại trong một ý
nghĩa củavật lý vì thế chúng ta có thể thấy hay nhận
thức nó. Cũng thế, nó là sự xác nhận một đối tượng có thể nhận
thức và thực tế, nhiều thứ mà chúng ta thừa nhận phải
được làm nên trong những dạng thức của sự thông hiểu về sự không hiện
hữu của cây cối. Thí dụ, lấy những bông hoa mà chúng ta có
thể thấy. Một trong những phẩm chất mà chúng ta tìm thấy trong
những bông hoa là sự không hiện hữu của cây cối, chúng ta thấy
sự tồn tại vô tận của sự không hiện hữu của những đối
tượng khác không là bông hoa. Chắc chắnrằng sự không hiện hữu của
những đối tượng khác này trong bông hoa đặc thù này dứt khoát là đối
tượng có thể nhận thức được. Nhưng cùng lúc, nó không phải là
loại đối tượng có thể định rõ đặc điểm được.
Tương tự thế,
trong trường hợp của những đối tượng chẳng hạn như vô thường hay vô
ngã, chúng có thể được lĩnh hội và nhận thức bởi tâm thức, nhưng đồng
thời, không có một sự tồn tại được làm cho có thể từ phía của chúng.
Trong cùng cách, khi chúng
ta nói về tính đại cương hay đặc thù, tốt hơn hãy nghĩ
về những bông hoa cá thể, chúng ta có thể nghĩ về một “bông hoa”
trong một ý nghĩa tổng quát. Thí dụ, chúng ta có thể
thấy một bông hoa đặc thù ở một nơi đặc biệt tại một thời gian đặc
trưng. Rồi thì sau này, sau một thời gian nào đấy chúng ta thấy
một bông hoa khác với một màu sắc khác. Đơn giản bằng việc thấy bông
hoa thứ hai, chúng ta có thể kết luận rằng đây cũng là một
bông hoa. Do thế, khi chúng ta đặt tên thuật ngữ “bông
hoa”, đến những đối tượng đặc thù nào chúng ta đặt tên cho thuật
ngữ ấy?
Nếu thuật ngữ “bông
hoa” được đặt tên duy nhất cho bông hoa đặc thù mà chúng ta đã
thấy trước đây, rõ ràng bông hoa đặc thù ấy không thể tìm thấy trong
bông hoa mà chúng ta thấy sau này. Do vậy, có một loại “bông hoa” có
phẩm chất chung của cả hai loại hoa này. Tuy nhiên, mặc dù đây là một thực
tế, nó không có nghĩa rằng có một loại “bông hoa” chung thâm nhập khắp
tất cả những loại bông hoa và là loại hoa tồn tại khác biệt với những
loại bông hoa này.
Do thế, khi chúng
ta chú ý một bông hoa đặc thù, chúng ta đang quán chiếu một
loại phẩm chất khác biệt với những đối tượng không phải là bông hoa. Cùng phẩm
chất ấy cũng được tìm thấy trong bông hoa mà chúng ta thấy
sau này. Đấy là do bởi phẩm chất này mà chúng ta có thể
thấu hiểu, nhận thức, và phân biệt những kiểu mẫu khác nhau của
những đối tượng khác nhau này như là những ‘bông hoa’.
Bây giờ câu hỏi lại
phát sinh: một hiện tượng như thế là nguyên nhân hay điều
kiện (nhân hay duyên)? Tất cả những hiện tượng hiện hữu có
thể được phân biệt thành hai đặc trưng: những hiện tượng hiện
hữu và những đối tượng không hiện hữu. Khi chúng ta nói về
một đối tướng hiện hữu, nó được quyết định trong ý nghĩa rằng
có một ý thức thấu hiểu nó, nhận thức nó. Trong trường
hợp của một đối tượng không hiện hữu, nó là điều gì đấy không thể nhận
thức hay lĩnh hội bằng bất cứ loại ý thức nào.
Chúng ta không
bao hàm ở đây bất cứ điều gì được nhận thức bởi bất cứ loại tâm
thứcnào thật sự hiện hữu. Vì thế, một lần nữa, chúng ta phải
làm một sự phân loại riêng biệt giữa những loại tâm thức khác nhau: tâm
thức có căn cứ và tâm thức không có căn cứ. Đấy là do bởi điều
này khi chúng ta nghiên cứu nhận thức luận Phật Giáo, chúng
ta thấy những loại tâm thức được diễn tả.