Thứ Tư, 23 tháng 1, 2019

HỒNG TRẦN CHÍNH LÀ ĐẠO TRƯỜNG RỘNG LỚN, TU HÀNH ĐÂU NHẤT THIẾT PHẢI Ở NÚI SÂU?

                                     
Hình Internet

Tu hành đâu nhất thiết phải ở trong núi sâu, hồng trần cũng là đạo trường rộng lớn. Thật ra tu hành và cuộc sống là một thể thống nhất, mục đích của tu hành cũng chính là để giải quyết các vấn đề thực tế trong cuộc sống, bàn chuyện tu hành mà rời xa cuộc sống, sẽ không tránh khỏi việc trốn tránh vấn đề. Nấu cơm, rửa bát, làm việc nhà, thực hiện nhiệm vụ bản thân cũng là một loại tu hành.

Con người nhờ công việc mà trở nên cao quý, cũng thể hiện được giá trị của bản thân. Chỉ cần bạn có một nội tâm vững vàng, vậy thì vào bất cứ thời điểm nào, bạn đều có thể tu hành trong công việc. Nói cách khác, bất kể hiện tại bạn đang ở trong hoàn cảnh nào, chỉ cần bạn có thái độ đúng đắn với công việc, bạn chính là một người cao quý, một người có giá trị.

Người ta thường nói, hành động bồi dưỡng thói quen, thói quen hình thành nên tính cách, tính cách quyết định vận mệnh. Một người muốn xử lý công việc phức tạp một cách dễ dàng và hiệu quả, anh ta không chỉ cần phải hình thành thói quen mỗi một lần chỉ làm một việc, mà còn phải có ý thức rèn luyện sự tập trung cao độ.
Chẳng hạn, khi anh ta đang có một việc cần làm, trong lòng chỉ được nghĩ đến việc đó, giống như trên thế gian này chỉ còn duy nhất một việc. Trạng thái này, chính là chữ “kính” trong Nho giáo, cũng là chữ “định” mà Phật giáo hay nhắc đến.
Tu hành là gì? Có nhất định phải thoát ly cuộc sống chạy lên chùa hay đạo quán để tụng kinh niệm Phật? Có phải nhất định phải chuyên tâm ngồi thiền, đọc sách tu hành?

Khi cuộc sống nảy sinh các vấn đề rắc rối, chúng ta luôn cảm thấy các vấn đề trong cuộc sống đã làm rối loạn sự tu hành của mình. Tu hành chân chính không phải trên núi, không phải trong đạo quán, không thể rời xa xã hội, không thể thoát ly hiện thực. Cần phải tu hành trong cuộc sống, tu hành trong công việc. Kỳ thực, cuộc đời chính là sự tu hành.
Tu hành, hai chữ này khiến người ta nghĩ đến một ẩn sĩ an phận một chỗ trên núi rừng, không nhà không cửa, tĩnh tọa, nay đây mai đó, khổ não suy tư về sự sống trong vũ trụ. Tuy nhiên định nghĩa về sự tu hành tuyệt đối không chỉ hạn hẹp như vậy. Tu hành trong cuộc sống, coi công việc là một sự tu luyện dũng cảm hơn nhiều lần so với việc tự mình “trốn đi” tu thân.
Việc cân bằng giữa công việc và gia đình, giữa áp lực và sức khỏe, giữa dục vọng, vô thường và hỉ nộ ái ố… tìm kiếm sự cân bằng trong các mối quan hệ phức tạp, ngược lại càng khiến chúng ta nhìn thấy bức tranh chân thực về cuộc sống.
Tu hành đâu nhất thiết phải ở trong núi sâu, hồng trần cũng là đạo trường rộng lớn. Thật ra tu hành và cuộc sống là một thể thống nhất, mục đích của tu hành cũng chính là để giải quyết các vấn đề thực tế trong cuộc sống, bàn chuyện tu hành mà rời xa cuộc sống, sẽ không tránh khỏi việc trốn tránh vấn đề. Nấu cơm, rửa bát, làm việc nhà, thực hiện nhiệm vụ bản thân cũng là một loại tu hành.
Có phương pháp cụ thể nào để bồi dưỡng nhân cách và rèn luyện tâm hồn không? Có nhất định phải thực hiện những loại tu hành đặc biệt, ví dụ như bế quan trong núi sâu, để cơ thể phải chống chọi với những chuyện như thác nước cuồn cuộn từ trên trời đổ xuống? Quan trọng nhất, chính là việc chúng ta hàng ngày nỗ lực làm việc ở tại nơi mà chúng ta đang sống.
Kazuo Inamori, một trong bốn vị doanh nhân nổi tiếng nhất của Nhật Bản từng nói: “Làm việc chính là tu hành, môi trường làm việc chính là đạo trường. Mỗi một công việc đều là một cơ hội tu hành. Sự tu hành trong công việc, không phải là ngồi ngay ngắn nghiêm trang niệm kinh bái Phật, cũng không phải ra vẻ hiểu biết, nó là một hành vi được phát sinh từ nội lực mạnh mẽ”.
Công việc có giá trị và ý nghĩa vừa cao cả lại sâu rộng đối với mọi người. Lao động có thể khiến chúng ta chiến thắng dục vọng, tôi luyện tâm tính, bồi dưỡng nhân cách. Mục đích của nó không chỉ là trao đổi nhu cầu cuộc sống, bởi vì trao đổi nhu cầu cuộc sống chỉ là một công dụng phụ mà lao động mang lại. Vì vậy, dồn toàn bộ tinh thần vào công việc hàng ngày, là một việc rất quan trọng, chỉ như vậy mới có thể đạt được mức “tu hành” tối cao trong việc rèn luyện tâm hồn, nâng cao tâm tính.
Phật Thích Ca Mâu Ni cho rằng “tinh tấn” là điều vô cùng quan trọng, là một trong những phương pháp để đạt đến cảnh giới giác ngộ trong tu hành. Tinh tấn là chỉ sự nỗ lực trong công việc, tâm tư tập trung vào công việc trước mắt. Trong công việc, tự giác đào sâu tiềm năng vốn có, phát huy hiệu quả bồi dưỡng nhân cách, tôi luyện tâm tính, nâng cao trình độ. Vì thế, chỉ tập trung tinh thần vào một việc, đối với công việc luôn chăm chỉ không ỷ lại, quá trình nỗ lực ngày qua ngày sẽ rèn luyện được tâm hồn của bạn, đồng thời nuôi dưỡng được một nhân cách có chiều sâu.
Có câu ngạn ngữ: “Thành tựu trong công việc, không bằng thành tựu một người biết làm việc”. Lao động đáng được tôn sùng, đạo lý chính là đây. Tôi luyện tâm tính, cụm từ này có thể khiến mọi người liên tưởng đến tu hành tôn giáo, thực ra muốn yêu thích một công việc từ tận đáy lòng, thì phải toàn tâm toàn ý.
Nhân cách phải được trau dồi thông qua công việc, cũng có nghĩa là, triết học được thai nghén ra từ mồ hôi nước mắt, tâm tính cũng phải được tôi luyện trong lao động hàng ngày. Toàn tâm toàn ý vào công việc mình phải làm, không ngừng động não suy nghĩ, cố gắng thực hiện, như vậy mới biết trân trọng mỗi ngày mỗi thời khắc có được trong cuộc sống.
Cuộc sống chỉ có một lần, mỗi ngày đều phải sống “cực kỳ nghiêm túc”, không mảy may lãng phí, phải sống chân thành nghiêm túc cho đến “cực kỳ” nghiêm túc. Thái độ cuộc sống xem chừng có vẻ ngu ngốc này, nếu như có thể kiên trì trong thời gian dài, thì bất kể người tầm thường nào cũng có thể trở thành nhân vật siêu phàm.
Những người giành được danh tiếng “người nổi tiếng” trên thế giới, những người có tài dẫn đầu trong các lĩnh vực, e rằng đều đi theo con đường này. Lao động không những có thể sản sinh ra giá trị kinh tế, cũng có thể tạo ra giá trị cho nhân loại.
Vì vậy, con người đâu cần phải rời xa chốn phàm trần? Môi trường làm việc chính là môi trường tôi luyện tinh thần tốt nhất, làm việc chính là một loại tu hành. Chỉ cần mỗi ngày thực sự nỗ lực làm việc, bồi dưỡng nhân cách thanh cao, sẽ có được cuộc sống tươi đẹp một cách dễ dàng.
Thế gian này chỉ có người không có chí tiến thủ, chứ không có việc nào không có tiền đồ. Có một người thợ mộc già đã hơn 60 tuổi, một hôm ông nói với ông chủ rằng mình muốn nghỉ hưu, về nhà cùng vợ con an hưởng tuổi già. Ông chủ không muốn ông nghỉ hưu, hết lần này lần khác níu kéo, nhưng lúc này người thợ mộc đã quyết tâm, không gì lay chuyển được, ông chủ đành chấp thuận.
Cuối cùng ông chủ hỏi ông ta có thể giúp xây một căn nhà cuối cùng được không, người thợ mộc già đồng ý. Trong quá trình xây nhà, người thợ mộc già đã không để tâm đến công việc nữa. Việc lựa chọn vật liệu cũng không chặt chẽ, nên xây nhà cũng không đúng chuẩn như trước kia, có thể nói, tinh thần kính nghiệp của ông đã không còn.
Ông chủ nhận ra điều đó nhưng không nói gì cả, chỉ là sau khi căn nhà hoàn thành, ông giao chìa khóa cho người thợ mộc, rồi nói: “Đây là nhà của ông, là món quà tôi tặng cho ông”. Người thợ mộc già sửng sốt, cả đời này ông đã xây bao nhiêu căn nhà, nhưng không ngờ rằng cuối cùng lại xây cho mình một căn nhà được làm cẩu thả như vậy. Nguyên nhân rốt cuộc là vì người thợ mộc già đã không coi tinh thần kính nghiệp, vốn là một phẩm chất cao quý của sự nghiệp để duy trì nó đến cuối cùng.
Một người để kính nghiệp trong một khoảng thời gian thì rất dễ, nhưng để từ đầu đến cuối trong công việc, đều coi tinh thần kính nghiệp là một phẩm chất nghề nghiệp của mình thì rất hiếm thấy. Tinh thần kính nghiệp đòi hỏi chúng ta làm bất kể việc gì đều phải chu toàn từ đầu đến cuối.
Một người cuối cùng sẽ trở thành người thế nào, không quyết định bởi Thượng đế đã ban cho bạn lá bài như thế nào, mà được quyết định bởi bạn dùng tâm thái hay cách gì để chơi lá bài đó. Mà vấn đề then chốt nhất để có thể chơi lá bài cuộc sống này cho thật hay, đó chính là nâng cao sự kính nghiệp và lạc nghiệp. Đặc biệt là trong thời đại cạnh tranh khốc liệt, càng phải có bản lĩnh tu hành hơn người, càng phải tôi luyện một nội tâm mạnh mẽ tràn đầy năng lượng.
Sống không phải là hưởng lạc, mà là một công việc vô cùng nặng nề. Chúng ta đều hi vọng bản thân có thể trở thành một người có chí tiến thủ, nhưng khi gặp một tình huống nào đó thì lại không biết bắt đầu từ đâu. Có lẽ bạn nên xem lại triết lý nhân sinh mà bạn vốn đã sớm hiểu rõ, đây cũng là “nhân tố dinh dưỡng” cần phải có cho một tâm lý lành mạnh.
“Con người sống ở trên đời, sẽ phải thức mãi mãi!”. Có người sống vì công việc, có người sống vì ước mơ, có người vì muốn tìm ra rốt cuộc là sống vì điều gì nên tiếp tục sống. Được sinh ra là quyền lợi mà Thượng đế ban tặng, còn sống lại phải dựa vào trí tuệ và dũng khí của bản thân.
Chỉ có khởi hành, mới có thể đạt được lý tưởng và mục đích; chỉ có nỗ lực, mới có thể giành được thành công rực rỡ; chỉ có gieo hạt, mới có thu hoạch; chỉ có theo đuổi, mới có thể nếm trải thế nào là một con người đường đường chính chính.
Chỉ có chuyên tâm học hành, tập trung làm việc, tu hành trong công việc, tôi luyện tinh thần nghề nghiệp trong công việc, tích cực thay đổi thái độ, giải phóng năng lượng sống ngày một mạnh mẽ hơn, mới có thể đạt được cuộc sống điềm đạm lành mạnh.

Tuệ Tâm, theo Secret China

TRỜI THƠ (Thơ xướng họa)


TRỜI THƠ (Liên hoàn)
Hàng hiên nguyệt lững ngắm trời thơ,
Đếm lại thời gian dạ thoáng mờ.
Kẻ ở đìu hiu ôm sợi nhớ,
Người đi thăm thẳm rướm xuân chờ.
Xây tình tuổi hạc, niềm xa vắng,
Dệt mộng ngày xanh, nỗi lặng tờ.
Ký ức hương thầm say chuyện đã,
Đêm dài sương lạnh mãi còn mơ.

Đêm dài sương lạnh mãi còn mơ,
Cái tỉnh cái mê dáng vật vờ.
Gió giận rì rào… mong kẻ đón,
Mây đành vô tận… để ai chờ.
Tìm đâu lối ngõ thời da diết,
Ngóng cả đường quê phút thẩn thờ.
Khung cửa liêu xiêu, cay khóe mắt,
Sâm thương chẳng gặp, đếm sao mờ. (*)
23/1/2019
Minh Quang
-----------------------------------
(*) Sao Sâm và sao Thương, hai ngôi sao ở hai chòm khác nhau không bao giờ hiện ra một lúc trên vòm trời. Tình trạng hai người ở xa cách nhau và không bao giờ gặp nhau.

Phúc Điền KỶ NIỆM QUAY VỀ (Liên hoàn)
Kỷ niệm quay về chạnh nỗi thơ,
Người đi mấy thuở bóng xa bờ.
Thương ngày quá đỗi ngây lòng nhớ,
Giận lúc dửng dưng khổ kẻ chờ.
Lóng ngóng duyên hời nghe khắc khoải,
Lao xao phận bạc lịm như tờ.
Tìm nhau chẳng đặng thôi sầu cảm,
Gác lại bao niềm tựa giấc mơ.

Gác lại bao niềm tựa giấc mơ,
Nhiêu năm chuyện cũ xốn nhưng vờ.
Người đau duyên nợ ràng thời ngóng,
Kẻ chạnh lời yêu rối lúc chờ.
Bởi giữ hương nồng vui cõi mộng,
Vì trông phận lắng rộn đường thơ.
Hòa chung khúc ấy cho ngày mới,
Nẻo khuất quên đi tiễn dạ mờ..
23/1/2019
Phúc Điền

Đình Diệm HTM
THẤM THÍA HỒN THƠ (Liên hoàn)

Xuân về lãm nguyệt gợi lời thơ
Thoảng bóng ngày qua ý tưởng mờ
Viễn xứ bao thu lòng mãi đợi
Quê người mấy hạ dạ hoài chờ
Mây giăng vạn dặm tình xa vắng
Gió cuộn muôn trùng nghĩa lắng tờ
Đọng giọt tàu cau trăng lộng sáng
Bùi ngùi gối mộng lặng hồn mơ

Bùi ngùi gối mộng lặng hồn mơ
Tĩnh tĩnh mê mê cứ vẫn vờ
Ướt giọt sương thề bờ đợi ngóng
Thơm mùi cỏ nguyện bến mong chờ
Bên hiên mãi nhớ thời thơ dại
Cạnh liếp hoài thương buổi thững thờ
Lối cũ còn mang bao kỷ niệm
Nhìn đêm thấm thía ánh trăng mờ
Hương Thềm Mây .GM.Nguyễn Đình Diệm
23.01.2019

Thứ Hai, 21 tháng 1, 2019

TÂM ĐỒNG (Thơ xướng họa)



TÂM ĐỒNG (Thủ vĩ ngâm)
Hữu hảo tâm đồng rộn khúc ca,
Tu tròn giáo pháp trọn đường qua.
Vô ưu vườn đạo luôn ươm sắc,
Hỷ lạc hương thiền vốn kết hoa.
Muôn ngã triêm ân câu diệu lí,
Ngàn phương đáp nghĩa tiếng an hòa.
Tùy duyên động niệm theo bờ giác,
Hữu hảo tâm đồng rộn khúc ca.
22/1/2019
Viên Minh

Minh Quang VUI CÙNG THIỆN HỮU (Cẩn họa)
(Thủ vĩ ngâm)
Vui cùng thiện hữu xướng tình ca,
Ngẫm dệt đôi vần tiến nẻo qua.
Dẫu hiểu theo trần luôn chuộng sắc,
Tuy rằng dạo cảnh lẫn tìm hoa.
Quần sanh lặng lặng nào tâm dữ,
Vạn loại như như rõ tánh hòa.
Đã thấu tùy duyên mà động niệm,
Vui cùng thiện hữu xướng tình ca.
22/1/2019
Minh Quang

Ninh Khang GẶP GỠ TA CÙNG (Thủ vĩ ngâm)
Gặp gỡ ta cùng xướng họa ca,
Cho điều não nuột chóng trôi qua.
Xuân trần vạn thuở đều khoe sắc,
Ong bướm bao ngày vẫn đắm hoa.
Cứ vậy lòng an vun cõi lắng,
Rõ ra tánh thiện sống dương hòa.
Thênh thang chẳng ngại bên niềm tục,
Gặp gỡ ta cùng xướng họa ca.
22/1/2019
Ninh Khang (Cẩn họa)

Đình Diệm HTM
TÌNH ĐỜI NGHĨA ĐẠO
(Thủ vỹ ngâm)
Tình đời nghĩa đạo xướng tâm ca
Pháp Phật khai đường mở lối qua
Muôn dặm bờ mơ muôn dặm sắc
Vạn trùng bến mộng vạn trùng hoa
Vô ưu ý khởi cầu sư giáo
Hỷ lạc lòng khai nguyện chúng hòa
Thức tĩnh chiêm bao về nẻo giác
Tình đời nghĩa đạo xướng tâm ca.
Hương Thềm Mây . GM Nguyễn Đình Diệm
22.01.2019

Tâm Ân Kính họa cùng sư huynh XUÂN HỒNG (Thủ vĩ ngâm)
Thức dậy xuân hồng rộn tiếng ca
Xin chào tạm biệt rét đông qua.
Bên vườn lộc nõn thay màu lá,
Trước ngõ mai vàng hé nụ hoa.
Rạng rỡ quần sinh ngày mãi thấm,
Xôn xao vạn vật cảnh luôn hòa.
Hoài mong hạnh phúc tràn dâng khắp,
Thức dậy xuân hồng rộn hót ca.
22/1/2019
Tâm Ân

ĐỂ BỤNG TÌM NHAU (Thơ xướng họa)



ĐỂ BỤNG TÌM NHAU

Gieo vần quí bạn bởi đường tâm,
Để bụng tìm nhau sẽ bớt lầm.
Tiếng ảo xua dần đời mãi đậm,
Danh nhừ bỏ hết dạ mòn thâm.
Tùy duyên mỗi kiểu càng vui thấm,
Thuận cảnh nhiều nơi vẫn xứng tầm (tìm).
Ngẫm nẻo vô thường…sao sống chậm…
Cùng nương cõi thế, hiểu ôm chầm.
21/1/2019
Minh Quang

Đình Diệm HTM
CÙNG GẮN BÓ

Xướng họa cùng nhau cảm nhận tâm
Gieo hồn thi tứ hiểu không lầm
Phai dần tiếng ảo càng thêm đượm
Thấm thía lời chân mãi nặng thâm
Khế hợp bao thời tình ước kiếm
Thuận duyên mấy thuở nghĩa mong tầm
Đời người một thoáng rồi đôi ngả
Gắn bó thân thương vấn vít chầm.
Hương Thềm Mây .GM.Nguyễn Đình Diệm

Tâm Ân NGÕ TÂM (Cẩn họa)

Xướng họa thơ người chủ ngõ tâm,
Vì trong ngữ điệu ít khi lầm.
Thời gian để nghĩ ngày thêm đậm,
Kỷ niệm hay tìm khúc rõ thâm.
Hiểu được cùng duyên đùa sẽ thấm,
Hoài mong kết nghĩa rộn luôn tầm.
Hồn nhiên tuổi xế thôi đừng chậm,
Siết cả niềm tin khó cưỡng chầm.
21/1/2019
Tâm Ân

Thứ Bảy, 19 tháng 1, 2019

6 THÓI QUEN BUỔI SÁNG TƯỞNG VÔ HẠI LẠI LÀM TỔN THƯƠNG GAN NGHIÊM TRỌNG

Gan là một bộ phận quan trọng trong cơ thể con người, tuy nhiên rất dễ tổn thương nếu chúng ta không biết chăm sóc đúng cách. Dưới đây là một số thói quen xấu vào sáng sớm dễ gây tổn thương gan bạn nên chú ý:
1. Thức đến sáng
Khoảng thời gian buổi tối từ 23h - 1h sáng hôm sau là lúc cơ thể cần được nghỉ ngơi, thư giãn. Lúc này gan có chức năng sẽ làm nhiệm vụ thải độc, loại bỏ chất thải ra khỏi cơ thể. Còn trong khoảng 1h - 3h sáng, túi mật trong gan sẽ giúp cơ thể tiêu hóa chất béo, mỡ xấu, cholesterol trong thức ăn và trong máu.
Thức khuya trong một thời gian dài sẽ dần cảm thấy mệt mỏi, chán ăn, vàng da...© Kiến Thức Thức khuya trong một thời gian dài sẽ dần cảm thấy mệt mỏi, chán ăn, vàng da...
Cơ quan gan có chức năng thực hiện tốt nhất các vai trò này khi cơ thể trong trạng thái ngủ sâu. Nếu bạn duy trì thói quen ngủ không đủ giấc, thức khuya hoặc thức trắng đêm trong một thời gian dài, các cơ quan của cơ thể phải làm việc quá sức sẽ sản sinh ra nhiều chất cặn bã dư thừa từ hoạt động chuyển hóa của tế bào, điều này sẽ làm tăng gánh nặng đối với hoạt động chuyển hóa thải trừ và giải độc gan.
Từ đó, chức năng gan bị ảnh hưởng từ từ, âm thầm và lâu dài. Đồng thời, thức khuya kéo dài làm đảo lộn nhịp sinh học của cơ thể, điều đó có thể ảnh hưởng đến hệ miễn dịch của bạn làm giảm khả năng đáp ứng miễn dịch của cơ thể đối với virus viêm gan B.
Những người thức khuya trong một thời gian dài sẽ dần cảm thấy mệt mỏi, chán ăn, vàng da, dễ bị nhiệt miệng và sức đề kháng suy giảm - triệu chứng gan yếu.
2. Nhịn tiểu sau khi tỉnh dậy
Sau một giấc ngủ dài, cơ thể cần thải độc. Nếu chúng ta giữ thói quen nhịn tiểu sau khi thức dậy vào buổi sáng sẽ dẫn đến tình trạng tích tụ độc tố trong cơ thể, về lâu dài sẽ ảnh hưởng đến gan.
3. Không ăn sáng
Bữa sáng giúp cung cấp năng lượng cho cơ thể sau một giấc ngủ dài và chuẩn bị tinh thần cho một ngày làm việc mới. Việc thường xuyên bỏ bữa sáng khiến cơ thể không được bổ sung kịp thời năng lượng cho một ngày dài, khiến gan bị kiệt sức và tổn thương.
4. Sử dụng thực phẩm nhiều dầu mỡ vào buổi sáng
Buổi sáng sau khi ngủ dậy, chúng ta không nên sử dụng đồ ăn chứa nhiều dầu, mỡ. Việc này vô tình khiến gan phải hoạt động nhiều hơn. Lâu dần có thể dẫn đến các tình trạng tổn thương gan như gan nhiễm mỡ và các bệnh lý liên quan khác.
5. Ăn quá nhiều vào bữa sáng
Ăn sáng quá no có thể gây rối loạn chức năng đường tiêu hóa của cơ thể, ảnh hưởng đến việc đào thải độc của gan.© Kiến Thức Ăn sáng quá no có thể gây rối loạn chức năng đường tiêu hóa của cơ thể, ảnh hưởng đến việc đào thải độc của gan.
Ăn quá nhiều vào buổi sáng có thể gây rối loạn chức năng đường tiêu hóa của cơ thể, ảnh hưởng đến việc tiêu hóa và hấp thụ chất dinh dưỡng cũng như quá trình thải độc của gan.
Ăn sáng quá no có thể gây rối loạn chức năng đường tiêu hóa của cơ thể, ảnh hưởng đến việc đào thải độc của gan.
6. Hay nổi cáu sau khi thức dậy
Người hay cáu gắt, dễ nổi nóng vào buổi sáng sau khi thức dậy dễ ảnh hưởng đến chức năng gan, tổn thương gan dẫn đến ứ đọng, gây rối loạn chuyển hóa chức năng, làm tăng khả năng mắc các bệnh về gan.
Vậy chúng ta nên làm gì để bảo vệ lá gan luôn khỏe.
Duy trì tâm trạng tốt, điều chỉnh cảm xúc của bản thân. Luôn luôn có tinh thần lạc quan vui vẻ không nên cáu giận và duy trì lối sống lành mạnh.
Có chế độ ăn uống và sinh hoạt khoa học. Đi ngủ trước 11 giờ và tránh ăn đồ ăn nhanh, đồ ăn chứa nhiều dầu mỡ.

Thường xuyên rèn luyện sức khỏe vào sáng sớm nhằm cải thiện sức đề kháng và sức khỏe của bản thân.
Nguồn Internet

TÂM BÌNH THƯỜNG LÀ ĐẠO (Bài giảng và thơ xướng họa)

Kết quả hình ảnh cho bình thường tâm thị đạo

------------------------------------------------------------------------ 

TÂM BÌNH THƯỜNG LÀ ĐẠO

Từ trước tôi thường nói "tâm bình thường là đạo", song chỉ nói tổng quát hoặc nói xa gần để quý vị thầm nhận, chớ không nói thẳng. Hôm nay tôi chỉ thẳng để quý vị thấy và nhận ra để ứng dụng tu hành.
Triệu Châu đến hỏi Ngài Nam Tuyền:
- Thế nào là đạo?
Nam Tuyền đáp:
- Tâm bình thường là đạo.
Triệu Châu hỏi:
- Lại có thể nhằm tiến đến chăng?
Nam Tuyền đáp:
- Nghĩ nhằm tiến đến là trái.
Triệu Châu hỏi:
- Khi chẳng nghĩ làm sao biết là đạo?
Nam Tuyền đáp:
- Đạo chẳng thuộc biết và chẳng biết, biết là vọng giác, không biết là vô ký, nếu thật đạt đạo thì chẳng nghi, ví như hư không thênh thang rỗng rang đâu thể gắng nói phải quấy.
Ngay đó sư ngộ.
Mọi người tu, ai cũng nghĩ mình phải thấy (ngộ) được đạo, và nghĩ rằng đạo là cái gì cao siêu ở ngoài mình. Triệu Châu cũng có tâm niệm như chúng ta, khi được Ngài Nam Tuyền trả lời "tâm bình thường là đạo", sư chưa đủ sức tin. Vậy, tâm bình thường là tâm nào? Tâm nhớ chuyện năm xưa nghĩ chuyện năm tới có phải là tâm bình thường không? Vừa dấy niệm là động, mà động thì bất bình thường. Tâm bình thường là tâm lặng lẽ sáng suốt, thấy biết rõ ràng, như mặt nước phẳng lặng không gợn sóng. Ngài Nam Tuyền chỉ thẳng: "tâm bình thường là đạo", qua lời chỉ thẳng mà Triệu Châu chưa nhận ra nên hỏi "Lại có thể nhằm tiến đến chăng?". Sư nghĩ tiến để đạt đạo, song, nghĩ tiến đến là bất bình thường, mà bất bình thường thì không phải đạo. Vì vậy, Ngài Nam Tuyền nói: "Nghĩ nhằm tiến đến là trái". Vừa nghĩ tiến đến là động, mà động là bất bình thường nên trái đạo. Nhưng Triệu Châu cũng chưa nhận, bèn hỏi thêm: "Khi chẳng nghĩ làm sao biết là đạo?" Sư cho đạo là cái gì phải do suy nghĩ mà biết, nay không cho suy nghĩ thì làm sao biết đó là đạo? Ngài Nam Tuyền bảo: "Đạo chẳng thuộc biết và chẳng biết, biết là vọng giác, không biết là vô ký, nếu thật đạt đạo thì chẳng nghi, ví như hư không thênh thang, rỗng rang đâu thể gắng nói phải quấy". Nghĩa là tâm lặng lẽ sáng suốt đó là đạo, vừa dấy niệm muốn biết nó là vọng giác, còn ngu ngơ không biết gì là vô ký, cả hai đều sai. Nếu thực đạt đạo, tức là nhận ra cái lặng lẽ chân thật thì không còn nghi ngờ gì cả, lúc đó tâm rỗng rang thênh thang, không thể nói là phải hay quấy. Vừa nói phải quấy là có niệm hai bên thì trái đạo. Ngay đó Triệu Châu ngộ được "Tâm bình thường là đạo". Tôi đã nói trắng ra quý vị có nhận được không?
Tôi dẫn thêm một Thiền sư khác, Sùng Tín con nhà bán bánh bao, ở trước cổng chùa. Mỗi ngày (sư) đem ít cái bánh cúng dường thiền sư Đạo Ngộ. Đạo Ngộ ăn xong thường để lại một cái bánh bảo:
- Ta cho ngươi ăn để ân huệ cho con cháu.
Một hôm sư tự nghĩ: "Bánh là ta đem đến, cớ sao Hòa Thượng lại cho ngược lại ta? Biết đâu không có ý chỉ. Sư bèn đến hỏi Đạo Ngộ.
Đạo Ngộ bảo:
- Bánh của ông đem đến, ta cho lại ông có lỗi gì?
Sư nghe lời này, hiểu được thâm ý, liền xin xuất gia. Đạo Ngộ bảo:
- Ngươi trước sùng phước thiện, nay tin lời ta, có thể gọi là Sùng Tín.
Từ đây, sư hầu hạ luôn bên thầy, một hôm sư thưa:
- Từ ngày con vào đây đến nay, chưa được thầy chỉ dạy tâm yếu.
Đạo Ngộ bảo:
- Từ ngày ngươi vào đây, ta chưa từng chẳng chỉ dạy tâm yếu cho ngươi.
Sùng Tín hỏi:
- Thầy chỉ dạy ở chỗ nào?
Đạo Ngộ bảo:
- Ngươi dâng trà lên ta vì ngươi mà tiếp, ngươi bưng cơm đến ta vì ngươi mà nhận, ngươi xá lui ra thì ta gật đầu. Chỗ nào chẳng chỉ dạy tâm yếu?
Sư cúi đầu im lặng giây lâu, Đạo Ngộ bảo:
- Thấy thì thẳng đó liền thấy, suy nghĩ liền sai.
Ngay câu nói đó, sư khai ngộ. Lại hỏi thêm:
- Làm sao gìn giữ?
Đạo Ngộ đáp:
- Mặc tánh tiêu dao, tùy duyên phóng khoáng, chỉ hết tâm phàm chẳng có thánh giải khác.
Khi thị giả dâng chung trà, Thầy đưa tay nhận chung trà, lúc đó có suy nghĩ gì không? Thầy đón nhận chung trà mà không có một niệm suy nghĩ, nhưng không phải là không "biết". Khi thị giả dọn cơm xá mời, thì Thầy bước tới ngồi và cầm đủa ăn, lúc đó thế nào? Ngồi ăn cơm Thầy cũng không suy nghĩ. Khi thị giả xá chào lui ra thì Thầy gật đầu, lúc gật đầu Thầy cũng không suy nghĩ. Như vậy, trong những động tác hằng ngày mà chúng ta không khởi một niệm nghĩ suy, đó là tâm yếu. Tâm yếu hiện hữu rõ ràng trong mọi hành động, nếu nhận được chỗ đó thì chỗ nào không chỉ không dạy tâm yếu? Vậy, tâm yếu mà Đạo Ngộ chỉ đây có khác với tâm bình thường mà Ngài Nam Tuyền chỉ ở trước không? Tuy nhiên, ở đây đặc biệt là khi Sùng Tín cúi đầu suy nghĩ về tâm yếu thì Đạo Ngộ chỉ thẳng: "Thấy thì thẳng đó liền thấy, suy nghĩ liền sai". Trong những hành động bình thường, ngay đó mà nhận ra cái chân thật sẵn có nơi mình, vừa khởi nghĩ nó liền bị che khuất. Ngay khi đó Sư khai ngộ. Chúng ta thấy tâm yếu là gì rồi phải không? Và khi ngộ rồi, muốn gìn giữ nó phải làm sao? Đó là vấn đề then chốt. Được Ngài Đạo Ngộ dạy:
"Mặc tánh tiêu dao, tùy duyên phóng khoáng, chỉ hết tâm phàm chẳng có thánh giải khác". Mặc tánh tiêu dao ở đây không có nghĩa rỗi rảnh thân dạo chơi chỗ này xứ nọ tùy hứng đờn ca, thổi sáo, ngâm vịnh... Người như thế là cuồng tăng phóng túng. Ngài Đạo Ngộ dạy tùy tánh tiêu dao, chứ không phải tùy thân tiêu dao, phải hiểu rõ chỗ này. Vậy, tánh tiêu dao là thế nào? Tánh thấy tánh nghe... có sẵn nơi mỗi người vốn không động, không giới hạn; bởi không động, không giới hạn nên nó rỗng rang thênh thang. Và vì thênh thang không động không phiền cứ mặc nó, không kềm không giữ là mặc tánh tiêu dao. Lâu nay chúng ta tu nghĩ là phải kềm giữ cho tâm thanh tịnh; nếu kềm giữ là trái với tự tánh rồi. "Tùy duyên phóng khoáng" là duyên đến thì tùy duyên bất biến không vướng không bận, không bị duyên trần làm phiền nhiễu. Sơ Tổ phái Trúc Lâm nói:
                                    Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
                                   Cơ tắc san hề khốn tắc miên
Ở trong cõi đời mà vui với đạo, tức là vui với tâm bình thường, rồi tùy duyên đói thì ăn mệt thì ngủ. Tùy duyên phóng khoáng là trong cuộc sống bình thường đến giờ ăn thì ăn, đến giờ làm việc thì làm việc, đến giờ ngủ thì ngủ... không có vọng niệm làm bận lòng, tâm an nhiên thênh thang tự tại. Ví dụ quét chùa hay nhổ cỏ mà tâm vẫn thênh thang rỗng rang không có một niệm dấy khởi đó là tùy duyên phóng khoáng. Chớ không phải tùy duyên phóng khoáng là đói vào quán ăn, ăn nhậu say sưa, mệt thì nằm ì ngoài đường phố mà ngủ, gặp nữ sắc cũng không kỵ, gặp ca vũ cũng không chừa... Đó là cuồng tăng cuồng thiền, hiểu lầm hiểu loạn, không đúng lẽ thật, làm cho người chê cười, làm cho người mất hết tín tâm. Những trọng điểm này quý vị lưu ý để nắm vững mà tu, nếu hiểu lầm một chút thì họa. Tôi nhắc lại, tánh giác nơi mỗi người vốn lặng lẽ thênh thang sáng suốt, hằng ngày sống bình thường, đến giờ làm việc thì làm việc, đến giờ ăn thì ăn, đến giờ nghỉ thì nghỉ... không khởi niệm, không kềm, không giữ, tuy nhiên, vẫn ở trong nề nếp đạo đức. Đó là mặc tánh tiêu dao tùy duyên phóng khoáng, cũng như Ngài Nam Tuyền người dâng trà thì tiếp trà, dâng cơm thì nhận cơm, xá chào thì gật đầu, buông hết vọng tưởng điên đảo của phàm phu, đó là đạo. Thông thường, người tu hành chưa hài lòng với nếp sống bình thường như đã nói mà mong có cái gì phi thường, khác lạ của bậc Thánh, muốn thấy hào quang, muốn biết quá khứ vị lai... Đó là bệnh, nên Ngài dạy "chỉ hết tâm phàm, chẳng có Thánh giải khác" khi vọng tưởng điên đảo sạch rồi thì ngang đó là Thánh, chớ không có Thánh ở ngoài đến. Tức là dừng được tình phàm, là vọng tưởng chủ của nghiệp là nhơn luân hồi sanh tử thì giải thoát, vì không sanh không diệt nhưng hằng tri hằng giác không phải Thánh là gì? Có nhiều người nghi sau khi vọng tưởng lặng hết thì còn cái gì? Chỉ cần hết vọng tưởng thì tánh giác hiện tiền không cần thêm gì nữa cả. Nhưng chẳng mấy người có đủ lòng tin.
Đa số đều mong hết phiền não để có thêm cái gì khác, không ngờ hết tình phàm (vọng tưởng) thì ngay đó là Thánh. Vì mầm sanh tử luân hồi hết thì đó là đạo là giải thoát, là chỗ thiết yếu mà Ngài Đạo Ngộ đã chỉ dạy.
Ngài Triệu Châu ngộ đạo nơi Ngài Nam Tuyền, ngộ ngay chỗ "tâm bình thường là đạo" nên sau này Ngài cũng dạy như thế.
Có vị tăng hỏi:
- Thế nào là Phật?
Sư bảo:
- Ở trong điện.
- Trong điện đâu phải bùn đất đắp thành tượng?
- Phải.
- Thế nào là Phật?
- Ở trong điện.
- Con mê muội xin thầy chỉ dạy.
- Ăn cháo xong chưa?
- Ăn cháo xong.
- Rửa bát đi!
Tăng nhơn đây đại ngộ.
Tăng muốn biết "thế nào là Phật", được Ngài Triệu Châu chỉ "ở trong điện". Ngài chỉ Phật tánh không rời thân năm uẩn (ở trong điện) thế mà tăng không nhận ra, khởi tâm so lường. Phật ở trong điện được đắp bằng bùn đất, chỉ là tượng vô tri để thờ, không phải là Phật mà tăng muốn biết. Ngài Triệu Châu nói "phải" là Ngài xác định nơi thân năm uẩn có tánh giác chớ không phải tượng Phật trên bàn. Thế mà tăng không hội lập lại câu hỏi "thế nào là Phật?". Ngài vẫn đáp "ở trong điện". Tăng vẫn không hội, bèn thưa: "Con mê muội xin thầy chỉ dạy". Ngài hỏi: "Aên cháo chưa?" Tăng đáp: "Aên cháo xong". Ngài bảo: "rửa bát đi". Tăng nhơn đây mơi đại ngộ. Vậy, tăng ngộ cái gì? Cái ngộ của vị tăng này có khác với cái ngộ của Ngài Sùng Tín không? Ở trước, dâng trà thì tiếp, dâng cơm thì nhận, xá lui ra thì gật đầu, ở đây ăn cháo xong thì rửa bát. Có phải thân thì tùy duyên sinh hoạt mà hành động, tuy nhiên tâm vẫn bình thường? Chư Tổ chỉ dạy nhau là chỉ dạy cái mà chính mình đã nhận được từ nơi thầy là "Tâm bình thường", song mỗi vị có mỗi thuật độc đáo riêng, người căn cơ thấp kém khó mà biết được. Tại sao hỏi "ăn cháo chưa?" rồi bảo "rửa bát đi" mà lại ngộ đạo, vậy đạo ở chỗ nào?
Sau, thiền sư Hoàng Trí có làm tụng để ca ngợi chỗ này:
                        Chúc bãi linh giao tẩy bát bồn
                        Hoát nhiên tâm địa tự tương phù
                        Như kim tham bảo tùng lâm khách
                        Thả đạo kỳ gian hữu ngộ vô.
        Dịch:
                        Cháo xong liền dạy rửa chén tô,
                        Bỗng nhiên tâm địa tự tương phù
                        Hiện nay là khách tùng lâm cũ
                        Hãy nói khoảng này có ngộ không?
Thật là xuất cách, người vào đạo với tâm thao thức thiết tha cầu Phật, nên khi hỏi "ăn cháo xong chưa?" Thưa "ăn cháo xong" bảo "rửa bát đi", liền ngộ đạo. Nếu là người không thao thức thiết tha cầu Phật, dù có dùng phương tiện thiện xảo thế mấy để chỉ, cũng vẫn là kẻ dung thường không thấy được lý đạo. Aên cháo, rửa bát có phải là bình thường mặc tánh tiêu dao, tùy duyên phóng khoáng không? Nếu thông đoạn trước đến đây chúng ta không thấy lạ.
Ngài Động Sơn Thủ Sơ, khi còn là một Thiền khách, đến tham vấn nơi Ngài Vân Môn, Ngài Vân Môn hỏi:
- Ông vừa rời chỗ nào?
Thủ Sơ thưa:
- Rời Tra Độ.
Vân Môn hỏi:
- Mùa hạ rồi ở đâu?
Thủ Sơ đáp:
- Ở chùa Báo Ân tại Hồ Nam.
Vân Môn hỏi:
- Rời nơi ấy lúc nào?
Thủ Sơ đáp:
- Ngày 25 tháng 8.
Vân môn bảo:
- Tha ông ba gậy, đến nhà tham thiền đi.
Được hỏi, Thủ Sơ đáp một cách thật thà, không một chút điêu ngoa, tại sao Ngài Vân Môn nói "tha ông ba gậy" rồi bảo xuống nhà thiền? Thủ Sơ có lỗi gì?
Thủ Sơ thắc mắc, hôm sau đi thẳng vào thất Ngài Vân Môn thưa:
- Hôm qua nhờ ơn Hòa Thượng tha ba gậy, con không biết lỗi tại chỗ nào?
Vân Môn bảo:
- Cái túi cơm! Giang Tây, Hồ Nam liền thế ấy!
Ngay câu nói này sư đại ngộ.
Vân Môn quở Thủ Sơ là cái túi cơm. Giang Tây là chỗ hoằng hóa của Mã Tổ, Hồ Nam là chỗ hoằng hóa của Thạch Đầu. "Liền thế ấy" là sao?
Hỏi "ở đâu", thưa "ở Tra Độ" hỏi "mùa hạ rồi ở đâu", thưa "ở chùa Báo Aân tại Hồ Nam". Hỏi "rời nơi ấy lúc nào?". Thưa "ngày 25 tháng 8". Sự việc ấy có phải là bình thường không? Hỏi đâu đáp đó rõ ràng, không suy nghĩ không phải tâm bình thường là gì? Ngài Vân Môn muốn làm dậy sóng nên nói "tha ông ba gậy". Thuật khai ngộ của Ngài Vân Môn quá kỳ đặc, ngài nói "tha ông ba gậy" làm cho Thủ Sơ băn khoăn thắc mắc không biết mình có lỗi ở chỗ nào, nên hôm sau Thủ Sơ đến phương trượng hỏi, khi hỏi bị quở "cái túi cơm!" Ngài Vân Môn chê Thủ Sơ không thông minh giống như cái túi cơm vậy. Mã Tổ (Giang Tây) Thạch Đầu (Hồ Nam) cũng đều chỉ dạy cái bình thường ấy thôi. Ngay đó Thủ Sơ ngộ đạo. Qua câu chuyện, không ai khỏi ngạc nhiên chỗ "tha ông ba gậy". Chính nhờ cái thuật làm dậy sóng đó của Ngài Vân Môn mà Thủ Sơ mới nhận ra cái "chân thật bình thường" sẵn có nơi chính mình. Các thiền sư đâu có dạy điều gì khác, các Ngài chỉ thẳng cái chân thật cho chúng ta là trong mọi sinh hoạt không dấy niệm nghĩ suy là đạo, là tâm bình thường, là Phật. Vậy, có người nào không có cái đó? Ai cũng có mà không dám nhận! Sa di Cao hầu chuyện với Ngài Dược Sơn, qua những câu đáp, Ngài biết đó là một sa di xuất cách, nên mới khoe với các đồ đệ lớn như Vân Nham, Đạo Ngộ. Hai vị này tỏ vẻ chưa tin, nên Ngài mới hỏi lại Sa di Cao:
- Ta nghe ở Trường An rất náo loạn, ngươi có biết chăng?
Sư thưa:
- Nước con an ổn.
Dược Sơn hỏi thêm:
- Ngươi do xem kinh được hay thưa hỏi được?
Sư đáp:
- Chẳng do xem kinh được cũng chẳng do thưa hỏi được.
Dược Sơn hỏi:
- Có lắm người chẳng xem kinh, chẳng thưa hỏi sao chẳng được?
Sư đáp:
- Chẳng nói họ không được, chỉ vì không chịu thừa nhận.
Ngài Dược Sơn nói: "Ta nghe ở Trường An (thủ đô nhà Đường) rất náo loạn, ngươi có biết chăng? Sa di Cao trả lời "nước con an ổn". NGHE tiếng động bên ngoài ồn ào là náo. THẤY kẻ qua người lại lộn xộn là loạn. Khi hỏi: "Ta nghe Trường An náo loạn ngươi có biết chăng?" Ngài Dược Sơn muốn hỏi Sa di Cao có thấy có nghe sự náo loạn bên ngoài không? Đó là cái bẩy dọ dẫm coi sư đang chạy theo cảnh bên ngoài hay hằng sống với tánh thấy tánh nghe chân thật của mình. Sa di Cao trả lời "nước con an ổn". Người qua lại xôn xao mà tánh thấy của Sa di Cao không xôn xao; tiếng động ồn ào mà tánh nghe của Sa Di Cao không ồn ào. Náo loạn là chuyện bên ngoài chớ tánh thấy tánh nghe của sư không động không loạn. Sư trả lời như thế chứng tỏ rằng Sư hằng nhớ cái chẳng động của mình mà không để tâm chạy theo ngoại trần. Nếu được hỏi "có nghe náo loạn không?". Trả lời "có nghe náo loạn" là người đã để tâm duyên theo cảnh vật bên ngoài mà quên cái không động hằng hiện hữu nơi chính mình. Như vậy, để thấy người xưa muốn trắc nghiệm xem người tham học còn vọng ra ngoại trần hay hằng sống với cái chân thật của chính mình, chỉ nêu câu hỏi, qua câu trả lời thì biết người ấy thế nào. Qua câu trả lời của Sa di Cao, Dược Sơn chấp nhận ngay. Tuy thế, Vân Nham và Đạo Ngộ vẫn chưa tin, ngài Dược Sơn mới trắc nghiệm thêm: "Ngươi do xem kinh được hay do thưa hỏi được?". Sa di Cao đáp: "Chẳng do xem kinh được, cũng chẳng do thưa hỏi được". Nếu trả lời do xem kinh hay do thầy chỉ bảo thì cái đó từ bên ngoài mà được. Tánh thấy tánh nghe là cái chân thật có sẵn nơi mỗi người, đâu đợi xem kinh mới có hay do thầy dạy mới được. Nên Sư trả lời "chẳng do xem kinh được cũng chẳng do thưa hỏi được". Mới nghe qua như phủ nhận công ơn chỉ dạy của Thầy Tổ. Nhưng lẽ thực là như vậy. Thầy Tổ chỉ là người khơi dậy đánh thức để chúng ta xoay lại nhận ra cái chân thật đã có sẵn mà từ lâu nay chúng ta bỏ quên. Ngài Dược Sơn hỏi tiếp: "có lắm người chẳng xem kinh chẳng thưa hỏi sao chẳng được?". Để xác định lần nữa, Ngài Dược Sơn bẻ lại: "ông nói chẳng do xem kinh chẳng do thưa hỏi mà được, vậy biết bao người không xem kinh không thưa hỏi sao chẳng được?" Sư đáp: "Chẳng nói họ không được, chỉ vì không chịu thừa nhận thôi". Ai cũng có sẵn cái tánh biết chân thật, mà vì không chịu nhận nên coi như không được. Được hay không được là do biết thừa nhận hay không thừa nhận; nếu biết thừa nhận thì tự tại giải thoát, còn không thừa nhận thì chạy theo ngoại cảnh phiền não khổ đau đi mãi trong luân hồi sanh tử.
Để kết thúc buổi nói chuyện hôm nay tôi dẫn chuyện ngài Tử Hồ bắt ăn trộm, chuyện này rất lý thú nên tôi hay kể, mỗi lần kể là mỗi lần mới. Trong pháp hội của ngài Tử Hồ có trên 500 tăng chúng. Một hôm, giữa đêm bỗng ngài la to:
- Aên trộm, ăn trộm.
Chúng kéo nhau chạy đến, ngài chụp ôm vị tăng đến đầu tiên nói:
- Bắt được rồi, bắt được rồi.
Vị Tăng bị bắt hoảng hốt thưa:
- Dạ con, không phải, không phải.
Ngài nói:
- Phải, phải, chỉ tại ông không dám nhận thôi.
Trong pháp hội cả 500 người ai cũng có cái chân thật mà không dám nhận, buộc lòng ngài phải dùng phương tiện kỳ đặc chụp ôm một vị tăng la to là ăn trộm. Tăng đính chính: "Dạ con, chớ không phải ăn trộm". Ngài nói: "Phải, phải, chỉ tại ông không dám nhận thôi". Tăng nói "Không phải" là không phải ăn trộm. Ngài nói: "phải, phải" là chỉ cho mọi người ai cũng có sẵn tánh giác chân thật. Trò nói "không phải", thầy nói "phải, phải", nghe như cùng đối đáp nhau, nhưng ý hai bên thật là khác xa muôn dặm. Hình ảnh thầy chụp trò nói là "ăn trộm", trò đính chính: "dạ con, không phải ăn trộm". Thầy lại khẳng định: "phải, phải, tại ngươi không dám nhận". Thật thủ thuật quá kỳ đặc nói lên lòng từ bi đáo để bao giờ chúng ta quên được!
Chư Tổ xưa dùng nhiều phương tiện kỳ đặc, để chỉ cho người học đạo nhận ra tánh giác chân thật sẵn có mà từ lâu tự bỏ quên. Riêng tôi không có phương tiện thiện xảo, nên mới dẫn chuyện của người xưa để nhắc cho qúy vị nhớ và nhận ra cái chân thật của mình, hầu thoát ly sanh tử dứt khổ đau.
Qua những câu chuyện mà tôi vừa dẫn giải, nếu qúy vị nhận được tánh giác chân thật nơi chính mình, quý nó như hạt minh châu vô giá, thì lời dẫn giải của tôi hôm nay là hữu ích, tức là tôi là kẻ có công. Nếu quý vị không nhận được hay nhận được mà xem thường, cho rằng ai ai cũng có, thì có gì quan trọng rồi vẫn cứ sống buông trôi theo dục lạc đi mãi trong luân hồi sanh tử thì tôi là kẻ có tội. Vì muốn cho quý vị có đủ lòng tin mà tiến tu để trở thành người hữu dụng, nên tôi không ngại rụng hết lông mày vì qúy vị mà chỉ thẳng.
                                                                                    Nguồn http://thuongchieu.net

--------------------------------------------------------------------------- 



BÌNH THƯỜNG THỊ ĐẠO

BÌNH tâm đối cảnh duyên nào động?
THƯỜNG lạc đâu cầu, tánh đã trong,
THỊ nhộn chẳng theo, người rõ trống.
ĐẠO mầu diệu dụng khuyến về không…
19/1/2019
Viên Minh

Đình Diệm HTM KÍNH HỌA 

BÌNH dạ trong đời tâm nỏ động
THƯỜNG nuôi hỷ xả ý hoài trong
THỊ bày vạn cảnh lòng yên tịnh
ĐẠO hiện hoa đài dụng sắc không
Hương Thềm Mây
GM.Nguyễn Đình Diệm – 18.01.2019

Tâm Ân BÌNH THƯỜNG THỊ ĐẠO (Cẩn họa)

BÌNH lắng bao thời tâm khó động,
THƯỜNG hằng bổn tánh rõ đà trong.
THỊ cùng chơn pháp qui đều trống,
ĐẠO cả quảng truyền chỉ lối không.
19/1/2019
Tâm Ân

Nhật Lam Cảm họa Y ĐỀ
Tâm trải, tâm BÌNH, tâm bất động
Vô THƯỜNG ngộ lẽ, giữ thân trong
Xôn xao phố THỊ, nhìn như trống
Nẻo ĐẠO quay về một chữ không!
N.Lam 19/01/2019

Như Huyễn Trần Cẩn họa Y ĐỀ
Tánh lặng, tâm BÌNH ngưng nghiệp động
Thế THƯỜNG lóng ngóng bởi chưa trong
Cõi THỊ thong dong thì mới trống
ĐẠO mầu chỉ dạy tất đều không.
19/1/2019
Như Huyễn Trần

Như Quân Cảm họa Y ĐỀ
Đối cảnh tâm BÌNH duyên chẳng động
Vô THƯỜNG vạn pháp sẳn ngời trong
THỊ phi hai nẻo đều như trống
ĐẠO lý như nhiên ấy vốn không


Như Quân

Như Quân Cảm họa Y ĐỀ
BÌNH dân trước cảnh lòng không động
THƯỜNG giữ tâm mình sáng sạch trong
THỊ giác soi nhìn vào cõi trống
ĐẠO lành ắt sẽ đạt về không


Thanh Nguyen Van Cẩn họa: SẮC - KHÔNG.

BÌNH thản tâm tùy cơn gió động,
THƯỜNG lay tâm ý, phướng sáng trong!
THỊ phi để nắng vào nhà trống,
ĐẠO diệu nhiệm huyền với Sắc - Không!
TRỌNG NGUYỄN.