Thứ Hai, 6 tháng 9, 2021

BẠN CÓ BIẾT QUẢ TIM THỨ 2 VÀ THỨ 3 LÀ GÌ KHÔNG?

 

 NHỊP ĐẬP CỦA TRÁI TIM THỨ 1:

Tất cả mọi người chúng ta hiện đang sống, đang làm việc đều nhờ một trái tim thứ nhất hoạt động trong cơ thể. Nếu tim bị suy yếu thì tính mạng bị đe dọa hoặc ngừng đập thì ta sẽ chết.
Sau đây, chúng ta hãy làm một con toán để biết trong cuộc đời chúng ta từ khi sinh ra cho đến lúc nhắm mắt tim đã đập bao nhiêu lần thì sẽ thấy vô cùng ngạc nhiên, từ đó chúng ta mới thấy thương trái tim chúng ta:
Trung bình 1 phút tim đập 72 nhịp.
Một giờ 60 phút : 72 x 60 = 4.320 nhịp.
Một ngày 24 giờ : 4.320 x 24 = 103.680 nhịp.
Một năm 365 ngày : 103.680 x 365 = 37.843.200 nhịp.
Trung bình con người sống 70 năm :
37.843.200 x 70 = 2.649.024.000 nhịp.
Tức là: hai tỷ sáu trăm bốn mươi chín triệu không trăm hai mươi bốn ngàn nhịp đập trong suốt 70 năm của đời người trong nhân gian. Một trái tim nhỏ bé của mỗi người trong một cuộc đời lại đập liên tục với số lần như thế. Biết như thế để ta nên thương cho trái tim nhỏ bé ấy và nên cộng tác giúp đỡ nó trong công việc tống máu đi nuôi cơ thể, đừng để nó bị suy sớm mà nguy hiểm đến tính mạng.
QUẢ TIM THỨ 2 CỦA CON NGƯỜI LÀ GÌ?Picture1Cơ Hoành là “Quả tim thứ 2” trong cơ thể con người
Trái tim thứ hai của con người đó chính là “Cơ Hoành”. Nghe qua thì ai cũng lấy làm lạ và ngạc nhiên nhưng theo sự phân tích của y khoa Tây Y sau đây chúng ta sẽ hiểu rõ vấn đề :
Thở bụng dưới bằng cơ hoành là biện pháp tối ưu nhất giúp cho trái tim thứ nhất đỡ mệt mỏi gắng sức tống máu đi nuôi cơ thề. Khi hít vào thì phình bụng, cơ hoành hạ thấp xuống làm cho oxygen đến tận cùng màng tim, cơ tim. Trái tim thứ nhất chỉ cần giãn ra rất nhẹ cũng đủ lấy đầy đủ máu.
Khi thở ra bụng hóp lại, cơ hoành bị đẩy lên trên tối đa ép các mạch máu mạnh nhất giúp cho cơ tim co bóp không gắng sức cũng đủ tống máu đi khắp cơ thể một cách thong thả nhẹ nhàng nhất. Cơ tim không cần phải làm việc nhiều như khi thở ngực vì ở đây cơ hoành phụ giúp cho sự co bóp trái tim thứ nhất. Do đó cơ hoành là trợ lý đắc lực nhất cho tim.
Nhờ những tác động đó mà cơ hoành đã chia bớt gánh nặng cho tim và tim sẽ hoạt động bớt lại nên tim sẽ khỏe hơn và tránh được suy yếu theo thời gian. Vì thế mà cơ hoành được gọi là trái tim thứ 2.
Thở bụng dưới cơ hoành cùng với tim giúp đưa oxygen đến khắp các cơ quan nội tạng vùng bụng bên trong. Khi cơ hoành đưa lên hạ xuống theo nhịp thở là một trạng thái massage đều đặn nội tạng và đưa máu đủ đến gan, lách, thận, ruột, bàng quang, tử cung, tiền liệt tuyến, v..v phòng ngừa bệnh ở các tạng này rất hiệu quả.
Giúp chống lại bệnh nhiễm trùng của hệ tiết niệu như thận, bàng quang.
Máu được đưa đầy đủ về vùng chậu như, tử cung, buồng trứng làm giảm các triệu chứng tiền mãn kinh của phụ nữ.
Phổi được co vô và nở ra tối đa, oxy đến phổi đầy đủ nhất nên ngừa được bệnh phổi.
Tiêu hóa: làm tăng chức năng của dạ dày, gan, lách nhất là máu đến đầy đủ dạ dày, lách làm quá trình chuyển hóa thức ăn được dễ dàng và thuận lợi.
Điều hòa thần kinh thực vật do đó huyết áp ổn định.
Khi thở bụng cơ hoành thì sẽ có tác dụng ức chế mọi tạp niệm ở não, chống stress, chống đau, an thần do chất endorphin được tiết ra từ não trong lúc thở bụng.
KẾT LUẬN:
Xuyên qua 10 đặc điểm chính đó ta sẽ thấy cơ hoành xứng đáng là trái tim thứ 2 của cơ thể, chia việc cho trái tim thứ nhất để cho tim khỏe mãi không suy yếu. Thật vậy ở những người tập luyện thở cơ hoành thì có các đặc điểm sau :
Sau một thời gian luyện tập thở cơ hoành, sắc khí của họ hồng hào rõ nhất vì máu đến được tận cùng tế bào.
Nhịp đập của tim giảm lại chỉ còn 60-65 nhịp/phút.
Những nhát bóp của tim chắc chắn và mạnh mẽ có nghĩa là co và bóp đúng chất lượng dù cơ tim không cố gắng.
Khoảng sau một năm dù trong lúc nghỉ ngơi họ không còn thở ngực nữa mà đã có phản xạ thở bụng hằng ngày tự nhiên một cách vô thức dù không nghĩ đến thở bụng. Đó là đích đến thành công nhất trong công việc san sẽ cho trái tim thứ nhất khỏi bị quá tải và suy yếu.
Tóm lại, chúng ta nên thở bụng ngay từ bây giờ ở bất cứ tuổi nào. Mỗi ngày nên để ra 5 – 10 phút luyện thở bụng thì sau một thời gian ta sẽ có thở bụng vô thức như đã nói ở trên.
Tây y đã đồng qui với Khí Công trong sự thở bụng để bảo vệ sức khỏe và trái tim nhỏ bé của chúng ta và nên nhớ thở bụng là cứu cánh của khí công nói riêng và y học phương Đông nói chung.
QỦA TIM THỨ 3 CỦA CON NGƯỜI LÀ GÌ?
Picture2
Các vị trí bấm huyệt của lòng bàn chân trong Đông Y
Trái tim thứ ba của con người đó chính là lòng bàn chân. Chắc các bạn ngạc nhiên lắm phải không ? Xin hãy đọc những lợi ích của nó về mặt đông – tây y thì sẽ rõ.
VỀ MẶT TÂY Y:
Lòng bàn chân là nơi có nhiều mạch máu, mao mạch ngoại biên nhất, có cả hàng ngàn mao mạch. Nếu máu ở đây được cung cấp tốt thì ta sẽ khỏe hơn và nếu lòng bàn chân được kích thích nhiều thì các mao mạch ở đó sẽ giãn nở, oxygen đến tận cùng tế bào đầy đủ nhất. Kết quả huyết áp sẽ hạ trong chừng mức sinh lý và máu ra ngoại biên nhiều hơn, bệnh tật ít có cơ hội phát triển. Nhất là trái tim đỡ phải tống máu tối đa vì các mao mạch lòng bàn chân giãn nở sẽ làm cho máu tự động đi ra ngoại biên hơn là cần lực tim co bóp mạnh đẩy máu đi đến đó
Hơn nữa lòng bàn chân ở một vị trí thấp nhất của cơ thể nên các mạch máu ở đây khi giãn nở thì sẽ tạo một lực hút mạnh kéo máu khắp châu thân đi xuống và ra ngoại biên rất đầy đủ mà không cần đến lực bóp nhiều của tim do đó có thể trợ lực cho tim một cách hữu hiệu. Tim không cần phải cố gắng mà chỉ cần những nhát bóp nhẹ nhàng cũng đưa máu ra ngoại biên, tim sẽ khỏe và bền vững với thời gian mà không suy yếu lúc tuổi chưa già hoặc tuổi đã già.
Nếu để cho lòng bàn chân lạnh thì các mạch máu ở đó sẽ co lại càng làm cho oxy không ra đủ ngoại biên và tim phản ứng lại bằng cách tăng cường lực co bóp, lâu ngày sẽ làm tim yếu và suy. Thực hiện ngâm chân nước nóng trước khi đi ngủ ở một vài bài tập dưỡng sinh hay dùng máy sấy tóc sấy ấm lòng bàn chân, cũng là cách làm cho mạch máu ở bàn chân giãn nở giúp đưa máu ra ngoại biên dễ dàng, đó là cách giúp cho trái tim chúng ta đỡ phải làm việc nhiều và cũng giúp tuần hoàn châu thân đầy đủ, oxy có mặt khắp mọi nơi tốt cho sức khỏe.
Những người thôn quê làm ruộng làm rẫy đa số có trái tim khỏe nhất, già 90 tuổi mà tim vẫn mạnh mẽ. Đó là do suốt cuộc đời họ luôn đi chân đất làm ruộng, rẫy, lòng bàn chân họ dẫm lên đá, sỏi và mặt đất đủ mọi địa hình. Vô tình kích thích lòng bàn chân một cách tự nhiên và kết quả giúp cho trái tim như đã nói ở trên
Ở thành phố, luôn mang giày, dép nên lòng bàn chân không được kích thích, họ đành phải tập mỗi đêm đi trên sỏi đá bằng chân trần, ngâm chân nước nóng hay đấm vỗ, massage… để tạo kích thích như đã nói.
VỀ MẶT ĐÔNG Y:
Lòng bàn chân là nơi chứa các huyệt đạo đại diện cho toàn thể cơ quan nội tạng trong cơ thể. Chúng ta sẽ giật mình khi thấy sơ đồ cơ quan nội tạng dưới lòng bàn chân là một cửa ngỏ của cơ thể rất ư là quan trọng mà lâu nay chúng ta thường hay bỏ qua.
Nhất là các kinh mạch đi xuống chân là phải qua lòng bàn chân
Muốn các cơ quan tim, phổi, gan, lách, dạ dày, tai mũi họng, ruột, thận, tử cung, buồng trứng, dịch hoàn, não..v..v…khỏe mạnh thì phải chú ý đến lòng bàn chân. Phải kích thích nó để đả thông nội tạng mà khi nội tạng được đả thông thì lưu lượng máu đến cơ quan càng nhiều và đầy đủ do chính sức hút của các cơ quan nội tạng đó mà không cần tim phải dùng sức bóp nhiều. Từ đó tim được thư giãn, hoạt động nhẹ nhàng cũng làm đủ chức năng của nó nên không bị suy yếu theo thời gian.
Thực hành ở lòng bàn chân thế nào cho hiệu quả?
– Đó là mỗi ngày nên để ra 3 – 5 phút theo thứ tự: ĐẤM – VỖ – XOA
– ĐẤM: khắp cả mỗi lòng bàn chân không sót một chỗ nào trên đó với một lực khá mạnh để đả thông toàn bộ cơ quan nội tạng. Đấm từ 50 – 100 lần
– VỖ: cũng khắp cả lòng bàn chân 50-100 lần
– XOA: xoa khắp lòng cho nóng từ 50-100 lần
– BẤM HUYỆT DŨNG TUYỀN: ở vị trí 1/3 trên của lòng bàn chân. Bấm day bằng ngón cái từ 15-30 giây để bồi bổ kinh thận là tiền đề cho trường thọ vì thận là gốc của sự sống vế mặt đông y.
– Nếu ta bị yếu hoặc bệnh ở cơ quan nào thì đấm-vỗ-xoa nhiều hơn cho cơ quan đó trên lòng bàn chân
– Tất cả các thao tác chỉ mất 3-5 phút mà thôi
– Thật vậy, các bạn cứ thử xem, mỗi buổi sáng làm như vậy thì cả ngày sẽ cảm thấy khỏe hơn, làm việc không biết mệt. Cứ thử xem nhé, không tốn thời gian bao nhiêu mà có lợi cho sức khỏe….
Tóm lại chúng ta có 3 quả tim: Quả tim trên lồng ngực, Cơ hoành, lòng bàn chân. Nên phối hợp nhịp nhàng bằng cách: Thở bụng cơ hoành, đấm vỗ xoa lòng bàn chân là phương pháp giúp cho trái tim thứ nhất thật sự của chúng ta không bao giờ bị suy yếu, trường thọ với thời gian… Đó là cốt lõi của Khí Công nói riêng và y học phương đông nói chung.
BS LV Vinh


THÓI QUEN SÚC MIỆNG BẰNG NƯỚC MUỐI CÓ TÁC DỤNG TUYỆT VỜI NHƯ THẾ NÀO?

 


Theo PGS.TS Phạm Thị Bích Đào - Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, đau họng và loét miệng là tình trạng phổ biến mà hầu như ai cũng từng gặp phải. Duy trì thói quen súc miệng nước muối có thể là một cách rẻ tiền, an toàn và hiệu quả giúp giảm đau, giảm các triệu chứng.

Công dụng của nước muối súc họng


Với đau họng

Súc miệng nước muối có thể có hiệu quả điều trị đau họng nhẹ, giảm khô, rát họng, cân bằng trạng thái pH của niêm mạc và lớp chất nhầy trên bề mặt niêm mạc họng, đặc biệt ở những người trải qua hóa trị hoặc xạ trị.

Với tình trạng loét miệng

Súc miệng bằng nước muối có thể giúp giảm đau và thúc đẩy quá trình lành vết loét.

Với dị ứng

Một số dị ứng, chẳng hạn như sốt cỏ khô, có thể khiến niêm mạc mũi và cổ họng nề, gây khó chịu. Mặc dù súc miệng bằng nước muối sẽ không ngăn ngừa dị ứng, nhưng có thể giúp giảm bớt một số khó chịu ở cổ họng.

Với nhiễm trùng đường hô hấp

Súc miệng bằng nước muối có thể giúp giảm các triệu chứng cảm lạnh thông thường, cúm, bạch cầu đơn nhân và viêm xoang. Ví dụ, một nghiên cứu từ năm 2013 có sự tham gia của 339 người tham gia cho thấy những người súc miệng bằng nước muối ít có khả năng bị nhiễm trùng đường hô hấp trên.

Với sức khỏe răng miệng

Thường xuyên súc miệng bằng nước muối có thể giúp loại bỏ vi khuẩn từ lợi, giúp làm sạch và ngăn ngừa sự tích tụ của mảng bám và cao răng. Sự tích tụ vi khuẩn trong miệng có thể dẫn đến bệnh viêm quanh cuống và sâu răng.

Hiệp hội Nha khoa Hoa Kỳ (ADA) khuyên mọi người nên súc miệng bằng dung dịch nước muối ấm sau khi thực hiện thủ thuật nha khoa, có thể giúp giữ cho vùng tổn thương sau thủ thuật sạch sẽ và ngăn ngừa nhiễm trùng.

Nước muối có diệt vi khuẩn không?

Nước muối có thể diệt một số vi khuẩn nhưng không phải tất cả vi khuẩn ở miệng và họng. Dung dịch muối có thể giúp đưa vi khuẩn lên bề mặt lợi, răng và họng. Một khi vi khuẩn được đưa lên bề mặt, sẽ có thể rửa sạch khi nhổ nước muối ra ngoài.

ADA đưa ra công thức sau: một nửa muỗng cà phê (muỗng cà phê) muối vào 30 ml nước ấm, sau đó lắc cho đến khi tan hết. Có thể thêm baking soda vào dung dịch nước mặn. Ví dụ như 1 lít nước + 1 muỗng cà phê muối + 1 muỗng cà phê baking soda.

Cách súc miệng hiệu quả

Súc miệng như thế nào để đảm bảo nước súc miệng có hiệu quả là điều nhiều người chưa biết. Theo đó, nên lấy càng nhiều dung dịch vào miệng càng tốt. Súc miệng bằng nước muối quanh sau cổ họng. Sau đó, rửa xung quanh miệng, răng và lợi. Cuối cùng, nhổ nước muối ra.

Để có hiệu quả tối đa, nên súc miệng bằng nước muối một hoặc hai lần một ngày. Những người làm các phẫu thuật nha khoa có thể sử dụng dung dịch nước muối để súc miệng. Tuy nhiên, trong vài ngày đầu tiên, nên súc miệng rất nhẹ nhàng để ngăn ngừa vảy bong ra và làm theo hướng dẫn từ chuyên gia nha khoa của họ.

Rủi ro và cân nhắc

Súc miệng bằng nước muối được coi là an toàn cho cả trẻ em và người lớn. Tuy nhiên, một số người nên cân nhắc sử dụng:

- Những người bị tăng huyết áp hoặc có các bệnh lý khác (thận...) cần hạn chế lượng natri nên tư vấn bác sĩ hoặc nha sĩ trước khi súc miệng bằng nước muối.

- Những người không thích hương vị của dung dịch nước mặn có thể thử thêm mật ong hoặc tỏi để giúp cải thiện hương vị.

Như vậy, súc miệng bằng nước muối có thể giúp giữ cho họng sạch, làm giảm đau và khó chịu do viêm họng, loét miệng và sau khi làm thủ thuật nha khoa.

Có thể súc miệng với nước muối nhiều lần trong ngày. Tuy nhiên, những người bị tăng huyết áp hoặc những người cần hạn chế lượng natri nên tư vấn bác sĩ trước khi súc miệng bằng nước muối.

PGS.TS Phạm Thị Bích Đào - Bệnh viện Đại học Y Hà Nội


LÝ DO NHÂN LOẠI CÓ THỂ PHẢI SỐNG CHUNG VỚI COVID-19

 


Một thí nghiệm với virus corona thập niên 1980 cho thấy nCoV có thể không biến mất hoàn toàn và thế giới phải học cách sống chung với Covid-19.

Trong thí nghiệm cách đây hàng chục năm, các bác sĩ tại một bệnh viện ở Anh xịt dung dịch chứa 229E, một chủng virus corona, vào mũi 15 tình nguyện viên. Covid-19 khi đó chưa xuất hiện và 229E chỉ gây triệu chứng giống cảm lạnh thông thường.

229E là chủng virus phổ biến trên thế giới, nhiều người từng nhiễm nó một lần trong đời, đặc biệt là trẻ em, nhưng triệu chứng cảm lạnh nhẹ đến mức hầu như không ai để ý đến. Trong thí nghiệm trên, chỉ có 10 tình nguyện viên bị nhiễm 229E, trong đó 8 người xuất hiện triệu chứng cảm lạnh.

Một năm sau, các bác sĩ lặp lại thí nghiệm với 14/15 tình nguyện viên. Sau khi được xịt 229E vào mũi, 6 người từng nhiễm virus bị tái nhiễm nhưng lần nay không biểu hiện triệu chứng nào.

Từ thí nghiệm này, các bác sĩ Anh nhận định rằng khả năng miễn dịch của cơ thể trước virus corona suy yếu nhanh chóng và hiện tượng tái nhiễm là phổ biến, nhưng với triệu chứng nhẹ hơn rất nhiều hoặc không triệu chứng. Tuy nhiên, thí nghiệm trên không thu hút được sự chú ý, bởi vào thời điểm đó, không mấy ai quan tâm đến virus corona.

Tuy nhiên, đến đầu năm 2020, khi Covid-19 lan khắp toàn cầu, các nhà nghiên cứu trong quá trình tìm hiểu về cơ chế miễn dịch trước nCoV đã tìm lại thí nghiệm này. Trước khi nCoV xuất hiện, chỉ có 229E và ba chủng virus corona khác từng lây từ người sang người. Cả bốn chủng virus corona này đều gây triệu chứng như cảm lạnh.

Theo các nhà khoa học, ở kịch bản lạc quan nhất, nCoV rồi cũng sẽ có những đặc điểm giống 4 họ hàng trước nó: dễ nhiễm và tái nhiễm, nhưng gây bệnh không đáng kể.

Kịch bản này có vẻ khó tin với những diễn biến hiện nay, khi biến chủng Delta đang hoành hành ở cả nước giàu và các mô hình chống dịch từng thành công. Tuy nhiên, Sarah Zhang, bình luận viên của The Atlantic, nhận định rằng đại dịch cuối cùng sẽ chấm dứt, bằng cách này hay cách khác.

Số ca nhiễm và tử vong do Covid-19 tăng vọt thời gian qua là hậu quả khi hệ miễn dịch của loài người gặp phải một chủng virus quá mới. Khi thế giới đạt đủ khả năng miễn dịch, dù qua tiêm chủng hay bình phục sau nhiễm, đại dịch sẽ chuyển thành bệnh đặc hữu - căn bệnh mà khoa học chưa thể xóa sổ, nhưng sẽ không khiến cuộc sống chúng ta đảo lộn.

Với độ bao phủ miễn dịch đủ lớn, số ca nhập viện và tử vong vì Covid-19 rồi sẽ giảm. Tiêm vaccine thường kỳ có thể tăng cường hệ miễn dịch và giảm đáng kể rủi ro. Số ca nhiễm có thể lúc tăng lúc giảm, biến động theo mùa, nhưng những kịch bản xấu nhất sẽ không tái diễn, theo Zhang.

Tuy nhiên, với một đại dịch còn nhiều mới mẻ, bình luận viên này cho rằng con đường đến đích thực tế còn nhiều mơ hồ. Dù Covid-19 sớm muộn sẽ trở thành bệnh đặc hữu, điều đó không đồng nghĩa rằng cộng đồng có thể bỏ hết mọi biện pháp phòng ngừa.

Trong giai đoạn này, các nước vẫn cần làm phẳng đường cong diễn tiến dịch. Việc giữ cho hệ thống y tế không quá tải trong thời gian càng dài, xã hội có thêm càng có nhiều cơ hội thúc đẩy tiêm chủng. Kịch bản để cho virus lây lan không kiểm soát trong cộng đồng chưa được tiêm chủng có thể đưa toàn dân số đến vạch đích sớm hơn, nhưng đó cũng là phương án gây tổn thất nhân mạng cao nhất.

Zhang cũng chỉ ra rằng con người không thể tự định đoạt hoàn toàn tương lai thoát đại dịch và Covid-19 bước sang giai đoạn bệnh đặc hữu, bởi điều này còn phụ thuộc vào những đột biến của nCoV.

Biến chủng Delta đã làm chệch hướng kế hoạch tái mở cửa tại nhiều quốc gia. Chừng nào phần lớn thế giới còn chưa được bảo vệ bằng vaccine, virus vẫn còn nhiều cơ hội sản sinh ra biến chủng mới với tốc độ lây lan cao và thách thức khả năng miễn dịch của con người.

Theo các nhà khoa học, điều đáng mừng là nCoV khó đột biến nhiều đến mức đẩy thành quả miễn dịch của thế giới về vạch xuất phát.

Khả năng kháng lây nhiễm của cơ thể có thể giảm theo thời gian, nhưng các tế bào miễn dịch ngăn bệnh trở nặng sẽ tồn tại trong thời gian dài. "Phản ứng miễn dịch của con người phức tạp đến mức virus không thể nào thoát được hết", Sarah Cobey, nhà sinh vật học tiến hóa ở Đại học Chicago, nhấn mạnh.

Ngăn bệnh nặng và tử vong cũng là mục tiêu ban đầu của vaccine. Theo các nhà khoa học, vaccine ngừa virus gây bệnh ở đường hô hấp hiếm khi ngăn chặn lây nhiễm triệt để. Chúng thường kích thích miễn dịch ở phổi nhiều hơn ở mũi, vốn là cửa ngõ đầu tiên của cơ thể tiếp xúc với mầm bệnh.

Những biến chủng mới đang khiến khả năng chống lây nhiễm của vaccine giảm đi. Hệ quả là mục tiêu miễn dịch cộng đồng, hay xóa sổ nCoV, trở nên xa hơn trước. Tuy nhiên, trong viễn cảnh Covid-19 là bệnh đặc hữu, số lượng vật chủ lây nhiễm sẽ không nhiều như hiện nay và phần lớn có miễn dịch cao, khiến khả năng đột biến của virus chậm lại.

Theo giới chuyên gia, con người rồi cũng phải học cách thay đổi suy nghĩ về Covid-19, không thể mãi trốn tránh virus và cần chuẩn bị tinh thần có thể chịu rủi ro lây nhiễm.

Ở những nước đã có độ phủ vaccine Covid-19 trong dân số cao như Anh và Israel, số ca nhiễm vẫn tăng mạnh sau khi dỡ bỏ biện pháp phong tỏa, nhưng số ca tử vong chỉ bằng một phần nhỏ giai đoạn đỉnh dịch kinh hoàng nhất.

Khi mọi người trong cộng đồng đều có miễn dịch, việc một người dương tính với nCoV sẽ trở thành điều bình thường như khi họ phát hiện mình bị nhiễm virus cúm mùa.

Vấn đề là loài người hiện vẫn chưa đạt đến ngưỡng miễn dịch này để chấm dứt những tranh cãi, trong khi mức độ chấp nhận của mỗi người với nguy cơ lây nhiễm là khác nhau. Một số người sẽ cho rằng quá trình tái mở cửa là quá nhanh, trong khi số khác lại kêu ca là quá chậm.

"Mọi người sẽ gặp rất nhiều khó khăn để hiểu được mức độ chấp nhận rủi ro của người khác", Julie Downs, chuyên gia tâm lý tại Đại học Carnegie Mellon, nhận định.

Sự thay đổi tâm lý sẽ cần thời gian và nỗ lực để xã hội thống nhất về mức độ rủi ro có thể chấp nhận được của Covid-19. "Chúng ta cần chuẩn bị tâm lý rằng Covid-19 có thể sẽ không bị xóa sổ, mà giảm xuống mức chúng ta cảm thấy chấp nhận được", bà nói.

Trong quá trình đó, các loại vaccine và thuốc điều trị tốt hơn có thể giúp kéo giảm nguy cơ từ Covid-19 hơn nữa, trong khi con người cũng nghiêm túc hơn với các biện pháp phòng dịch, như đeo khẩu trang và thông khí.

"Chúng ta sẽ cần sống chung với thực tế đó. Chỉ cần virus không tác động lên toàn bộ hệ thống chăm sóc sức khỏe, tôi nghĩ chúng ta sẽ làm được", Richard Webby, nhà nghiên cứu về bệnh truyền nhiễm tại Bệnh viện Nghiên cứu Nhi đồng St. Jude, nhận định.

Trung Nhân (Theo Atlantic)

Thứ Bảy, 4 tháng 9, 2021

RAU BÙ NGÓT - NGUỒN CUNG CẤP VITAMIN C VÔ TẬN VÀ 9 BÀI THUỐC CHỮA BỆNH

 


Rau bù ngót được xem là nguồn cung cấp vitamin C vô tận và bổ rẻ trong tự nhiên và đi kèm là 9 bài thuốc chữa bệnh độc đáo.

Hàm lượng vitamin C rất cao

Rau bù ngót còn có tên rau ngót, rau bồ ngót, hắc diện thần. Tên khoa học Sauropus androgynus (L.) Merr. Thuộc họ thầu dầu - Euphorbiaceae.

Theo bác sĩ Lê Thân trong sách "Thuốc ở quanh ta", trong trong lá rau bù ngót có hàm lượng vitamin C rất cao (185mg%). Người cần nhiều vitamin C trong chế độ dinh dưỡng, có thể hàng ngày ăn một lượng vừa phải lá rau bù ngót luộc tái, uống cả nước luộc là cách bổ sung vitamin C rất tốt và cũng rất rẻ.

Lá và rễ rau bù ngót có tác dụng làm mát huyết, hoạt huyết, lợi tiểu, giải độc. Thường dùng chữa ban sởi, ho, sốt cao, bí tiểu, tưa lưỡi.

Phụ nữ mới sinh con nên ăn nhiều rau bù ngót, vì nó có tác dụng thanh nhiệt, mát huyết.

Khi làm thuốc thường chọn những cây rau ngót đã sống 2 năm trở lên, hái lá tươi về dùng ngay.

9 bài thuốc chữa bệnh

Tưa lưỡi ở trẻ em: lá rau bù ngót 5 - 10g, giã vắt và lọc lấy nước; lấy bông sạch, thấm vào nước rau bù ngót vừa vắt, chà nhẹ lên lưỡi, lợi và vòm trẻ chỗ tưa trắng; làm ngày 2 - 3 lần.

Trẻ bị dị ứng: lá rau bù ngót 40g giã nát, cho nước đã nấu sôi để nguội vào quấy đều, gạn lấy nước uống chia 2 lần, cách nhau 10 phút.

Trẻ bị sốt nóng: lá rau bù ngót giã nát, lọc lấy nước uống.

Trẻ âm hư ra mồ hôi trộm, người luôn nóng: rau ngót 30g, rau bầu đất 30g; nấu chín với bầu dục lợn rồi ăn.

Đỏ mắt: lá rau bù ngót 50g, rễ cỏ xước 30g, lá dâu 30g, lá tre 30g, rau má 30g, lá chanh 10g; tất cả dùng tươi, sắc đặc, chắt lấy nước uống chia nhiều lần trong ngày.

Mắc xương khi ăn: lá rau bù ngót giã thật nát, vắt lấy nước cốt ngậm trong miệng, rồi nuốt từ từ.

Sót nhau: lá rau ngót 40g rửa sạch giã nát, thêm ít nước đã nấu sôi để nguội vào, vắt lấy chừng 100ml nước, chia làm 2 lần uống cách nhau 10 phút, sau chừng 15 - 20 phút nhau sẽ ra; có tác giả dùng đơn thuốc này chữa chậm kinh có kết quả. Có người chỉ giã nhỏ lá rau bù ngót đắp vào gan bàn chân để chữa sót nhau.

Ho, ban sởi, đái dắt, tiêu độc: lá rau bù ngót 20 - 40g, sắc uống.

Lợi tiểu, thông huyết: dùng rễ tươi 20 - 40g giã nát, ép lấy nước uống trong ngày.

Lưu ý

Trong rau ngót tươi có chứa hàm lượng papaverin cao gây hiện tượng co thắt cơ trơn tử cung, khiến dễ sảy thai. Chính vì vậy với thai phụ, đặc biệt là với những thai phụ có tiền sử sảy thai liên tiếp, đẻ non, thụ tinh trong ống nghiệm nên hạn chế ăn rau ngót, đặc biệt là uống nước rau ngót sống, liều cao.

Ngoài việc hỗ trợ cho quá trình trao đổi chất trong cơ thể, trong quá trình trao đổi chất của lá rau ngót tạo ra glucocorticoid, có thể gây cản trở cho quá trình hấp thụ canxi và phốtpho, cả canxi và phốtpho có trong chính lá rau ngót cũng như trong thực phẩm khác được ăn kèm với rau ngót.

Nguồn: laodong.vn

LÝ DO PHẢN ỨNG PHỤ SAU 2 MŨI VẮC XIN COVID-19 CÓ THỂ KHÁC NHAU

 


Nhiều người hoàn toàn khỏe mạnh sau khi tiêm mũi 1 nhưng mệt mỏi, sốt sau mũi thứ 2.

Phản ứng sau tiêm vắc xin Covid-19 hoặc bất kỳ loại vắc xin nào có thể hơi khó chịu. Nếu bạn thuộc nhóm nhạy cảm, tác dụng phụ còn tồi tệ hơn, khiến bạn mệt mỏi, không thể làm việc trong một hoặc hai ngày.

Việc tiêm đủ 2 mũi vắc xin là điều cần thiết để đảm bảo cơ thể được bảo vệ đầy đủ chống lại mầm bệnh do virus gây ra.

Liều đầu tiên của vắc xin kích hoạt các phản ứng viêm cần thiết và bắt đầu xây dựng kháng thể. Với liều thứ hai, các tế bào nhớ bắt đầu hoạt động để thu thập kháng thể tăng cường cao hơn. Do đó, hệ miễn dịch có thể mạnh mẽ hơn và dẫn đến các phản ứng dữ dội.

Đây là lý do liều thứ hai có thể gây ra nhiều tác dụng phụ hơn so với lần đầu tiên, mặc dù liều lượng giống hệt nhau.

Với một số loại vắc xin Covid-19, liều thứ hai thúc đẩy phản ứng kép. Hệ miễn dịch đã có sẵn một số kháng thể và liều vắc xin mới yêu cầu tạo ra nhiều kháng thể hơn. Do đó, các tác dụng phụ sẽ tăng lên. Loại phản ứng này có nhiều khả năng xảy ra với vắc xin phát triển theo công nghệ mRNA.

Tuy nhiên, hệ miễn dịch của mọi người không hoạt động theo cùng một cách. Do đó, cường độ và mức độ nặng nhẹ tác dụng phụ ở 2 lần của mỗi người sẽ không giống nhau. 

Cấu trúc gene và thay đổi nội tiết tố cũng dễ làm bùng phát phản ứng. Đây là nguyên nhân phụ nữ có xu hướng gặp phải các tác dụng phụ nặng hơn nam giới. Họ cũng có thể bị thay đổi chu kỳ kinh nguyệt, đau bụng và buồn nôn.

Các tác dụng phụ với vắc xin có xu hướng giống như bệnh cúm, có khả năng tương tự nhau sau 2 mũi. Tuy nhiên, các tác dụng phụ ở lần 2 có thể nặng hơn và khác về cường độ.

Đau tại chỗ tiêm, đau nhức, cứng khớp, sốt nhẹ là những triệu chứng được dự đoán sau khi tiêm mũi vắc xin đầu tiên. Đó là những dấu hiệu đầu tiên của chứng viêm cùng với sự mệt mỏi, uể oải và khó chịu.

Nhiều người đã cảm thấy kiệt sức và muốn nghỉ một vài ngày sau khi tiêm liều thứ 2. Một số ít cho biết họ bị buồn nôn, nôn, nhức đầu và ớn lạnh.

Cần lưu ý rằng các phản ứng dị ứng và phản vệ có thể tấn công một người bất cứ lúc nào sau mũi 1 hay mũi 2.

Tác dụng phụ của vắc xin có thể gây khó chịu khiến bạn cần nghỉ ngơi bất kể bạn có khỏe mạnh hay có khả năng chịu đau ra sao. Mặc dù bạn có thể tiếp tục làm việc, nhưng cần tránh bất cứ điều gì gây thêm áp lực cho hệ miễn dịch hoặc khiến bạn mệt mỏi. Hạn chế các hoạt động hoặc công việc chiếm nhiều thời gian hoặc đòi hỏi bạn cần dùng nhiều sức. 

Trước khi đi tiêm, bạn hãy cố gắng ăn uống, ngủ đủ giấc. Sau khi tiêm, cần uống nhiều nước và ăn thực phẩm bổ sung chất dinh dưỡng cho cơ thể.

An Yên (Theo Times of India)

Thứ Sáu, 3 tháng 9, 2021

NỖI LO 'ĐỨT' VẮC XIN MODERNA MŨI 2

 


Tuy nhiên, các chuyên gia của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khuyến cáo việc tiêm vắc xin Moderna mũi 2 có thể trì hoãn tới 12 tuần…

Ông Trần Văn Khanh - giám đốc Bệnh viện Lê Văn Thịnh (TP Thủ Đức) - cho biết những ngày qua có khá nhiều người dân gọi điện hoặc nhắn tin hỏi lịch tiêm vắc xin Moderna mũi 2. "Chúng tôi rất thấu hiểu mong chờ ấy của người dân nhưng vắc xin Moderna hiện đã tiêm hết số lượng phân bổ. Với nhóm này chúng tôi giải thích và khuyên họ tiếp tục chờ đợi thêm một thời gian" - bác sĩ Khanh chia sẻ.

28 ngày được hiểu là thời gian tối thiểu để tiêm vắc xin Moderna. Về nguyên tắc nếu tiêm đúng ngày sẽ tạo ra trí nhớ miễn dịch, cũng giống như học bài nếu để lâu có thể quên chút ít, còn nếu tiêm muộn cũng không có gì quá khác biệt cả.

Bất ngờ và ngóng chờ

Chị T.H. (ngụ phường Tân Định, quận 1, TP.HCM) cho biết ba mẹ chị đều là người cao tuổi, kèm theo bệnh lý nền đái tháo đường. Đầu tháng 8 cả hai ông bà được địa phương lên danh sách tiêm vắc xin Moderna. Thế nhưng từ lúc tiêm mũi 1 cho đến nay đã quá 30 ngày (khuyến cáo của Moderna tiêm mũi 2 sau 28 ngày), ông bà vẫn ngày ngày trông ngóng thông tin về lịch tiêm mũi 2. "Ở địa phương chưa có thông báo gì về kế hoạch tiêm vắc xin mũi 2 cả, gia đình tôi có hỏi nhưng địa phương cũng chưa biết lúc nào vắc xin mới về. Cả ông lẫn bà đều khá lo lắng, sợ đến khi có vắc xin tiêm mũi 2 thì mũi 1 đã mất đi hiệu quả bảo vệ" - chị H. chia sẻ.

"Tôi rất bất ngờ" - chị V.H. (ngụ phường Hiệp Bình Chánh, TP Thủ Đức) không giấu nổi niềm vui khi cả ba và mẹ đều được tiêm vắc xin Moderna vào đầu tháng 8. Nhưng "kịch bản" cũng giống nhiều trường hợp khác, kể từ lúc tiêm mũi 1 đến nay đã 30 ngày trôi qua lịch tiêm vắc xin mũi 2 vẫn "im ắng", gia đình cũng đang ngóng từng ngày. Điều khiến chị V.H. không khỏi lo lắng là cả hai ông bà đã trên dưới 80 tuổi, mỗi người đều mang trong mình các bệnh lý nền như ông thì ung thư dạ dày giai đoạn 3B và bà bị hen suyễn mãn tính nặng, nếu mắc thêm COVID-19 sẽ khá nguy hiểm. "Mong muốn của gia đình là làm sao có vắc xin để tiêm sớm cho ông bà được ngày nào hay ngày đó nhằm giảm bớt nguy cơ trong tình hình dịch bệnh vốn đang rất phức tạp hiện nay" - chị V.H. chia sẻ.

Câu chuyện của chị H. cũng là nỗi niềm chung của rất nhiều người đã tiêm mũi 1 vắc xin Moderna. Một số bệnh viện được giao tiêm vắc xin cũng cho rằng hiện đã hết sạch vắc xin Moderna và chỉ còn biết giải thích, hẹn người dân tiêm mũi 2 vào "một ngày gần nhất". "Nếu như vắc xin AstraZeneca còn có thể tiêm trộn Pfizer thì Moderna chưa có khuyến cáo tiêm trộn, bắt buộc phải đúng loại vắc xin đó. Nhiều người khá lo lắng, bởi sợ tiêm mũi 2 chậm sẽ phí mũi 1" - nhân viên phụ trách tiêm chủng tại một bệnh viện cho hay.

Không nên quá lo lắng

Theo báo cáo của Sở Y tế TP.HCM đến ngày 3-9, tổng số liều vắc xin mà thành phố nhận được từ phân bổ là 10.349.200 liều, trong đó có 4.456.490 liều vắc xin AstraZeneca, 571.200 liều vắc xin Moderna, 312.510 liều Pfizer và 5.009.000 liều Vero-cell.

Trong khi các loại vắc xin AstraZeneca, Pfizer, Vero-cell về khá nhiều đợt thì vắc xin Moderna hiện mới chỉ về vài đợt với 571.200 liều. Số vắc xin này đã được phân bổ cho các địa phương và các bệnh viện tiêm mũi 1, một số người may mắn đủ điều kiện tiêm mũi 2.

Ông Lê Đình Thanh - giám đốc Bệnh viện Thống Nhất - cho rằng TP.HCM mới chỉ về vài đợt vắc xin Moderna với số lượng hạn chế, trong khi lô vắc xin sau khi rã đông chỉ sử dụng được trong vòng 30 ngày, đó cũng là điều dễ hiểu tại sao nhiều người tiêm mũi 1 nhưng chưa tiêm được mũi 2.

Theo ông, quy định thời gian tiêm mũi 2 sau 28 ngày chỉ là mốc thời gian tối thiểu để người dân hiểu không nên tiêm trước ngày đó, còn thời hạn sau cùng tiêm mũi 2 hiện chưa có giới hạn cụ thể, thậm chí có khuyến cáo việc kéo dài khoảng cách giữa 2 mũi tiêm còn mang lại nhiều tác dụng tốt cho con người. "Người dân cần bình tĩnh hiểu rằng khi đã tiêm được mũi 1 chắc chắn đã có hiệu quả bảo vệ tương đối; và dù có tiêm đủ 2 mũi vắc xin vẫn có thể mắc COVID-19, bởi vậy không nên chủ quan mà cần phải tuân thủ nghiêm các biện pháp 5K"- PGS Lê Đình Thanh khuyến cáo.

TS Nguyễn Huy Luân - trưởng đơn vị tiêm chủng (Bệnh viện ĐH Y dược TP.HCM) - cho rằng một trong những nguyên nhân của việc chậm tiêm vắc xin Moderna mũi 2 xuất phát từ cách phân bổ vắc xin chưa hợp lý. Thông thường nguyên tắc khi tiêm mũi 1 phải có dự trù vắc xin cho việc tiêm mũi 2.

Tuy nhiên, theo tìm hiểu của chúng tôi, có lý do phải tiêm phủ vắc xin trong thời gian ngắn và khi vắc xin được rã đông một loạt đòi hỏi phải sử dụng trong vòng 30 ngày, do đó chỉ một số nhóm người tiêm đầu tiên (3-4 ngày đầu) mới đủ điều kiện tiêm mũi 2, còn lại sẽ phải… chờ. Các chuyên gia y tế khuyến cáo người dân không nên quá lo lắng, bởi sau khi tiêm mũi 1 đã có những tác dụng miễn dịch đáng kể.

Tiêm trộn vắc xin được không?

Trong điều kiện chưa xác định nguồn vắc xin Moderna có thể cung ứng, bác sĩ Nguyễn Huy Luân cho rằng ngành y tế có thể cân nhắc chuyển qua tiêm mũi 2 bằng một loại vắc xin khác, có thể là Pfizer. Theo ông, thực tế WHO chưa cho phép nhưng ở các nước châu Âu cũng đã áp dụng tiêm mũi 1 Moderna, mũi 2 Pfizer cho người dân và bước đầu cho thấy có những hiệu quả khả quan, đặc biệt ở nhóm người trên 65 tuổi có nhiều bệnh nền.

Ủng hộ quan điểm này, PGS Lê Đình Thanh cho rằng có thể phải tính toán tìm cách tiêm mũi 2 cho người tiêm mũi 1 Moderna bằng một loại vắc xin khác. "Ở châu Âu có thể tiêm mũi 1 AstraZeneca, mũi 2 bằng Moderna; hoặc thậm chí có nơi tiêm mũi 1 Moderna và mũi 2 bằng Pfizer. Trong khi ở Việt Nam hiện mới chỉ cho phép áp dụng tiêm trộn vắc xin AstraZeneca và Pfizer, theo khuyến cáo của WHO và Bộ Y tế" - BS Thanh nói.

Tính đến ngày 2-9, tổng số mũi vắc xin đã triển khai tiêm của TP đạt 6.268.327, trong đó có 5.899.379 mũi 1 (đạt tỉ lệ 81,8%) và 368.948 mũi 2 (đạt tỉ lệ 5,1%).

TP.HCM đang nỗ lực tìm kiếm vắc xin

Về vấn đề nêu trên, đại diện Sở Y tế TP.HCM cho hay hiện các loại vắc xin được phân bổ đơn vị đã triển khai tiêm chủng cho người dân. Ngoài sự phân bổ từ Bộ Y tế, TP.HCM cũng đang nỗ lực tìm kiếm nguồn vắc xin để sớm tiêm cho người dân một cách nhanh nhất.

Trong nỗ lực tìm kiếm vắc xin đảm bảo chất lượng về cho người dân, khoảng từ tháng 6-2021 UBND TP.HCM đã có đề xuất mua 5 triệu liều vắc xin Moderna. Tuy nhiên quá trình triển khai gặp một số vướng mắc trong điều kiện hợp đồng nên đến nay việc nhập khẩu 5 triệu liều vắc xin này vẫn chưa được thực hiện.

Theo báo cáo, nếu hợp đồng được ký kết, có thể lịch giao vắc xin Moderna dự kiến vào quý 4-2021 hoặc quý 1-2022. Ngoài ra, UBND TP tiếp tục làm việc với các đơn vị liên quan yêu cầu Moderna đảm bảo số lượng cung ứng tối thiểu 2 triệu liều giao trong tháng 10-2021; đồng thời tiếp tục đàm phán để mua ít nhất 10 triệu liều vắc xin tăng cường (tiêm mũi 2) và giao trong đầu quý 2-2022.

Có thể trì hoãn tiêm mũi 2 tới 12 tuần

Theo WHO, vắc xin Moderna được khuyến cáo ưu tiên tiêm cho những người mắc các bệnh đi kèm (bệnh nền) gồm phổi mãn tính, tim, béo phì nặng, đái tháo đường, gan và nhiễm virus gây suy giảm miễn dịch ở người nhiễm HIV. Những người này được đánh giá tăng nguy cơ mắc COVID-19 nặng.

Nhóm chuyên gia tư vấn chiến lược (SAGE) của WHO cũng đưa ra khuyến cáo sử dụng vắc xin Moderna theo lịch tiêm 2 liều cách nhau 28 ngày, nếu cần khoảng cách giữa các liều có thể kéo dài tới 42 ngày. Đặc biệt ở một số nước có tỉ lệ mắc COVID-19 cao và thiếu hụt trầm trọng cung ứng vắc xin có thể cân nhắc trì hoãn liều 2 tới 12 tuần để sớm đạt tỉ lệ bao phủ tiêm mũi 1 ở các nhóm ưu tiên.

Nguồn: tuoitre.vn

3 THỰC PHẨM "ĐẠI KỴ" VỚI CÀ RỐT, ĐỪNG DẠI NẤU CHUNG

 


Cà rốt là thực phẩm vừa bổ dưỡng lại rẻ nhưng nếu ăn không đúng cách hoặc kết hợp nấu cùng một số thực phẩm sau sẽ gây hại đến sức khỏe.

Lợi ích của cà rốt đối với sức khỏe

Cà tốt rất giàu chất dinh dưỡng, protid, lipid, glucid và chất xơ, nhiều nguyên tố vi lượng và các vitamin, trong đó hàm lượng carotene là cao nhất (trong 100g cà rốt có tới 3,62mg carotene).

Việc bổ sung cà rốt đúng cách có khả năng điều tiết cơ năng sinh lý của cơ thể, tăng cường thể chất, tăng miễn dịch, dự phòng tích cực các bệnh lý do thiếu vitamin A, cao huyết áp, tim mạch, đặc biệt có tác dụng chống lão hóa cho cơ thể.

Cà rốt là một nguồn cung cấp dồi dào các vitamin và khoáng chất quan trọng. Dựa trên nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày của một người, nửa cốc cà rốt có thể đáp ứng tới:

73% nhu cầu vitamin A;

9% vitamin K;

8% lượng kali và chất xơ;

5% vitamin C;

2% canxi và sắt.

Ăn cà rốt nhiều rất tốt cho mắt: Cà rốt giàu beta-carotene - một hợp chất mà cơ thể chuyển thành vitamin A, hay còn gọi là tiền vitamin A, giúp mắt khỏe mạnh. Hơn nữa, beta-carotene còn giúp bảo vệ đôi mắt khỏi ánh nắng mặt trời và làm giảm nguy cơ bị đục thủy tinh thể ,cũng như các vấn đề thị lực khác.

Cà rốt màu vàng có chứa lutein, các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng dưỡng chất này có thể ngăn ngừa thoái hóa điểm vàng liên quan đến tuổi tác.

Ăn cà rốt tăng cường hệ thống miễn dịch: Vitamin C trong cà rốt giúp cơ thể tạo ra các kháng thể bảo vệ hệ miễn dịch, đồng thời tiếp nhận và sử dụng sắt, cũng như ngăn ngừa nhiễm trùng. Vitamin C còn góp phần sản xuất collagen - thành phần chính của mô liên kết, rất cần thiết để chữa lành vết thương và giữ cho cơ thể khỏe mạnh.

Ăn cà rốt giúp xương chắc khỏe: Trong cà rốt còn chứa vitamin K, một lượng nhỏ canxi và phốt pho, góp phần vào sức khỏe của xương và giúp ngăn ngừa loãng xương.

Thực phẩm đại kỵ với cà rốt

Cà rốt không nên ăn cùng củ cải: Hai loại thực phẩm này tốt cho sức khỏe nhưng khi chế biến chung lại gây hại. Cụ thể, trong củ cải trắng chứa lượng vitamin C cực cao, rất tốt cho sức khỏe của con người, trong cà rốt lại chứa một lượng chất phân giải enzim, vô hiệu hóa tác dụng của vitamin C, ăn cùng lúc sẽ phá hủy các thành phần dinh dưỡng.

Cà rốt không nên nấu với cà chua: Cà rốt chứa enzym phân giải vitamin C có trong cà chua; đồng thời khi dùng chung hai loại thực phẩm này sẽ làm giảm các thành phần dinh dưỡng của nhau.

Không nên chế biến cà rốt cùng giấm: Nhiều người có thói quen làm món chua ngọt bằng cà rốt pha nước chấm có giấm chua. Tuy nhiên cà rốt chứa nhiều carotene khi carotene kết hợp với giấm chúng sẽ phá hủy các chất dinh dưỡng mà carotene đem lại cho sức khỏe. Vì vậy khi chế biến món ăn chúng ta không nên kết hợp giấm và cà rốt với nhau.

Lưu ý: Cà rốt tuy là loại thực phẩm ngon bổ và rẻ, thế nhưng người lớn không nên dùng quá 300g và trẻ em không dùng quá 150g loại củ này một tuần. Việc dùng quá nhiều cà rốt khiến lợi bất cập hại. Bởi khi được nạp vào cơ thể quá nhiều, lượng beta carotene ứ đọng lại gây ra hiện tượng vàng da, chán ăn, sắc mặt và da tay chuyển thành màu cam, tăng lượng lipit trong máu, ảnh hưởng đến hệ thần kinh gây cảm giác bồn chồn, mất ngủ.

Theo Trúc Chi (Người đưa tin

Thứ Năm, 2 tháng 9, 2021

HIỆU QUẢ BẢO VỆ CỦA VẮC XIN KÉO DÀI BAO LÂU?

 


Nhiều người băn khoăn, sau khi tiêm vắc xin phòng Covid-19, hiệu quả bảo vệ trong bao lâu, có kéo dài suốt đời hay không?

Theo một nghiên cứu mới tại Anh, hiệu quả bảo vệ của vắc xin Pfizer và AstraZeneca trong việc ngăn lây nhiễm bệnh giảm dần trong vòng 6 tháng sau khi tiêm đủ 2 mũi.

Báo cáo mới đây về tình hình dịch Covid-19 của Bộ Y tế có nêu thông tin không chính thức về tính hiệu quả của vắc xin trong việc ngăn lây nhiễm bệnh.

Theo đó, một nghiên cứu tại Anh dựa vào dữ liệu của hơn 1,2 triệu kết quả xét nghiệm cho thấy tính hiệu quả của vắc xin Pfizer trong việc ngăn lây nhiễm bệnh sẽ giảm từ 88% xuống còn 74% ở thời điểm 5-6 tháng sau khi được tiêm đủ hai mũi. Với vắc xin AstraZeneca, con số này sẽ giảm từ mức 77% xuống 67% ở thời điểm 4-5 tháng sau khi tiêm đủ hai mũi.

Bên cạnh đó, theo một chuyên gia dịch tễ tại Đại học Boston (Mỹ), đã có những bằng chứng về sự suy giảm khả năng miễn dịch sau khoảng thời gian từ 6 đến 8 tháng của vắc xin mRNA (do Pfizer và Moderna sản xuất). Dù vậy, nó vẫn được cho là vẫn bảo vệ tốt khỏi khả năng bị bệnh nặng, nhập viện và tử vong.

CDC cũng đã khuyến nghị một liều tăng cường để nâng cao hiệu quả của vắc xin Pfizer và Moderna, bắt đầu sớm nhất là vào ngày 20/9, ít nhất 8 tháng sau liều vắc xin thứ hai.

Theo các chuyên gia, theo thời gian, ngay cả những loại vắc xin rất hiệu quả cũng suy giảm về mức độ hiệu quả của chúng. Điều này cũng đúng đối với vắc xin coronavirus.

Các vắc xin có hiệu quả rất cao trong việc ngăn ngừa mắc bệnh nặng 

Theo WHO, các vắc xin đều có hiệu quả rất cao trong việc ngăn ngừa mắc bệnh nặng cần nhập viện do Covid-19 gây ra. Với biến thể Delta, các dữ liệu cho thấy vắc xin vẫn có hiệu quả tốt trong việc ngăn ngừa mắc bệnh nặng Covid-19, mặc dù có giảm hiệu quả trong việc ngăn ngừa mắc bệnh có triệu chứng.

TS Katherine O'Brien, chuyên gia của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cũng cho biết các loại vắc xin Covid-19 hiện nay chủ yếu là vắc xin hai liều. Trong vòng khoảng 2 tuần sau mũi tiêm đầu tiên, cơ thể bắt đầu có phản ứng miễn dịch tốt. Và liều thứ hai sau đó góp phần tăng cường miễn dịch.

"Chúng tôi vẫn chưa biết khả năng miễn dịch kéo dài bao lâu từ các loại vắc xin mà chúng tôi có trong tay ngay bây giờ. Chúng tôi đang theo dõi những người đã tiêm phòng để tìm hiểu xem liệu phản ứng miễn dịch của họ có bền theo thời gian hay không và khoảng thời gian mà họ được bảo vệ chống lại bệnh tật. Vì vậy, chúng tôi thực sự sẽ phải đợi thời gian trôi qua để xem những loại vắc xin này tồn tại trong bao lâu", chuyên gia WHO nói.

Theo CDC Mỹ, vắc xin có hiệu quả song không có vắc xin nào ngăn ngừa bệnh tật 100%. Thường mất khoảng 2 tuần để cơ thể xây dựng sự bảo vệ sau khi tiêm phòng, vì vậy một người có thể mắc bệnh nếu vắc xin chưa có đủ thời gian để bảo vệ.

Ngoài ra, một tỷ lệ nhỏ những người được tiêm phòng đầy đủ vẫn bị nhiễm nếu họ tiếp xúc với virus gây bệnh, thường không có triệu chứng hoặc các triệu chứng nhẹ hơn. Có một số bằng chứng cho thấy việc tiêm phòng có thể làm cho bệnh bớt trầm trọng hơn ở những người đã tiêm phòng nhưng vẫn bị bệnh.

PGS.TS Trần Đắc Phu, nguyên Cục trưởng Cục Y tế Dự phòng, Cố vấn cao cấp Trung tâm Đáp ứng khẩn cấp sự kiện y tế công cộng Việt Nam cũng cho biết các vắc xin Covid-19 khác nhau có những hiệu quả phòng bệnh khác nhau có loại đạt trên 90% nhưng cũng có loại chỉ đạt trên 60%. Tuy vậy chắc chắn việc tiêm vắc xin Covid-19 sẽ làm giảm nhẹ được triệu chứng mắc bệnh nặng cũng như giảm tỷ lệ tử vong.

Vắc xin phòng Covid-19 là loại vắc xin mới, được cấp phép theo điều kiện khẩn cấp nên chúng ta chưa biết chắc chắn rằng việc tiêm vắc xin có làm giảm được khả năng nhiễm bệnh và lây truyền bệnh hay không. Tuy nhiên, việc tiêm sẽ giúp giảm triệu chứng nặng và giảm nguy cơ tử vong.

Như vậy, đến nay, các nhà khoa học vẫn chưa đưa ra được câu trả lời chắc chắn về công dụng của những loại vắc xin này, rằng liệu nó có bảo vệ mọi người khỏi nhiễm virus SARS-CoV-2 hay không và liệu nó có bảo vệ khỏi việc làm lây truyền bệnh cho người khác hay không.

Vì thế, dù đã tiêm vắc xin, người dân tiếp tục thực hiện các biện pháp khác để phòng ngừa lây nhiễm bệnh.

Theo báo cáo của Bộ Y tế, từ khi bắt đầu dịch đến nay, thế giới đã ghi nhận Tổng số ca bệnh từ đầu dịch đến nay ghi nhận khoảng 220 triệu ca Covid-19, có hơn 4,5 triệu ca tử vong.

Tại châu Âu, WHO ngày 30/8 cảnh báo, đến tháng 12/2021 có thể sẽ có thêm 236.000 người tử vong do Covid-19, qua đó báo động gia tình trạng gia tăng lây nhiễm cũng như công tác tiêm phòng đình trệ ở châu lục này. Con số dự báo được đưa ra dựa trên số ca tử vong do Covid-19 thực tế tại châu Âu trong một tuần qua (tăng 11%). Lãnh đạo WHO châu Âu nhấn mạnh, tốc độ lây nhiễm tại châu Âu hiện nay rất đáng lo ngại, đặc biệt trong bối cảnh tỷ lệ tiêm phòng trong các nhóm người ưu tiên tại một số quốc gia ở mức thấp.

Đến nay, khoảng 50% dân số châu Âu đã hoàn thành tiêm phòng. Trong 6 tuần qua, tốc độ tiêm tại châu Âu đã giảm 14% do tình trạng thiếu vắc xin và nhiều loại vắc xin chưa được cấp phép tại nhiều nước.

Tại châu Á, các nước Đông Nam Á vẫn đang gồng mình khống chế sự bùng phát dịch Covid-19 do biến thể Delta.

Tại Việt Nam, đến tối 1/9, đã có 473.530 ca mắc Covid-19, với 11.868 trường hợp tử vong. Tỷ lệ tử vong trên tổng số ca mắc của nước ta hiện cao hơn 0,4% so với tỷ lệ tử vong do Covid-19 trên toàn thế giới (2,5% so với 2,1%). Về tỷ lệ số ca mắc trên một triệu dân, Việt Nam đang đứng thứ 161 trên 222 quốc gia và vùng lãnh thổ.PGS.TS Trần Đắc Phu, nguyên Cục trưởng Cục Y tế Dự phòng, Cố vấn cao cấp Trung tâm Đáp ứng khẩn cấp sự kiện y tế công cộng Việt Nam cũng cho biết các vắc xin Covid-19 khác nhau có những hiệu quả phòng bệnh khác nhau có loại đạt trên 90% nhưng cũng có loại chỉ đạt trên 60%. Tuy vậy chắc chắn việc tiêm vắc xin Covid-19 sẽ làm giảm nhẹ được triệu chứng mắc bệnh nặng cũng như giảm tỷ lệ tử vong.

Vắc xin phòng Covid-19 là loại vắc xin mới, được cấp phép theo điều kiện khẩn cấp nên chúng ta chưa biết chắc chắn rằng việc tiêm vắc xin có làm giảm được khả năng nhiễm bệnh và lây truyền bệnh hay không. Tuy nhiên, việc tiêm sẽ giúp giảm triệu chứng nặng và giảm nguy cơ tử vong.

Như vậy, đến nay, các nhà khoa học vẫn chưa đưa ra được câu trả lời chắc chắn về công dụng của những loại vắc xin này, rằng liệu nó có bảo vệ mọi người khỏi nhiễm virus SARS-CoV-2 hay không và liệu nó có bảo vệ khỏi việc làm lây truyền bệnh cho người khác hay không.

Vì thế, dù đã tiêm vắc xin, người dân tiếp tục thực hiện các biện pháp khác để phòng ngừa lây nhiễm bệnh.

Theo báo cáo của Bộ Y tế, từ khi bắt đầu dịch đến nay, thế giới đã ghi nhận Tổng số ca bệnh từ đầu dịch đến nay ghi nhận khoảng 220 triệu ca Covid-19, có hơn 4,5 triệu ca tử vong.

Tại châu Âu, WHO ngày 30/8 cảnh báo, đến tháng 12/2021 có thể sẽ có thêm 236.000 người tử vong do Covid-19, qua đó báo động gia tình trạng gia tăng lây nhiễm cũng như công tác tiêm phòng đình trệ ở châu lục này. Con số dự báo được đưa ra dựa trên số ca tử vong do Covid-19 thực tế tại châu Âu trong một tuần qua (tăng 11%). Lãnh đạo WHO châu Âu nhấn mạnh, tốc độ lây nhiễm tại châu Âu hiện nay rất đáng lo ngại, đặc biệt trong bối cảnh tỷ lệ tiêm phòng trong các nhóm người ưu tiên tại một số quốc gia ở mức thấp.

Đến nay, khoảng 50% dân số châu Âu đã hoàn thành tiêm phòng. Trong 6 tuần qua, tốc độ tiêm tại châu Âu đã giảm 14% do tình trạng thiếu vắc xin và nhiều loại vắc xin chưa được cấp phép tại nhiều nước.

Tại châu Á, các nước Đông Nam Á vẫn đang gồng mình khống chế sự bùng phát dịch Covid-19 do biến thể Delta.

Tại Việt Nam, đến tối 1/9, đã có 473.530 ca mắc Covid-19, với 11.868 trường hợp tử vong. Tỷ lệ tử vong trên tổng số ca mắc của nước ta hiện cao hơn 0,4% so với tỷ lệ tử vong do Covid-19 trên toàn thế giới (2,5% so với 2,1%). Về tỷ lệ số ca mắc trên một triệu dân, Việt Nam đang đứng thứ 161 trên 222 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Nguồn: dantri.com 

Thứ Tư, 1 tháng 9, 2021

NÊN ĐÁNH RĂNG TRƯỚC HAY SAU KHI ĂN SÁNG: SAI LẦM HƠN 80% NGƯỜI MẮC PHẢI, BẠN CÓ ĐANG VỆ SINH RĂNG MIỆNG ĐÚNG CÁCH?

 


Chúng ta thường có thói quen đánh răng trước khi ăn sáng, nhưng hành động này liệu có tốt cho sức khỏe răng miệng?


Người Việt chúng ta hầu hết đều có thói quen đánh răng sau khi ngủ dậy rồi mới ăn sáng. Trong khi đó, ở một số nước như Pháp, họ thích ăn sáng trước, sau đó đánh răng, tắm và đi làm.

Vậy, đâu là cách chăm sóc răng miệng đúng đắn ?

1. Miệng chứa rất nhiều vi khuẩn!

Miệng là môi trường lý tưởng để vi khuẩn sinh sôi và phát triển. Vi khuẩn khoang miệng tồn tại ở cả 3 dạng: vi khuẩn có hại, vi khuẩn có lợi và vi khuẩn trung tính. Chỉ khi tỷ lệ vi khuẩn có lợi và vi khuẩn có hại được cân bằng thì khoang miệng mới khỏe mạnh và tránh được các bệnh như viêm miệng.

Người ta ước tính rằng có hơn 400 loại vi khuẩn trong miệng của con người, có 10 tỷ vi khuẩn trong 1g cao răng ở người khỏe mạnh, 80 triệu vi khuẩn Neisseria trong 1ml nước bọt và 1 tỷ các liên cầu khuẩn kỵ khí trong 1g dịch tiết của nướu, đây là những con số đáng kinh ngạc.

Khi hại khuẩn chiếm ưu thế về số lượng và chủng loại chính là lúc xuất hiện các bệnh răng miệng và ngược lại.

2. Ăn sáng trước hay đánh răng trước ?

Chúng ta đều biết rằng nếu không đánh răng buổi tối, mảng bám sẽ phát triển trên răng. Đây là hỗn hợp của cặn thức ăn và vi khuẩn, có thể được loại bỏ bằng cách súc miệng và đánh răng.

Chia sẻ quan điểm về câu hỏi "nên ăn sáng trước khi đánh răng, hay đánh răng trước khi ăn sáng", Tiến sĩ Y khoa Chu Vương Dũng, Phòng khám Nha khoa, Đại học Quốc gia Tôn Trung Sơn tin rằng cách làm chính xác là ăn sáng trước, đánh răng sau.

Theo ông, thức ăn thô có thể hoạt động như một bàn chải trong bữa sáng, cho phép răng tự làm sạch trong quá trình nhai. Ngoài ra, sau khi ăn khoảng 20 phút, mảng bám răng mới sẽ hình thành trên răng, nếu bạn ăn sáng sau khi đánh răng thì mảng bám sẽ ở trên răng suốt cả ngày. Còn nếu bạn đánh răng sau khi ăn sáng, bạn có thể loại bỏ ngay cặn thức ăn bám trên răng và ngăn ngừa sự hình thành của mảng bám răng.

Dù hầu hết mọi người đã quen với việc đánh răng trước khi ăn sáng, nhưng thứ tự đúng phải là ăn sáng trước rồi mới đánh răng.

Thường thì vi khuẩn phải mất 12 tiếng mới có thể phát triển và gây hại cho răng. Vì thế, để việc vệ sinh răng miệng phát huy tối đa tác dụng, bạn nên đánh răng ít nhất 2 lần mỗi ngày vào buổi sáng và buổi tốiKhông nên đánh răng quá 3 lần vì chúng sẽ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe răng miệng.

3. Có nên đánh răng ngay sau bữa ăn ?

Có nhiều quan điểm cho rằng: " nên đánh răng ít nhất 30 phút sau khi ăn."  Vì sau khi các chất trong thức ăn tiếp xúc với men răng sẽ làm giảm khả năng chống mài mòn của men răng. Nước bọt có thể điều chỉnh độ pH trong miệng, đẩy nhanh quá trình tái khoáng hóa men răng, giúp bảo vệ men răng. Nước bọt chưa khoáng hóa men răng trong vòng 30 phút sau bữa ăn, và việc đánh răng lúc này rất dễ làm hỏng răng.

Các chuyên gia cho rằng điều này không thực sự đúng đắn.

Nước bọt thực sự có thể điều chỉnh độ pH của miệng, nhưng hiệu quả khác nhau ở mỗi người. Các nhà nghiên cứu đã kiểm tra sự thay đổi của độ pH trong miệng thông qua các thí nghiệm và phát hiện ra rằng sau khi ăn, độ pH trong miệng của mọi người sẽ giảm xuống và sẽ giảm xuống mức tối thiểu trong khoảng 12 phút .

Sau đó, độ pH trong miệng bắt đầu tăng từ từ, khoảng 30 phút sau, độ pH trong miệng trở lại mức bình thường, chỉ một số đối tượng bị sâu răng nặng mới có độ PH thấp hơn 1 giờ sau bữa ăn.

Do đó, các nhà nghiên cứu cho rằng nước bọt không hoàn toàn bảo vệ răng. Ngược lại, nếu chúng ta không làm sạch lượng lớn thức ăn còn sót lại trong khoang miệng sau khi ăn, chúng ta sẽ ăn mòn răng từ từ, lâu dần sẽ hình thành sâu răng. Đánh răng đúng lúc sau bữa ăn có thể loại bỏ cặn thức ăn kịp thời và bảo vệ sức khỏe răng miệng.

Buổi sáng thức dậy, bạn thường đánh răng trước khi ăn sáng, hay ăn sáng trước khi đánh răng? Dù đã quen với cách nào thì chúng ta nên nhớ phải duy trì việc đánh răng mỗi ngày vào buổi sáng và buổi tối để bảo vệ răng miệng.

( Theo toutiao)