Thứ Ba, 26 tháng 7, 2022

CON KHÔNG CÒN SỢ CÔ ĐƠN

 


Sống với lòng biết ơn, yêu thương mỗi ngày, tự khắc lòng mình sẽ nhẹ nhàng, thanh thản, an trú với những hạnh phúc dù là bé nhỏ.

Con xin nguyện thực tập sống chánh niệm, luôn quán chiếu thấy tất cả chúng sinh là cha mẹ, luôn nhớ nghĩ đến công ơn đức độ của Thầy, tập nhìn xuống để khởi tâm vị tha, sống xứng đáng với những gì cha mẹ, Thầy Tổ truyền trao. 

Con nguyện thực hành nhìn sâu để thấy trong con luôn có cha mẹ, luôn có Thầy bạn hiện hữu, học biết ơn những gì con đang có, giữ thân luôn chánh và tâm luôn chánh.

(Phỏng theo Sự thực tập 5 cái lạy của Sư ông Làng mai)

1. Cơ hội…

Một chiều những ngày cuối tháng Năm, ngồi bên hiên cửa nhìn mưa rơi – những cơn mưa rào mùa hè bất chợt đến rồi đi trong vội vã. Nếu là một ngày tháng Năm như trước, có lẽ tôi cũng đang bận rộn trong công việc, hay rong ruổi trên những chuyến tàu xe tấp nập người qua lại.

Nhưng năm nay, một năm thật đặc biệt, khi cả thế giới đang cùng vượt qua khủng hoảng dịch bệnh; bao mảnh đời đang bấp bênh vì mất việc, mất người thân; bao nhiêu số phận đã ra đi vì đói khát, bệnh tật. Ngồi nơi đây, tôi bỗng cảm thấy mình may mắn và hạnh phúc biết nhường nào khi vẫn có nơi để ở, có thức ăn để ăn, gia đình vẫn hiện hữu, thân và tâm còn khoẻ mạnh an lạc.

Thời gian giãn cách xã hội vừa qua đã cho tôi cơ hội được trở về tìm lại con người thật của chính mình, có cơ hội nhìn lại suốt chặng đường đã qua. Tôi thấy được phải trân quý cuộc sống này hơn, phải cố gắng sống cho đáng kiếp người, không lãng phí từng phút giây.

Ngày mưa giăng, gió đổ về từng cơn, mây đen nặng trĩu bầu trời, cây lá xào xạc lay chuyển tựa vào nhau để cùng vượt qua giông tố. Tôi thắp nén trầm hương, bật chút nhạc thiền, gửi gắm vào đó chút lời tri ân.

2. Nhìn về thực tại

Có một người bạn đã hỏi tôi: “Phải làm gì khi sống một mình quá lâu? Không được ra ngoài, không được thoải mái gặp bạn bè chắc tự kỷ mất!”

Tôi chỉ biết nhẹ nhàng nhắn lại: “Cậu hãy thử theo dõi tình cảnh Ấn độ hiện tại, đọc những trang viết về đại dịch Covid-19 đã khiến hàng triệu dân nhập cư lên thành phố kiếm tiền không về được quê, có người phải đi bộ hàng ngàn dặm để trở về nhìn con trai lần cuối, người con gái 15 tuổi đạp xe chở bố về quê giữa nắng hè oi bức vượt qua quãng đường vài trăm cây số đoàn tụ gia đình… Cái bức bối, tự kỷ mà cậu nói có lẽ sẽ chẳng là gì, khi cậu thấu hiểu được rằng hạnh phúc đơn giản là ta vẫn còn được sống, đủ ăn, đủ mặc, có nhà cửa để trở về. Vì chúng ta ích kỷ, chỉ luôn nghĩ tới riêng mình, những niềm vui nỗi buồn của chính mình nên tâm cáu ghét, phiền muộn dễ nảy sinh”. người bạn của tôi nhờ đó cũng tích cực lên được phần nào.

Nói tới đây, tôi chợt nghĩ đến cuộc đời của đức Phật, của những bậc Thầy đạo hạnh tu hành cả một đời. các Ngài đâu có bị trói buộc bởi phiền não khi sống một mình. Thái tử Tất-đạt-đa đã từ bỏ vương thành xa hoa, có người hầu hạ, hát ca vui vẻ suốt ngày mà dấn thân vào rừng sâu, núi hiểm, tu hành chứng quả vị Phật; Các bậc chân tu ngày đêm công phu, đâu cần phải ra ngoài tiếp xúc thật nhiều người, nói cười thỏa thích mà vẫn tỏa sáng từ dung, tràn đầy năng lượng an vui. Vì sao các Ngài làm được như vậy? có lẽ vì Tâm Bồ-đề, tâm nguyện vị tha vì chúng sinh của các Ngài quá lớn. còn chúng ta vì sống ích kỷ, chỉ nghĩ cho riêng mình, mình vui đã còn kệ người khác cho nên vẫn còn bị trói buộc trong phiền não khổ đau.

3. Con đường đã có

Nếu chúng ta, ai ai cũng nghĩ, cũng làm được như lời Phật dạy, sống cuộc đời như các vị tiền nhân đạo hạnh đã sống, thì xã hội sẽ bớt khổ đau nhiều lắm.

Tôi lại càng thấm thía những lời dạy từ Thầy tôi: “Đức Phật vì độ chúng sinh mà Ngài không ngại bất cứ hoàn cảnh nào. Tâm từ bi độ sinh của Ngài là bao la rộng lớn vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn. Ngay cả người anh em Đề-bà-đạt-đa cố ý hãm hại Ngài, nhưng Ngài vẫn một lòng độ tận. Hay khi Ngài cúi xuống lạy một đống xương khô tưởng chừng như vô tri vô giác, Ngài thành tâm cúi lạy bởi trong nắm xương khô đó có cả xương của cha mẹ Ngài nhiều đời nhiều kiếp”(1). Nghĩ và làm được như vậy quả không dễ dàng!

Chúng ta ngày nay, được cha mẹ sinh ra nuôi nấng, học hành, xây dựng sự nghiệp, gia đình. Nhưng chung quy vẫn là xây dựng cái hạnh phúc cá nhân, vì bản thân trước hết, còn mấy ai chịu hy sinh, chịu khó, chịu khổ vì nghĩ đến người khác. Có chăng chỉ vì tình yêu cố chấp mà sẵn sàng bỏ mạng; hay vì oán thù mà sát hại nhau bằng dao đâm, kiếm chém; hoặc vì hơn thua được mất mà dùng mưu hèn kế bẩn.

Nếu ai cũng nghĩ những người đến với ta, có duyên gặp ta đều là cha mẹ anh em ta, ta xin nguyện cầu cho họ được hạnh phúc, được chuyển hóa. Nguyện cho những người làm ta khổ sẽ tìm được niềm vui sống bởi chính họ cũng đang khổ đau. Làm được như vậy, quan hệ người với người sẽ tốt hơn biết nhường nào.

4. Ra đi để trở về

Cách đây vài năm khi cuộc sống vần xoay, tôi bắt đầu trải nghiệm cái gọi là “nếm mùi đời”. Nếm mùi đời, cuộc sống công việc quay như chong chóng, nếm mùi cảm xúc nhất thời của một đứa độc thân lăng xăng tìm bến đỗ, nếm mùi của parties – những cuộc vui chè chén chốn công sở bạn bè. Tôi hăng hái tham gia hết những gì có thể, không quản đường xa sức mệt. Âu có lẽ vì chưa biết nên muốn thử. Nhưng rồi mọi thứ cũng chỉ được một thời gian, bởi bản tính cả thèm chóng chán, hơn nữa cũng không hợp tính tình cho lắm.

Tôi đã không nhận ra mình quá may mắn khi còn có những người tiền bối, người Thầy, người bạn đạo đồng hành, có mặt trong những lúc nguy nan. Chỉ vì cái ngã quá lớn, cái tính bất cần, bồng bột mà quên hết lời Phật, lời Thầy. Tôi luôn hỏi tại sao Thầy luôn khắt khe, áp đặt mọi thứ như vậy, “Thầy có phải là con đâu mà biết?” Lúc ấy, tôi trách Thầy, trách bạn hữu nhiều hơn là cảm ơn.

Xa Thầy, xa bạn đạo quá lâu tôi dần nhận ra mình đã thiếu chánh niệm, thiếu tỉnh thức, đánh mất mình từ khi nào không hay.

Thời gian trôi đi, tôi bình tâm lại. Tìm về với lời dạy bảo từ Thầy, lời khuyên từ những người bạn đạo, tôi dần kéo mũi thuyền về lại đúng hướng, nếu không có lẽ giờ này thuyền tôi đã đâm vào tảng băng của tuyệt vọng, chán đời mà chìm nghỉm mất tích rồi.

Ngày hôm nay, khi nghe lại những lời dạy từ bi, tôi thấm thía hiểu ra rằng Thầy luôn vì chúng sinh, nhẫn nại khoan dung, dùng lời khuyên bảo. Tôi biết tôi đã sai, vì đã làm mà không biết xấu hổ, tôi đã không thực hành đầy đủ hạnh Tàm-Quý đối với chính mình.

Nhớ lại câu chuyện của ngài Xá-lợi-phất, một vị đại đệ tử của đức Như Lai, dù đã gần 80 tuổi nhưng Ngài luôn cung kính đối trước Phật. 7 ngày trước khi nhập Niết-bàn, Ngài còn quỳ xuống, bộc bạch trước đức Phật : “Thưa Thầy, con hạnh phúc khi đi theo Thầy, hơn 40 năm con được thân cận, học hỏi Thầy, một bậc toàn giác. trong suốt thời gian đó có điều gì từ thân, miệng, ý của con không phải cho con xin được sám hối!”(2).

Với tôi, đây là bài học lớn. Bởi tôi chưa làm được gì, chưa giúp được gì cho Tam bảo, cho chúng sinh mà trái lại còn trách móc, còn xa rời họ. Giống như một người có viên kim cương quý giá mà đem vứt bỏ đi vậy. Tôi tự nhủ phải luôn nhớ nghĩ về những thâm ân to lớn mà Thầy đã dành trao, nhớ về lòng từ bi của chư Phật, chư Tổ mà kính trọng, khắc ghi để sống cho xứng đáng.

Bao lớp học trò, thanh niên đến lại đi, cũng vì hai chữ “mưu sinh”, để rồi có mấy ai nhớ nghĩ về lời Thầy dạy, mà sống cho xứng đáng với kỳ vọng từ Thầy. Quên mất những tháng năm chúng ta còn bồng bột, Thầy đã đi tìm chúng ta. Với lòng từ mẫn, với hạnh nguyện đưa chúng ta vượt qua những khổ cùng sâu thẳm nhất của bể luân hồi, Thầy như vị lương y, như cơn mưa mát lành cứu thoát ta khỏi lửa cháy nơi ngục tù phiền não.

Những ngày qua nhìn sâu quán sát, tôi lại càng cảm thấy may mắn vì gặp được người Thầy tốt, những bạn đạo vững chãi trên con đường tu tập. Nghe có vẻ chẳng là gì giữa thế gian vật chất, nhưng với tôi đó là cả kho tàng.

5. Dưỡng nuôi hạt giống “Biết ơn”

Cuộc sống là chuỗi tháng ngày vất vả lo toan cơm áo gạo tiền, chúng ta dần quên đi những điều hạnh phúc nhỏ nhặt. Nhưng được cơ hội nhìn lại, tôi thầm cảm ơn, biết ơn cuộc đời, biết ơn những lời dạy của Phật, lời dạy của Thầy, của bạn đạo giúp tôi đứng vững giữa bão táp khổ đau.

Có lẽ cả cuộc đời tôi cũng không thể trả hết ân tình cao quý này. Tôi tự dặn với lòng, hãy sống chân thành, chăm sóc nuôi lớn hạt giống biết ơn, nguyện xin báo ơn, nghĩ tưởng quán chiếu khắp chúng sinh là cha mẹ, là Thầy Tổ để lòng từ bi thêm lớn, sống có ý nghĩa để không uổng phí kiếp người.

Sống với lòng biết ơn, yêu thương mỗi ngày, tự khắc lòng mình sẽ nhẹ nhàng, thanh thản, an trú với những hạnh phúc dù là bé nhỏ.

Liên Anh
Chú thích:
(1),(2): Khuyến phát Bồ đề tâm lược giảng

TIỂU ĐƯỜNG UỐNG CÀ PHÊ ĐƯỢC KHÔNG?

 


Nhiều người thường bắt đầu ngày mới với ly cà phê thơm ngây ngất, hương vị cuốn hút. Không chỉ ngon miệng, mà còn là nét văn hóa của người Việt, giúp tinh thần sảng khoái, làm việc hứng khởi. Cà phê có vị đắng, người bệnh đái tháo đường có thể pha thêm đường hoặc sữa không?

Theo bác sĩ Võ Trần Nguyên Duy, khoa Nội tiết – Đái tháo đường, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP. HCM, người bệnh hoàn toàn có thể pha thêm đường hoặc sữa tươi vào cà phê. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có bằng chứng xác định cụ thể số gram đường người bệnh đái tháo đường có thể tiêu thụ mỗi ngày. Với người bình thường, Hội Tim mạch Hoa Kỳ khuyến cáo mức đường nhanh (đường kính, đường mía…) tiêu thụ mỗi ngày như sau: nam giới dùng khoảng 36 gram (9 muỗng trà, mỗi muỗng tương đương 4 gram); nữ giới dùng khoảng 25 gram (6 muỗng trà). Người bình thường nên sử dụng lượng ít hơn mức trên. Như vậy, người bệnh có thể thêm khoảng 1 – 2 muỗng cà  phê đường/sữa đặc để ly cà phê vừa thơm ngon vừa không gây tăng đường huyết. Đồng thời, nên uống trong bữa phụ để không tăng lượng đường trong máu.

Mỗi buổi sáng sáng uống một ly cà phê mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe. Cà phê chứa caffeine – một loại chất kích thích tăng cường dẫn truyền xung thần kinh, có tác dụng cải thiện tâm trạng, trí nhớ, khả năng tập trung trong học tập cũng như công việc. Nhờ chứa thành phần polyphenol có tính chống oxy hóa, cà phê giúp trái tim khỏe mạnh, ngăn ngừa đột quỵ, ung thư,… Uống cà phê điều độ một ly mỗi ngày giúp giảm nguy cơ mất trí nhớ, suy giảm nhận thức, bệnh Alzheimer.

Ngoài ra, các thành phần chất chống oxy hóa trong cà phê có khả năng duy trì chức năng của các tế bào beta trong tuyến tụy và quá trình chuyển hóa trong cơ thể, từ đó duy trì sản xuất insulin điều chỉnh đường huyết, hạn chế nguy cơ mắc bệnh tiểu đường tuýp 2.

Người bệnh tiểu đường có thể lựa chọn nước uống khác thay thế cà phê

Bác sĩ Duy chia sẻ thêm, bên cạnh cà phê, người bệnh có thể sử dụng các loại nước uống ít chứa đường hoặc không chứa đường mà vẫn thơm ngon, giải khát. Cụ thể:

  • Trà xanh: nước nấu từ lá trà xanh không chứa calo, lại chứa nhiều chất chống oxy hóa như polyphenol có tác dụng chống ung thư, kháng khuẩn,… Người bệnh tiểu đường nên uống thường xuyên mỗi ngày tuy nhiên không nên uống quá nhiều hay uống trước bữa ăn làm loãng dịch dạ dày, lâu dần dẫn đến viêm dạ dày.
  • Nước chanh: trong những ngày hè, nước chanh là một trong những gợi ý để giải nhiệt dành cho người bệnh tiểu đường. Tuy nhiên, nên pha nước chanh với 1-2 muỗng cà phê đường hoặc 1-2 muỗng cà phê đường ăn kiêng cho người bệnh. Để ly nước chanh thêm hấp dẫn, có thể thêm một vài cọng sả, gừng hoặc vài lá bạc hà.
  • Sữa: nên chọn loại không đường, ít béo hoặc không béo. Trong 100 gram sữa có khoảng 50kcal, vì vậy, người bệnh chỉ nên uống khoảng 200ml/ngày. Trường hợp người bệnh không ăn uống được, có thể bổ sung sữa nhiều hơn để đảm bảo năng lượng cho hoạt động trong ngày.
  • Sữa hạt: để thay thế sữa bò, người bị đái tháo đường có thể chọn sữa hạt. Đặc biệt, đây là gợi ý hàng đầu dành cho những người ăn chay hoặc không dung nạp lactose. Một ly sữa hạnh nhân, sữa đậu nành, đậu phộng… thơm ngon sẽ giúp người bệnh vừa cung cấp dinh dưỡng cần thiết vừa đảm bảo không ảnh hưởng đến đường huyết.
  • Người bệnh có thể chọn nhiều thức uống khác theo nhu cầu của cơ thể nhưng cần đảm bảo kiểm soát đường huyết ổn định để tránh các biến chứng nguy hiểm: bệnh tim, suy thận,… từ đó cải thiện chất lượng cuộc sống.

  • Nguồn: tamanhhospital.vn

Thứ Hai, 25 tháng 7, 2022

5 CÂU NÓI TỔN THƯƠNG TỰ TRỌNG CỦA CHỒNG, CÁC BÀ VỢ NHẤT ĐỊNH KHÔNG NÊN NÓI

 

                                                    Nguồn ảnh: zingnews

Lòng tự trọng và tự ái của chồng là điều mà những người vợ nên khắc cốt ghi tâm và tránh động chạm đến nếu không muốn “rước họa vào thân”.

Khổng Tử từng nói: “Nếu bạn không hiểu được sức mạnh của ngôn từ, bạn chưa thể hiểu được sức mạnh của con người”. Ông bà ta thì nhẹ nhàng hơn: “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”. Ngôn từ có sức mạnh rất to lớn và khó lường. Sử dụng hợp lý và uyển chuyển sẽ giúp bạn đỡ vất vả hơn trên đường đời, còn cẩu thả và bất cẩn sẽ khiến lời nói quay lại làm khó chính bạn.

Vậy nên trong mọi hoàn cảnh, tình huống, dù lúc tâm trạng tồi tệ nhất, đừng bao giờ vô tình hay dại dột thốt ra những câu nói hoặc có những hành động nông nổi để tránh phải ân hận hay khiến không khí gia đình nặng nề.

Các bà vợ hãy thử kiểm tra lại xem, bạn đã từng vô tình nói những câu nói sau với chồng chưa? Nếu có thì anh ấy có “dậy sóng” không?

1. “Họ là cha mẹ anh, không liên quan gì tới em”

Phụ nữ à, muốn được chồng tôn trọng và nắm giữ được trái tim người đàn ông của đời mình, nhất định nên học cách hiếu thuận với cha mẹ chồng. Nguyên nhân bởi trong lòng rất nhiều người con trai, cha mẹ là quan trọng nhất, đôi khi còn hơn cả vợ mình. Họ rất hy vọng vợ biết tôn ti trật tự, hiếu kính với cha mẹ mình.

Đạo làm người, chẳng phải “Trăm việc thiện, chữ Hiếu đứng đầu” (Bách thiện hiếu vi tiên) hay sao? Nếu một người đàn ông đến cả cha mẹ mình cũng không yêu quý trân trọng, thì có xứng làm người tốt, có thật sự coi trọng bạn? Vì vậy, là người vợ cần chú ý, dù trong lúc cáu giận nhất cũng không nên nói ra câu này. Nó sẽ gây tổn thương lớn tới chồng, từ đó họ sẽ vô cùng thất vọng về bạn.

2. “Rốt cuộc anh có phải là đàn ông không?”

Lòng tự trọng và tự tôn của người đàn ông là rất lớn. Không những vậy, họ cũng rất hy vọng được vợ tôn trọng và thừa nhận. Bởi vậy, là một người vợ đừng nên động một chút là nói với bạn đời câu này.

Một người đàn ông có chí tiến thủ thường rất coi trọng việc chăm sóc gia đình, con cái. Họ lăn lộn, vất vả với cuộc sống cũng chỉ vì mong muốn bạn và con cái có được cuộc sống tốt đẹp hơn. Bởi vậy, là người đồng cam cộng khổ với chồng, bạn nên thấu hiểu, cảm thông điều đó. Cho dù họ làm chưa tốt hay chưa vừa ý bạn, cũng nên học cách bao dung cho họ, thông cảm cho họ. Có như vậy hôn nhân của hai người mới có thể bền lâu và tình cảm mới ngày càng tốt đẹp.

Kể cả khi anh ấy không chịu chí thú làm ăn, chăm lo cho vợ con, thì càng nói câu đó, anh ta sẽ càng mất tự tin hoặc bị đả kích mà mang tâm thái phản kháng, bất cần và chán nản.

Là phụ nữ, hãy học cách thông cảm cho chồng, ôn nhu, bao dung dịu dàng như nước. Vì nước chảy về chỗ thấp, giống như phụ nữ trong gia đình nên hạ mình xuống để nâng gia đình lên. Nước có tính nhu, dòng nước gặp phải chướng ngại vật biết tự động rẽ tránh, sẽ không đối đầu, thế nên vĩnh viễn nước không bị tổn thương. Nước biết nuôi dưỡng vạn vật, vạn vật sinh trưởng đều nhờ vào nước. Người phụ nữ dịu dàng như nước sẽ luôn có thể tìm thấy được điểm tốt ở người đàn ông, âm thầm khích lệ họ, khen ngợi họ. Những lời động viên ấy có thể giúp người đàn ông có thêm ý chí và nghị lực để vươn lên. Như vậy thì mối quan hệ của hai người mới có thể thân mật, khăng khít được.

3. “Anh nhìn chồng người ta kìa, anh đúng là đồ vô dụng”

Đàn ông sẽ dễ dàng nổi giận khi niềm kiêu hãnh bị tổn thương. Đàn ông tự xác định và chứng minh giá trị bản thân mình thông qua nghề nghiệp và những gì họ có thể cung cấp cho gia đình, cho những người họ yêu thương. Bởi thế, khi người vợ thốt ra câu nói này, nghĩa là bạn đã “tấn công” vào điểm yếu, vào sự tự ái và lòng tự tôn của chồng. Anh ấy sẽ cảm thấy bạn coi thường chồng, xem nhẹ những gì anh ấy đã nỗ lực làm vì vợ, vì con.

Chẳng người chồng nào cảm thấy dễ chịu khi bị vợ chê bai năng lực kiếm tiền và khả năng đóng góp cho gia đình sau những gì mà anh ấy đã cố gắng. Đây là câu nói tệ hại nhất khi bạn nói với người bạn đời của mình. Nếu bạn không muốn bị so sánh với bất kỳ ai, nhất là với người phụ nữ khác thì anh ấy cũng vậy.

So sánh chồng với người khác là sai lầm cơ bản để giết chết tình cảm vợ chồng. Làm như vậy chứng tỏ bạn chú ý nhiều hơn tới người đàn ông khác, đánh giá cao họ chứ không phải chồng mình. Đàn ông luôn muốn mình là người tốt nhất trong lòng vợ, anh ấy không bao giờ muốn trở thành thứ kém cỏi để vợ mang ra so sánh và hạ bệ với một người đàn ông khác.

4. “Phiền quá đi mất, em không cần anh lo việc của em”

Là người vợ, người mẹ trong gia đình hãy ghi nhớ rằng, trong bất kể hoàn cảnh nào, dù có cáu giận đến mấy cũng đừng nên nói những câu tương tự như “Anh tránh xa ra một chút, đừng tìm cách quản thúc em, hãy để tôi yên…”. Bạn đã bao giờ tự hỏi tại sao anh ấy lại muốn quản việc của mình? Vì trong lòng anh ấy bạn vẫn còn vị trí vô cùng quan trọng. Vì hy vọng bạn có thể tốt hơn lên, vui vẻ và hạnh phúc nên mới hỏi thêm một vài điều. Đừng nên coi những lời đó là phiền phức, là chồng muốn quản giáo mình. Ngược lại hãy nên cảm ơn anh vì sự quan tâm đó. Có như vậy, hôn nhân của bạn mới có thể hạnh phúc.

5. “Chồng tôi có nhiều tật xấu lắm”

Đừng nên đi kể với người khác về những tật xấu của chồng. Nếu bạn mang những điều đó ra “buôn”, khi chồng bạn biết anh ta sẽ vô cùng tức giận. Nguyên nhân vì bạn đã mang những điều riêng tư bí mật của gia đình đi kể lể. Nếu muốn tìm chủ đề cho cuộc trò chuyện tán gẫu với bạn bè, hãy học cách tìm những điểm tốt của chồng, để anh ấy thực sự tốt đẹp trong mắt mọi người.

Giữ gìn danh dự cho chồng là biểu hiện tốt nhất của sự tôn trọng mà một người vợ nên làm. Khi chồng cảm nhận được sự tôn trọng này, anh sẽ càng tăng cường sự tự tin vào bản thân, tin tưởng mình có khả năng gánh vác trọng trách làm một người chồng, người cha tốt. Từ đó cũng tin tưởng hôn nhân của mình sẽ càng ngày càng tốt đẹp hơn và niềm tin này chính là phần thưởng tốt nhất cho bạn.

Nguồn: DKN (Kiên Định)

Chủ Nhật, 24 tháng 7, 2022

LÀ PHỤ NỮ, HÃY ƯU NHÃ GIỐNG NHƯ MỘT QUYỂN SÁCH

 

Ảnh: Guu

Phụ nữ, có thể dịu dàng như hoa như nước, nhưng càng phải ưu nhã giống như một quyển sách. Bởi sách sẽ không bị tác động bởi thời gian, không vì ngoại cảnh xung quanh mà thay đổi…

Người ta thường nói, phụ nữ giống như một đóa hoa, bởi vì hoa đại diện cho sự thanh tao, mỹ lệ. Thế nhưng, hoa lại dễ dàng héo úa.

Cũng có người nói, phụ nữ tựa như nước, bởi vì nước mềm mại, thanh tịnh; nhưng cũng đừng quên, hình dáng của nước sẽ thay đổi khi vật chứa đựng của nó thay đổi.

Phụ nữ, có thể như hoa như nước, nhưng càng phải giống như một quyển sách. Sách, sẽ không vì thời gian trôi qua mà tàn lụi, cũng không bởi vì giá sách khác nhau mà thay đổi hình dạng hoặc nội dung.

Sách, chỉ lặng lẽ tồn tại trên thế gian, cho dù người khác có đọc hay không đọc, nó vẫn yên vị ở đó. Cho nên, người phụ nữ hãy giống như một quyển sách. Phụ nữ như sách, có thể cả đời tự mình bảo trì, tự mình tỏa sáng.

Sách nếu muốn thu hút được càng nhiều độc giả hơn nữa, thuyết phục được những người khó tính nhất, thì nhất định phải có nội hàm phong phú, phải chú trọng đến vẻ bề ngoài. Cho nên, nữ nhân hãy nên giống như một quyển sách. Phụ nữ như sách, có thể không ngừng siêu việt chính mình, rực rỡ chính mình

Phụ nữ có thể làm được giống như sách cũng không phải chuyện dễ dàng, nhất định cần phải có nội hàm về văn hóa, có trình độ tu dưỡng và sự từng trải về nhân sinh.

Sự ưu nhã của người phụ nữ phần lớn đều đến từ chỗ thâm sâu trong nội tâm, là ánh trăng dưới hồ nước, là đóa hoa quỳnh lẳng lặng khai nở giữa trời đêm. Phụ nữ như vậy, chính là người trong sáng thuần khiết, có nét dịu dàng tựa như nước, là người phụ nữ khéo hiểu lòng người.

Sự ưu nhã của người phụ nữ còn ở đức hạnh. Người phụ nữ mà tâm tính bất thiện, thì cho dù sở hữu vẻ đẹp khuynh quốc, cho dù cô ấy có tài năng xuất chúng, cũng không phải là phụ nữ ưu tú khả ái.

Phụ nữ như sách, tĩnh tựa nước lặng, động tựa sóng gợn. Nhà văn Chu Tự Thanh từng có một đoạn miêu tả về người phụ nữ như sau: “Nữ nhân ôn nhu tựa như không khí, như nghe tiếng tiêu, như ngửi hoa hồng, như nước mát, như sương như khói bao phủ chúng ta. Nữ nhân mỉm cười giống như đóa hoa khai nở, bên trong tràn đầy thơ họa, còn có âm nhạc không lời”.

Phụ nữ như sách, thường hiểu được nội ngoại kiêm tu, hiểu được điểm yếu của chính mình. Họ ở những độ tuổi khác nhau, phong cách khác nhau, nhưng lại khiến người đọc bị cuốn vào trong một thế giới đầy thú vị.

Khi còn nhỏ, nữ nhân tựa như một bức tranh lung linh; đến tuổi thanh xuân, thiếu nữ tựa như vần thơ đầy ý vị; 30 tuổi nữ nhân tựa như văn xuôi dào dạt; 40 tuổi phụ nữ giống như những câu nói đầy triết lý, ý vị sâu xa; 50 tuổi nữ nhân tựa như cuốn tiểu thuyết phong phú, từng tình tiết đều khiến người ta mê đắm; 60 tuổi, nữ nhân thực sự là một tản văn, khiến cho người cảm động từ đáy lòng, khó có thể từ bỏ.

Phụ nữ tựa như sách, giữa những hàng chữ đều là nhân sinh. Trang sách ở bên trong viết ngây thơ, viết đơn thuần, viết truy cầu, viết cố gắng, viết yêu, viết tình, viết lý trí, viết bao dung, viết lương thiện, viết kiên cường, viết cảm ân, viết bình thản, viết hạnh phúc… cũng chính như tấm lòng của người phụ nữ vậy.

Tuệ Tâm


Thứ Bảy, 23 tháng 7, 2022

TRONG TÂM MỖI NGƯỜI ĐỀU CÓ MỘT LỖ THỦNG, BẠN ĐÃ BIẾT NÓ LÀ GÌ CHƯA?

 

Ảnh Internet

Tại võ quán trên núi Võ Đang, các môn sinh ngày đêm rèn luyện chờ ngày tỉ thí, so tài để được chọn làm chưởng môn. Trong môn phái có năm huynh đệ võ công cao cường. Tam đệ giỏi nhất nhưng vì quá giỏi nên bị mọi người đố kỵ, lúc nào cũng đơn độc một mình…

Mọi việc nặng nhọc, các huynh đệ đều bắt tam đệ phải làm hết nhưng cậu vẫn cam chịu không một lời oán trách. Họ cho rằng như thế sẽ khiến tam đệ không còn thời gian luyện tập võ công. Để chắc chắn hơn, vị huynh trưởng còn tập hợp mọi người lại giao hẹn rằng ai bốc thăm đấu với tam đệ thì phải ra tay tàn độc để loại bỏ cậu ta.

Trước khi bắt đầu thi đấu, sư phụ trong võ quán cho biết cuộc thi gồm có 3 phần: Luận võ công, luận khinh công và luận võ học. Sư phụ nhắc mọi người trong lúc giao đấu không được ra độc chiêu để tránh gây sát thương cho đồng môn của mình.

Thế nhưng ở phần đấu võ trong các vòng loại, tam đệ đã bị các huynh đệ ra tay hết sức tàn độc. Dù chiến thắng nhưng cậu bị thương khá nặng. Khi vào đến vòng trong, vị huynh trưởng chẳng tốn chút sức lực nào để hạ gục tam đệ.

Phần thi khinh công, sư phụ đưa cho các đệ tử những chiếc thùng đựng nước bị thủng, yêu cầu họ vận dụng khinh công đưa nước từ bờ sông quay về đổ đầy chum lớn. Các đệ tử thi nhau ra sức mà vẫn không thể đổ đầy nước được. Họ thậm chí còn chẳng thể mang được chút nước nào về khi thùng nước đều thủng một miếng lớn ngay dưới đáy.

Tam đệ vì bị thương nặng ở phần đấu võ nên sớm phải đầu hàng ở thử thách này. Còn vị huynh trưởng còn đầy sức vóc mà cũng chẳng thể làm gì hơn, càng ra sức càng vô ích, rốt cuộc chỉ là dã tràng xe cát, trong tâm vô cùng khó chịu.

Bước vào phần luận võ học sư phụ yêu cầu các đệ tử giải thích vì sao không thể đổ nước đầy chum trong phần thi khinh công vừa rồi. Vị huynh trưởng nhẫn nhịn nãy giờ không nổi nữa, bèn lên tiếng: “Thưa sư phụ, người đưa cho chúng con cái thùng bị thủng thế kia, ngay từ đầu đã biết trước rằng không thể đổ đầy được rồi. Khinh công có giỏi mấy cũng không thể giữ nước bên trong một cái thùng thủng đáy“.

Tam đệ bấy giờ mới bước lên thưa rằng: “Thưa sư phụ, là bởi tại con bất tài, không đủ sức chắt chiu từng giọt mà mang về. Chiếc thùng tuy thủng nhưng không phải là không đựng nước nổi nữa. Chỉ vì con bị thương quá nặng ở vòng trước nên mới phải chịu thua cuộc sớm mà thôi!“.

Sư phụ nhìn tam đệ, ôn tồn nói: “Không phải vì thùng thủng đáy mà chính là tâm con không lành lặn. Con mang đầy thù hận với các huynh đệ đã ra tay hãm hại mình, đánh con trọng thương. Tâm con đã thủng một lỗ lớn như vậy, dẫu chiếc thùng không thủng thì liệu có thể vượt qua bài thi chăng?“.

Đoạn, sư phụ lại quay sang nghiêm nghị dạy bảo huynh trưởng: “Ngươi là huynh trưởng, được học nhiều đạo lý, lẽ ra phải làm gương cho các huynh đệ của mình. Nhưng trong lòng ngươi lại chứa đầy sân hận, tham lam đố kỵ, tranh đoạt không thôi, lại xúi bẩy các huynh đệ khác tiếp tay hại tam đệ của mình.

Thành kiến ấy đã đục thành một cái lỗ lớn trong tâm tưởng ngươi, càng khiến ngươi không thể đạt được gì, cũng giống như cái thùng bị thủng kia, không giữ được chút nước nào”.

Rồi sư phụ nhìn các đệ tử khắp một lượt, ôn tồn giảng: “Tâm của mỗi người đều là có một lỗ thủng, hoặc là thành kiến, ghen ghét, đố kỵ hoặc là nghi ngờ vô căn cứ, hèn nhát, nóng nảy, thù hận… Ai cũng có lỗ thủng đó, chỉ là mỗi người có một cái khác nhau mà thôi.

Trong tâm có lỗ thủng thì chẳng thể khoan dung, dung chứa được người khác, chẳng thể tiếp nhận được bất kể điều tốt đẹp nào. Chỉ có loại bỏ chúng đi thì tâm người ta mới được bồi đắp hoàn thiện, tấm lòng mới đỡ chật hẹp vậy!”.

Sau đó, sư phụ thông báo rằng trong cuộc thi hôm nay tất cả đều thất bại, không ai xứng lên làm chưởng môn kế tục sự nghiệp của ông. Các đệ tử được dặn dò phải chú trọng rèn luyện tâm tính, trừ bỏ đố kỵ, ganh ghét. Nếu ai còn bày mưu hãm hại đồng môn thì sẽ bị đuổi ra khỏi võ quán.

Các đệ tử được dặn dò phải chú trọng rèn luyện tâm tính, trừ bỏ đố kỵ, ganh ghét.

Sự ganh ghét, đố kỵ luôn là khởi nguồn của những bi kịch. Vì ganh ghét mà huynh đệ mưu hại lẫn nhau, tranh quyền đoạt lợi, không còn coi trọng võ đức nữa.

Lòng ganh ghét là biểu hiện của sự ích kỷ, nhỏ nhen. Người ta bởi quan niệm đối nghịch, luôn luôn đối đầu để hạ uy tín, hãm hại nhau. Trong võ quán kia chỉ cần phảng phất chút thành kiến, đố kỵ là nội bộ lủng củng, tình huynh đệ chẳng còn, mọi người không còn có thể sống chân tình với nhau được nữa.

Có người thể hiện lòng ganh ghét, đố kỵ ra ngoài nhưng có người lại chôn kín nó trong lòng, âm thầm hãm hại người khác. Một khi thấy ai đó có thành tích, địa vị, vinh dự, võ công hơn mình là liền nảy sinh ganh ghét, đố kỵ. Đức Phật chẳng phải đã từng dạy đó sao: “Khổ tâm lớn nhất của đời người là sự ganh ghét, đố kỵ”.

Một khi tâm danh lợi của người ta nổi lên là không muốn ai có được danh tiếng hay thành tựu hơn mình. Họ luôn coi chính mình là trung tâm vũ trụ, là tài giỏi hơn người, chỉ muốn một mình thống lĩnh cả thế giới. Nhưng cũng vì thế mà họ ngày đêm lo lắng, sợ hãi, mệt mỏi, phải tìm đủ cách để triệt hạ người khác.

Những người như vậy dù có học được võ công cao cường, tài nghệ siêu việt thì rốt cuộc cũng chỉ có thể gây họa cho đời mà thôi. Sư phụ, người làm thầy cũng chỉ cần những đệ tử có đức cao, sẽ chỉ truyền dạy tinh hoa chân truyền cho họ. Những đệ tử thiếu phẩm đức sẽ chỉ mang lại tai tiếng, làm mất thanh danh bao đời mà sư phụ đã khổ công gây dựng nên vậy.

Nguyệt Hòa
Theo DKN

Thứ Sáu, 22 tháng 7, 2022

TẠI SAO CHÚNG SINH SỢ NHÂN QUẢ?

 


Hiểu và sống theo luật nhân quả, mỗi Phật tử sẽ làm chủ cuộc sống của mình, biết cách chuyển hóa những khổ đau đúng Chánh pháp cũng như nắm giữ được vận mệnh trong tay mình.

Nhân quả là quy luật bất di bất dịch của vũ trụ được Đức Phật phát hiện sau khi thành Chánh Quả dưới cội Bồ Đề. Chính quy luật nhân quả đã phá tan những ý niệm sống về thần quyền, cho rằng có một đấng toàn năng đủ sức để ban phước giáng họa, điều khiển cuộc sống của con người. Khi biết, hiểu và sống theo luật nhân quả, mỗi Phật tử sẽ làm chủ cuộc sống của mình, biết cách chuyển hóa những khổ đau đúng Chánh pháp cũng như nắm giữ được vận mệnh trong tay mình.

Vạn sự vạn vật nói chung đều vận động theo sự chi phối của luật Nhân quả, chính xác là Nhân-Duyên - Quả. Với con người, quy luật Nhân- Duyên - Quả vận động và hình thành nên đời sống của một cá nhân gọi đủ là Nhân quả-Nghiệp báo. Tạo nghiệp nhân tốt ắt sẽ được nghiệp quả lành. Ngược lại, gieo nghiệp nhân xấu ắt sẽ gặt quả báo ác.

Nhân quả là gì?

Theo như “Phật học phổ thông” của HT.Thích Thiện Hoa đã định nghĩa một cách chính xác về “Nhân quả” như sau: “Nhân” là nguyên nhân. “Quả” là kết quả, hay nhân là năng lực phát động, quả là sự hình thành của năng lực đó. Nói một cách khác theo nghĩa đen “Nhân” là hạt, “Quả” là trái. Từ đó cho chúng ta thấy rằng “Nhân quả” là hai trạng thái tiếp nối nhau, nếu không có nhân thì sẽ không có quả.

Trong thực tế chúng ta thấy rằng gieo hạt cam chúng ta sẽ được trái cam, gieo hạt ớt chúng ta sẽ được trái ớt. Gieo hạt ớt mà muốn được quả cam là chuyện không thể, điều này trường tồn bất biến theo thời gian không một ai được phép can thiệp vào tiến trình đi từ nhân đến quả của vạn vật cho dù là Đức Phật.

Nhân quả có từ bao giờ điều đó không quan trọng, quan trọng là sự tác động, ảnh hưởng của nó đến vạn vật trong vũ trụ, đặc biệt là con người. Cho nên trong cuộc sống thường ngày chúng ta nên chọn những nhân tố đem đến hạnh phúc, an lac, thảnh thơi nhất mà chúng ta có thể để cuộc sống luôn tươi đẹp không nhuốm màu hoen úa của nổi khổ niềm đau.

Quy luật nhân quả: sự thật không thể phủ định

Trên bình diện khoa học, quy luật nhân quả được đa số các nhà khoa học đồng tình, chấp nhận như một sự thật không thể phủ định. Tuy nhiên, khi bàn sâu về quá trình vận hành của nhân quả ở ba phương diện thời gian quá khứ, hiện tại và tương lai thì vấn đề trở nên phức tạp. Sở dĩ có sự phức tạp bởi hai lý do, thứ nhất nhân quả ở hiện tại được xác định thông qua quá trình nghiên cứu và được công bố khi hội đủ bằng chứng xác thực. Đây là công việc dễ làm hơn nhiều so với việc nghiên cứu nó dưới góc độ thời gian, vì thời gian của những gì đã đi qua và thời gian của những gì chưa tới thì lấy đâu ra dữ liệu khách quan để nhận định. Thứ hai, trong vũ trụ có rất nhiều sự thật, tuy chúng ta không thể đưa ra những chứng cứ để chứng minh, nhưng đừng vì thế mà ta phủ định sự tồn tại của nó. Hơn nữa nhân sinh vũ trụ bao la vô cùng vô tận, chúng ta không dễ dàng thấy biết hết được.

Nhìn hướng Đông thì không thấy hướng Tây; nhìn mặt đất bằng mắt thường thì không tài nào biết trong lòng đất có gì; nhìn mặt biển nhưng không thấy được những gì dưới lòng đại đương, đơn giản vì mắt ta không thấy biết.

Cũng như thế, có rất nhiều vấn đề đang tồn tại quanh ta mà khoa học ngày nay chưa tìm ra hoặc phải bó tay, điều đó nói lên sự hạn chế của khoa học hiện đại. Do đó, quá trình vận hành của nhân - quả không thể dùng ngôn ngữ, văn tự hay sự hiểu biết cạn cợt mà miêu tả hết được.

Vì lẽ, sự thấy biết của con người có giới hạn so với Bậc giác ngộ giải thoát, mà ở đây là Đức Phật. Tầm hạn chế của tri kiến khiến ta không đủ khả năng để nhìn nhận những gì đã xảy ra ở một quá khứ xa xôi vì nó đã đi qua rồi và càng khó khăn hơn khi phải tìm hiểu nó, trong khi nó chưa xảy ra bao giờ, có chăng là sự phán đoán, mà phán đoán thì thiếu độ chuẩn xác, thậm chí có thể sai lệch hoàn toàn so với thực. Vì nhân - quả là dòng chảy tương tục vượt không gian lẫn thời gian, thế nên để hiểu một cách tường tận về nó ta phải dựa vào các yếu tố nhân duyên khác nhau, đặc biệt là trong ba kỳ thời gian: quá khứ, hiện tại, tương lai.

Điều đó lý giải vì sao một người sống hiền lương cũng chịu quả báo đau khổ, ngược lại một người làm việc bất thiện lại có đủ phước báu và gặp nhiều may mắn trong cuộc đời. Thật ra quá trình vận hành của nhân quả có chậm mau và còn tùy thuộc vào các duyên khác nhau. Một người sống thiện lành chịu quả báo xấu ở hiện tại vì quá khứ họ đã không làm được nhiều việc tốt nhưng bù lại việc thiện họ làm hôm nay sẽ là kết quả để gặt hái một tương lai tốt đẹp. Trường hợp một người ăn ở bất thiện lại có kết cục hạnh phúc, bình an ở hiện tại, vì người này trong quá khứ biết tu nhân tích đức, tuy nhiên những việc xấu ác tạo ra ở hiện tại chắc chắn phải gánh lấy trách nhiệm trong tương lai. Cũng có trường hợp tạo nhân lúc trẻ và về già thọ quả báo, đó là nhân quả xảy ra nhanh ở hiện tại vì đã hội đủ các yếu tố nhân duyên. 

Mọi chúng sinh đến với cuộc đời này từ một thế giới khác mà ở đó ngôn ngữ, hình tướng, môi trường sống hoàn toàn khác hẳn thế giới của ta và khi lìa đời cũng tùy theo nhân quả, tội phước mà đầu thai vào các cảnh giới cao thấp, vui khổ khác nhau.

Có sáu cảnh giới khác nhau, các cõi Trời là nơi tái sinh của những người chuyên hành thiện, có tấm lòng và sự cống hiến chân chánh cho nhân loại. A Tu La, có phước ngang cõi trời nhưng người nam thì hình thù xấu xí, hung dữ vì tâm nhiều sân hận. Thế giới loài người là nơi hội đủ nhiều cấp độ khổ đau và hạnh phúc, phước báu và các loại tội nghiệp. Bàng Sanh là tập hợp các loài động vật có cấu trúc xương sống ngang, thiếu trí tuệ, thiếu nhân tính và che mắt Phật tính, mặc dù nhân tính và Phật tính có tồn tại. Ngạ Quỷ là loại hình chúng sinh chịu quả báo đói khát về nhiều phương diện, đói khát thực phẩm, nước uống, đói khát tình dục, đói khát về cảm xúc… thân hình xấu xí vì kiếp quá khứ sống quá ích kỷ, tham lam, bỏn xẻn, thiếu phước báu và trí tuệ. Địa Ngục là cảnh giới nơi chúng sinh chịu quả báo hoàn toàn thống khổ vì lúc làm người hành sử tàn ác, không tin nhân quả, tội phước, luân hồi, tà kiến, hại người, sát vật. 

Sống theo nhân quả mang đến những lợi ích gì?

Chủ động, tích cực, tự tin


Cuộc đời chúng ta hiện tại là sự biểu lộ ra thành quả của những nhân tốt xấu trong quá khứ. Thế nên muốn tiến bộ, muốn tương lai tốt đẹp thì ngay trong hiện tại chúng ta phải gieo trồng những nhân tốt. Chúng ta không thể đổ lỗi, đổ thừa cho hoàn cảnh, cho thần thánh, cho người khác. Ta đã gieo thì ta phải gặt. Và ta muốn gặt thứ gì thì hãy gieo thứ ấy. Sự lạc quan, yêu quý đời sống, quý trọng thời gian là do tin và sống theo nhân quả. Tương lai không phải là mơ ước viễn vông, tương lai nằm trong những việc làm (hành động tốt xấu, nghĩa là nghiệp tốt xấu) ngay trong giây phút này.

Tin nhân quả làm ta an tâm. Sự hợp lý, trật tự, ý nghĩa của một cuộc đời là do nhận thức được và sống theo nhân quả. Và mọi lộn xộn, thậm chí hỗn loạn của đời sống một cá nhân hay của xã hội đều là do thiếu nhận thức về nhân quả và không sống theo nhân quả.

Tự do và bình đẳng

Với quy luật nhân quả, ta bình đẳng với mọi chúng sinh trong sự thăng tiến của ta. Đó là sự bình đẳng tuyệt đối: không ai ăn gian, hối lộ, làm đồ giả, nịnh nọt, bợ đở đối với nhân quả được. Nhân quả khiến ta bình đẳng trước mọi cơ hội để tiến bộ, cả vật chất lẫn tinh thần. Nhân quả làm ta trở thành nhà điêu khắc, kiến trúc sư cho cuộc đời tôi và là người kế thừa duy nhất mọi hành động tốt xấu của ta. Đây là sự tự do ta có được.

Tự do lựa chọn, tự do hành động và tự do xây dựng cuộc đời ta.Nếu ta nhận ra mọi sự trong cuộc đời này đều có thể chuyển hóa thành một nhân tốt cho ta, thì tự do của ta là ở khắp tất cả, quyền lực của ta ở khắp tất cả. Đó là sự lạc quan, niềm vui hướng thượng của người tin nhân quả.

Không lo sợ

“Không có điều gì có thể xảy ra với mình, nếu nơi mình không có điều đó”. Không có quả nào có thể xảy ra với ta, nếu ta không có nhân quả đó. Người Phật tử sống cuộc đời không lo sợ như vậy. Còn nếu quả xấu ấy xảy ra thì sao? Thì hãy cố gắng chịu đựng, nhẫn nhục bởi vì mình đã có nhân cho quả ấy và nay nhân đang trổ thành quả. Trách ai nữa, ngòai mình? Và hãy rút kinh nghiệm, nếu muốn không gặp điều đó nữa thì chớ gieo nhân về điều đó nữa.

Heraclite, một triết gia Hy Lạp cổ đại từng nói: Không ai tắm hai lần trên một dòng sông”. Điều đó đã nói lên sự chuyển biến liên tục của con người và thế giới sự vật hiện tượng. Tất cả hiện hữu ấy đều là hiện hữu của tương duyên, chúng luôn diễn ra trong vòng nhân quả. Nói đến nhân quả - nghiệp báo là nói đến một tiến trình tạo tác của con người, và từ đó hình thành đời sống an lạc hoặc khổ đau cho mỗi con người; trong đó, mỗi tư duy và hành động cụ thể là một nguyên động lực kiến tạo nên trạng thái tâm lý an hay bất an, kiến tạo nên cuộc sống hạnh phúc hay bất hạnh. Tất nhiên, trong suốt tiến trình tạo tác (nhân quả - nghiệp báo) đó, con người luôn luôn đóng vai trò trung tâm và chủ động. Theo lời Đức Phật dạy, không hề có bất kỳ một sự chi phối nào bởi một quyền năng, bởi một đấng tạo hóa, thần thánh... trong tiến trình tạo tác ấy, mà chỉ có con người và các hành động tâm lý của con người mà thôi.

Thế nào là "Bồ Tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả"?

Bồ Tát nguyên chữ Phạn là Bodhisattva, dịch âm là Bồ Đề Tát Đỏa, dịch nghĩa là hữu tình giác. Tức là một chúng sinh đã giác ngộ và đang giúp cho những chúng sanh khác cũng được giác ngộ như mình, thì gọi là Bồ Tát. Nhờ đã giác ngộ thấu suốt được lý nhân quả trong ba đời, nên chỉ sợ nhân mà không sợ quả. Chúng sanh là loại hữu tình có sinh có tử còn vô minh nên đi mãi trong vòng luân hồi. Vì chưa giác ngộ, còn mê mờ không thông lý nhân quả nên chỉ sợ quả mà không sợ nhân. Vậy kiểm lại trong chúng ta, ai là người biết sợ nhân xấu đó là người giác, là Bồ Tát, ai sợ quả xấu là kẻ mê, là chúng sanh. Bồ Tát hay chúng sanh là tự chúng ta có thấy biết đúng sự thật hay không, chớ không phải Bồ Tát cỡi hạc hay cỡi sư tử đi trên hư không để cho người ngưỡng vọng lễ bái.

Nếu giác, thấy đúng lẽ thật, nhận biết một cách chính xác nhân nào đưa đến quả khổ, nhân nào đưa đến quả an lạc. Do biết rõ, nên thấy nhân nào đưa đến quả khổ quyết định không làm, vì tạo nhân rồi thì không tránh được quả, đó là Bồ Tát sợ nhân. Ngược lại, cái nhân đưa đến quả khổ nếu chúng ta không biết để tránh, mà chỉ thấy quả khổ đến lo sợ tránh né, đó là chúng sanh sợ quả. Ví dụ người có tật nóng giận, mỗi khi có người trong nhà hay hàng xóm nói hoặc làm điều gì trái ý liền la lối đánh đập. Nếu chửi bới hay đánh đập vợ con trong nhà bị thương tích thì tốn tiền thuốc thang chữa trị, bị xóm giềng cười chê là đồ bất nghĩa bất nhân, khiến tâm day dứt ân hận.
Nguồn: vuonhoaphatgiao.com

Thứ Năm, 21 tháng 7, 2022

TÁC DỤNG CỦA TỎI VỚI BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

 


Ăn tỏi sống giúp người bệnh tiểu đường giảm lượng đường trong máu và giảm nguy cơ xơ vữa động mạch.

Từ lâu, tỏi đã được dùng để giúp giảm mức cholesterol cao và huyết áp cao. Tiêu thụ tỏi cũng có thể giảm tỷ lệ mắc bệnh tim - một biến chứng mà nhiều người bệnh tiểu đường gặp phải. Theo nghiên cứu của Đại học Kuwait (Kuwait), tỏi sống có thể giúp giảm lượng đường trong máu và nguy cơ xơ vữa động mạch. Người bệnh tiểu đường có thể tăng nguy cơ viêm liên quan đến xơ vữa động mạch.

Một nghiên cứu khác của Iran và Đức cũng chỉ ra rằng, tỏi làm giảm đáng kể lượng cholesterol toàn phần và cholesterol LDL (cholesterol xấu) trong huyết thanh và tăng vừa phải cholesterol HDL (cholesterol tốt) so với giả dược ở bệnh nhân tiểu đường. Các hợp chất chiết xuất từ tỏi như alliin, allicin, diallyl disulfide... có hiệu quả trong giảm kháng insulin.

Tỏi là một nguồn cung cấp vitamin B6, C tham gia vào quá trình chuyển hóa carbohydrate. Vitamin C đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì lượng đường trong máu. Tỏi cũng làm giảm huyết áp, có tác dụng chống khối u, ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư, kháng khuẩn và kháng nấm mạnh. Nó còn có thể bảo vệ tế bào gan khỏi một số tác nhân độc hại, ức chế vi khuẩn đường ruột có hại, chống lại bệnh truyền nhiễm.

Theo Healthline, không có liều lượng ăn tỏi tiêu chuẩn, bạn có thể thêm tỏi vào bất kỳ món ăn hay công thức nấu ăn nào mà bạn muốn. Tuy nhiên, để có hiệu quả tốt nhất, người bệnh tiểu đường nên tiêu thụ tỏi thường xuyên với lượng vừa phải. Nấu chín có thể làm giảm khả năng chữa bệnh của tỏi, vì vậy, người bệnh nên sử dụng tỏi sống trong các món ăn.

Mùi vị của tỏi sống khá mạnh và nồng. Nếu bạn thấy có chút khó chịu khi sống thì có thể thay thế bằng chiết xuất tỏi tươi hoặc chiết xuất tỏi có chứa allicin. Tuy nhiên, người bệnh nên tham khảo ý kiến bác sĩ xem có phù hợp và an toàn trước khi bổ sung các chất này vào chế độ ăn uống. Bạn cũng cần lưu ý các chiết xuất từ tỏi có qua xử lý nhiệt trong quá trình sản xuất hay không vì nhiệt có thể phá hủy các hợp chất hoạt động trong tỏi, giảm tác dụng chữa bệnh. Các sản phẩm từ tỏi hoàn toàn không mùi cũng nên tránh vì nó có thể bị loại bỏ các hợp chất lưu huỳnh tạo ra mùi đặc trưng của tỏi, làm mất đi một số lợi ích sức khỏe.

Nhìn chung, tỏi an toàn cho mọi người. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, ăn tỏi sẽ gây ra một vài vấn đề như gây ợ nóng, ợ chua, buồn nôn, nôn ói hoặc tiêu chảy. Tỏi cũng có tương tác thuốc, nếu bạn đang dùng thuốc làm loãng máu thì nên hỏi ý kiến bác sĩ vì tiêu thụ tỏi có thể làm tăng tác dụng của thuốc này.

Mai Cát

(Theo Healthline)

NGƯỜI VIỆT KHÔNG XẤU XÍ: KHI SỰ THUẦN HẬU HỒI SINH TỪ NHÀ RA PHỐ, ĐÓ LÀ LÚC GIẤC MƠ XƯA TRỞ VỀ

 


Giữa những nỗi tủi hổ của dân tộc và sự chỉ trích lẫn nhau, một gợn nước nhỏ bé hy vọng sẽ trở thành cơn sóng lớn cuốn trôi những gì được đặt tên là xấu xí trong tác phong, lối sống của người Việt hiện đại.

Thay vì cứ nói mãi về những điều chưa được, chúng ta hãy cùng thực hành với sự rộng lượng và đốc thúc lẫn nhau. Bởi cái xấu chỉ có thể bị đẩy lùi bởi cái Thiện.

Chúng ta thường hay nghe thấy cụm từ “thuần phong mỹ tục”, thậm chí còn có cả dự thảo về quy tắc ứng xử nơi công cộng trong đó có nêu vấn đề trang phục cần phù hợp với thuần phong mỹ tục.

Nhưng chắc rằng khá nhiều người trong chúng ta không biết hoặc không thể định nghĩa khái niệm này. Và thực tế là đã có rất nhiều ý kiến trái chiều quanh dự thảo kia, chủ yếu từ giới trẻ, vì họ cần một sự rõ ràng hơn về thế nào là “thuần phong mỹ tục”, bởi có chế tài cho việc vi phạm thì cũng cần một khái niệm cụ thể, một ranh giới để tuân theo.

Xét về câu từ, thuần phong mỹ tục có nghĩa là phong tục thuần hậu, tục lệ tốt đẹp. Chữ thuần trong tiếng Hán là mộc mạc, chất phác, trong sạch. Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì “phong” là nền nếp đã lan truyền rộng rãi, “tục” là thói quen lâu đời.

Trong cuốn “Thuần phong mỹ tục Việt Nam” của tác giả Sơn Nam có giải thích rằng “thuần phong mỹ tục” nôm na là ăn ở “lịch sự”. Lịch sự không chỉ là hình thức bề ngoài mà còn chỉ cách ứng xử với người trong gia đình, dòng họ, xã hội sao cho đúng phép tắc, lễ nghĩa. Vậy nên thuần phong mỹ tục bao hàm rất nhiều mặt của đời sống.

Có người cho rằng cứ cái gì mà các cụ thấy “chướng tai gai mắt” thì đó là trái với thuần phong mỹ tục. Thế nên thước đo của thuần phong mỹ tục lại phụ thuộc vào quan niệm của “các cụ” mà thôi.

Thời thế thay đổi, xã hội đổi thay, có thể một lúc nào đó quan niệm của các cụ không còn phù hợp với đám con cháu nữa, thì có cần giữ cái thuần phong mỹ tục đó nữa không?

Đó có thể là lý lẽ của các bạn trẻ mặc áo ba lỗ, quần đùi dép tông loẹt quẹt ra ngoài đường; là lý lẽ của những người ăn uống nhồm nhoàm ngồi gác chân lên ghế trong hàng ăn; của những người chen lấn xô đẩy trong siêu thị; của những anh chàng cô nàng mà lời đầu môi luôn là một từ chửi tục…

Nhưng thiết nghĩ, những tác phong, nề nếp, thói quen đã được lan truyền và gìn giữ lâu đời nghĩa là đã trải qua sự kiểm nghiệm khắt khe của thời gian.

Những gì chúng ta thấy là không phù hợp với thời đại mới chưa chắc là do nó không đúng, có thể là do thời đại mới này đang lệch dần so với đạo đức thuần hậu xưa kia mà thôi.

Chẳng phải nhiều người trong chúng ta, cũng chưa đến mức lên lão, cũng có thuộc thế hệ 8x, 7x, sống trong xã hội “văn minh” này lại ước “bao giờ cho tới ngày xưa” hay sao? Chẳng phải có những thứ xưa nhưng không bao giờ là cũ bởi nó phù hợp với một thứ tiêu chuẩn vô hình mà mỗi người chúng ta đều chỉ có thể cảm nhận được, đó là Tốt và Xấu.

Thời nay người ta thích nhanh, thoáng, tiện, mọi người đều đề cao tự do cá nhân vì đó là quyền cơ bản của con người. Nhưng mọi sự tự do cá nhân đều phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng tự do và quyền lợi của người khác nữa.

“Các cụ” ngày xưa làm gì cũng nghĩ tới việc người khác sẽ cảm nhận ra sao, chỉ cần làm người đối diện thấy hơi chút bất tiện hay bối rối là đã không nên làm rồi chứ đừng nói là để họ phải bực bội hay thiệt thòi.

Cụ Hoàng Đạo Thúy từng viết: “Cái ‘thuần phong mỹ tục’ ấy xây dựng từ người lớn đến trẻ con… Các thầy đồ dạy học trò ‘cái mà mình không muốn, thì đừng làm cho người’. Bà cụ dặn cháu ‘được lòng ta, xót xa lòng người’.

Trẻ con khua trống, bố mẹ bảo ‘đừng làm điếc tai hàng xóm!’ Cái rãnh nước bẩn cho vào cống thấm, chớ không cho chảy ra đường. Trẻ em chơi với nhau, hay cãi nhau, bố dặn: ‘Khéo không việc trẻ con lại làm mất lòng người lớn!’ Ra quét hè, tiện chổi, quét sang cả hè hàng xóm…”

Có những tục lệ, lễ nghi rườm rà, cực đoan không còn thích hợp thì tự nó sẽ mai một, nhưng những điều đã trở thành thuần phong mỹ tục thì chỉ giúp ước thúc chúng ta hành động, cư xử tốt đẹp hơn mà thôi. Bạn có thể phá vỡ nó, nhưng không thể phủ nhận nó.

Thuần phong mỹ tục bao gồm rất nhiều mặt của cuộc sống, từ việc ăn ở với hàng xóm, khu phố ra sao, giao tiếp với mọi người thế nào, cho tới hành động nhỏ khi đưa cho ai cái gì… tất cả đều thể hiện con người bạn ở trong đó, đều là thể hiện sự tôn trọng, lịch sự đối với người khác chứ không chỉ là cốt lấy bỗ bã, suồng sã cho gần gũi, thân thiết.

Về cái thanh lịch, thuần hậu một thời, cụ Thúy cũng có viết: “…Cả xóm như một nhà. Biết ‘nể’ nhau, tránh những việc làm ‘mất lòng’ nhau. ‘Chín bỏ làm mười!’….Có lúc thấy phải góp ý thì nói ‘chân thật’, ‘thực tình’, sao cho người ta không ‘tự ái’; không ‘nói quá’.

Không ‘đao to, búa lớn’, ‘không nói tục’; nói tục thấy ‘ngượng mồm’. Cũng giữ ý, không ‘tọc mạch’ chuyện nhà người ta. ‘Chuyện đâu, bỏ đấy’….Trong phố có một ‘hòa khí’ – không khí hòa hợp, thì ‘cận duyệt, viễn lai’ – ở gần đẹp lòng, ở xa muốn đến”.

Đấy là cách người ta ứng xử với làng phố, còn với từng người là đều chú trọng lời ăn tiếng nói, xưng hô cho phải phép: “Người ngoài, biết nhau vì tiếng nói, vì thế mà ‘nói phải chọn lời’. Sao cho người khác không hiểu lầm ý mình….Nói với người dưới vẫn có lễ. Quan trên nói với thông lại: ‘Cho tôi tập hồ sơ’. Chủ nói với người làm ‘tôi xin…’”.

Cái sự lịch sự, phép tắc ấy, không chỉ là để ước thúc hành vì giữa người với người, với xã hội, cộng đồng, mà còn là chính mình với mình cũng phải có tôn kính. Người không tôn trọng mình thì ai tôn trọng họ được. Thế nên thời xưa ra đường sẽ không để cho người khác nhìn thấy nhiều phần thân thể của mình.

“Ra đường, không mặc cẩu thả, là tỏ ý tôn trọng người đi đường. Lại sao cho không hở hang. Chỉ có người đang làm việc nặng là được ở trần.

Áo quần không cần quý giá, mà phải chỉnh đốn. Mặc áo vá không sao, nhưng không mặc áo rách. Dùng áo đắt tiền, thì có áo phủ ngoài. Mặc áo vóc, gấm trần, là thấy ngượng”.

Chính vì người xưa coi trọng đạo nghĩa, coi trọng nhân phẩm hơn hình thức bề ngoài, nên họ khiêm nhường và thanh tao trong cách ăn mặc. Nhưng cũng vẫn có cái tôn kính, đường hoàng, vì thiếu thốn về vật chất không hạ lưu bằng thiếu thốn đạo đức.

Ngoài việc cư xử, ăn mặc, thuần phong mỹ tục còn có rất nhiều những hành động dù nhỏ bé, khiêm nhường, nhưng thể hiện cái tâm thế lớn lao:

….Hành động cũng chú ý, đưa cái gì cho ai, thì dùng cả hai bàn tay, bưng lên mời khách hay đưa lên người mình tôn kính thì nâng cao cái khay. Ông đồ đi chơi về, cầm miếng trầu, cũng đặt vào đĩa, đưa cho bà đồ. Gặp người không ‘khúm núm’, mà cũng không ‘vênh váo’. Chỗ hàng chợ cũng giữ được ‘lễ độ’.

Người xưa chú trọng tiểu tiết không phải vì họ cầu kì, sính lễ nghĩa, câu nệ hình thức. Những hành động giờ bị cho là thừa thãi, mất thời gian nhưng là thể hiện cái đạo ở trong đó.

Những thứ chúng ta phủ nhận và lãng quên đó ngày nay lại được người Nhật Bản giữ gìn và ứng dụng hiệu quả trong đời sống hàng ngày. Ở Nhật, bạn có thể thấy đạo ở khắp mọi nơi, trong mọi lĩnh vực, ngành nghề, từ Kiếm đạo, Trà đạo, Không Thủ đạo (môn võ nổi tiếng thế giới Karatedo), thậm chí còn có nghệ thuật Hương đạo (nghệ thuật thưởng thức hương trầm)…

Trong tác phẩm Musashi nổi tiếng, vị kiếm sĩ số một Nhật Bản đã nói đại ý thế này: “Kiếm đạo không phải là đạo luyện kiếm, đạo thì vô hình và bất biến, luyện kiếm chỉ là con đường, là công cụ để đạt đến đạo mà thôi”.

Vì thế ở Nhật, dù bạn làm công việc gì, bạn phải tập trung, tận tụy, nghiên cứu và trở thành chuyên gia ở lĩnh vực đó. Mọi kiến thức, mọi thao tác, hành động đều phải đặt tâm vào để mà thực hành, nên người Nhật làm ra cái gì thì đều chứa đựng trong đó bao sự tinh tế, khéo léo và hữu dụng.

Bởi họ đã ứng dụng được “Làm việc lớn mà không quên tiểu tiết” trong mọi suy nghĩ, hành động và đi tìm đạo bằng mọi con đường mà mình có.

Thế nên cái tiểu tiết trong sinh hoạt hàng ngày của bạn, nó không chỉ là một chi tiết nhỏ bé vô dụng, mọi thứ đều có thể giúp bạn tu tâm dưỡng tính, ước thúc bản thân, thể hiện sự tôn trọng và khiêm nhường, rèn luyện sự kiên trì, nhẫn nại và tĩnh tại.

Khi chúng ta tĩnh lại, chúng ta mới nghe thấy được những tiếng nói dẫn đường, những ý tưởng tươi đẹp mà đơn giản; Chúng ta mới nhìn thấy những điều tốt đẹp ở người khác mà bình thường có thể chúng ta đã không nhận ra.

Khi tĩnh lại chúng ta cũng mới có thể hiểu được chính bản thân mình mà không để bị cuốn theo những mong muốn, ảnh hưởng của người khác. Và khi tĩnh lại, chúng ta mới thưởng thức được những tinh tế của cuộc sống mà không cần mượn những thứ giải trí hiện đại kích động cảm xúc thái quá và ảo tưởng.

Ai cũng có quyền lựa chọn, nhưng chắc tôi vẫn chọn lối sống như “các cụ” với những thuần phong mỹ tục sống cùng năm tháng, vì nó cho tôi thấy ranh giới rất rõ ràng của cái Thiện, cho phép tôi có đủ điều kiện để phát triển bản thân tốt hơn thay vì buông thả và mông lung vì chẳng biết mình là ai và muốn gì. Những điều tốt đẹp sẽ luôn có đất sống, và người làm theo những điều tốt đẹp sẽ luôn thanh thản và tự tại.

Cụ Nguyễn Trãi đã từng viết trong bài Mạn hứng kỳ 1: “Phác tán thuần ly thánh đạo nhân”, nghĩa là khi tính chất phác tiêu tan, nét đôn hậu thành bạc bẽo, thì đạo thánh sẽ mai một.

Vậy nên khi những thuần phong mỹ tục bị lãng quên, con người không còn gì để ước thúc, đó sẽ là sự chơi vơi của đạo đức và hỗn loạn của xã hội.

Nguyệt Hòa
Theo DKN (Thu Hiền)