Thứ Ba, 20 tháng 12, 2022

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI: MINH ĐẠO TUYỂN TẬP THƠ

Tranh - Thư pháp Minh Đạo vừa ra mắt trên thi đàn & thân hữu TUYỂN TẬP THƠ được chọn lọc từ 8 tập thơ đã xuất bản. Tuyển tập gồm 610 trang, in khổ 16 x 24cm do NXB Hội Nhà Văn cấp phép, gồm trên 500 bài thơ Đường Luật (Gồm các thể loại), phỏng dịch thơ Hán văn của các bậc tiền nhân và một số bài thơ tự do, giá bán 499.000 đồng VN, được giới thiệu của Thượng Toạ Thích Nguyên Tạng trụ trì Tu Viện Quảng Đức, Australia, chủ biên website: quangduc.com , tập san Quán Văn.
Quý thân hữu nào yêu quý thơ văn và cần đặt tập thơ xin liên hệ với Tranh-Thư pháp Minh Đạo qua email: minhdao1160@gmail.com, Yalo, viber: (+84) 984 512 130 Nếu ở xa, vui lòng cho địa chỉ để gởi qua bưu điện.

LỜI GIỚI THIỆU

  Trong hành trình trở về cội nguồn tâm linh, chúng ta như đang dạo chơi giữa cõi trần, đối diện với muôn ngàn sắc thái có không, để quán chiếu cảm nhận ra sự tinh tế, vi diệu là điều khó khăn cho kẻ phàm phu tục tử. Những vướng mắc, cản trở do vì bản chất chấp ngã chấp pháp mà che lấp bổn tánh. Trong TUYỂN TẬP THƠ nầy cũng như 8 tập thơ trước đây mà Cư Sĩ  Minh Đạo đã phát hành đều nương theo tinh thần, giáo lý Phật pháp để quán chiếu, diễn bày.

  Thơ cCư Sĩ Minh Đạo đã t rõ  chơn thật của sự vật, vấn đề, đều dựa theo tinh thần, giáo lý Phật giáo, động tĩnh tùy duyên. Vạn vật luôn biến đổi không ngừng bởi do duyên sinh và duyên diệt, thơ của Minh Đạo luôn uyển chuyển để hài hòa, không vướng mắc khi đối cảnh. Tùy duyên, nương duyên để lập hạnh, lập nguyện thẳng bước trên con đường tiến tu.

   Sinh ra được làm người đó là may mắn lớn như Con rùa mù gặp bộng cây. Kẻ phàm phu ngu si trôi dạt trong ngũ thú tạm được thân người còn khó hơn. Nhận ra được giá trị nầy, hành giả phải luôn tinh tấn, nỗ lực. Thơ Minh Đạo đều luôn thể hiện tính tích cực, lạc quan trong tiến trình hướng về cội nguồn của bản tâm.

  Trong Kinh Tăng Chi, Đức Phật đã dạy rằng: “Ta là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào sẽ làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy". Do vậy, Nghiệp là động lực, là đường dẫn đưa chúng sinh vào vòng sanh tử luân hồi, chính vì thế hành giả phải phát nguyện tận trừ nghiệp cũ, không tạo nghiệp mới, một khi nghiệp hết, ngay đó hành giả đạt đến chỗ vô sanh bất tử, giác ngộ và giải thoát. Chấp nhận, an nhiên với thực tại và sám hối nghiệp chướng là pháp hành mà Cư Sĩ Minh Đạo thường đề cập trong thơ của ông đã khuyến tấn bản thân mình và bè bạn gần xa.

  Về đạo hiếu là một mảng khác trong khung trời thi ca của Cư Sĩ Minh Đạo, ông chào đời tại Quảng Trị, vùng đất miền Trung “ Mùa đông thiếu áo, mùa hè thiếu cơm”. Cha  Mẹ vất vả, dầm sương giải nắng trên ruộng đồng khô cằn mà không đủ sống, chắt chiu, gắng gượng nuôi con, đó là thời kỳ khó khăn mà bản thân ông đã trải qua. Chính dấu ấn nầy mà hình thành nhân cách sống chuẩn mực. Lấy đạo hiếu, ơn sinh thành dưỡng dục làm đầu. Khi lớn lên trưởng thành thấm nhuần giáo pháp Phật giáo và luôn chiêm nghiệm sự cao quí, trân trọng về ân dưỡng dục sinh thành. Đề tài này đề cập nhiều trong tập thơ và thường xuyên trích dẫn lời Phật dạy về hiếu thuận trong kinh Tâm Địa Quán, hoặc kinh Tăng Chi.

  Trở thành cộng tác viên của thư mục thi ca của Trang Nhà Quảng Đức từ mùa Vu Lan năm 2017, Cư Sĩ Minh Đạo là một trong thi sĩ có thơ đăng tải thường xuyên và nhanh chóng gởi bài khi có lời mời xướng họa của diễn đàn.

Khái quát vài khía cạnh trong TUYỂN TẬP THƠ,  thơ của Minh Đạo phần lớn xử dụng thể thất ngôn bát cú (Đường luật), súc tích, luôn chứa nhiều ẩn ý càng làm cho người đọc có cảm nhận sâu lắng hơn. Vài dòng xin giới thiệu đến quí độc giả.

                                              Viết tại Melbourne, đầu mùa Xuân của Úc Châu (9/2022)

                                                                  Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng
                                                                Trụ Trì Tu Viện Quảng Đức, Australia
                                                                   Chủ biên: website: quangduc.com


CẢM NHẬN  VỀ TUYỂN TẬP THƠ TÁC GIẢ MINH ĐẠO

   tuyển tập thơ của tác giả Minh Đạo đọc nhiều lần càng nghiệm ra cách nhìn sự vật, vấn đề bằng thiền quán, không hoa mỹ nhưng sâu lắng. Càng suy ngẫm người ta đi vào thế giới thực, thế giới hiện hữu tự nhiên không có tranh chấp, đố kỵ mà tương đồng diệu vợi.

  Ngoại cảnh thì luôn động, nương duyên mà tiếp diễn, nhưng với người dựa trên căn bản giáo lý Đức Phật thì sự hiện hữu ấy không bị cuốn theo để làm lu mờ tính biết , ăn thì biết ăn, ngủ thì biết ngủ, làm việc thì biết làm việc, khi đối chất với ngoại cảnh bằng sự tỉnh thức:

 Mộng dỗ tình ngây hoà chẳng đắm,
 Vai kề trí tỉnh rõ càng vươn.
                    (Niệm Cõi Hương)

 Giáo pháp của đức Phật bày ra cho chúng sinh đối trị vọng tâm, hướng về chân tâm. Để khế hợp với căn cơ hóa giải vọng động, phá bỏ những chướng ngại, không hề lay chuyển qua thời gian. Khi đã thuần hóa như “Trâu quay đầu” trong thập mục ngưu đồ, những lăng xăng, những vọng động của tâm không còn, lúc đó hành giả an nhiên, tự tại tiến đến “ Không còn trâu, không còn người” đó là chân tâm, đó là Phật :

Nẻo pháp luôn tìm tu vạn ngã,
Hương thiền vốn giữ niệm từng câu.
Năng cầu dạ sáng bền tâm hảo,
Mãi ủ lòng an thuận tánh đầu.
(Quẳng Lại)

 Hay:

Tâm buông khỉ lộng lơi năm tháng
Ý giữ trâu thuần rõ sát - na
Liễu tánh lìa mê người cải hối
Suy đời thoát não hướng lần ra
(Bình Thường Động Tỉnh)

 Chốn thiền môn trang nghiêm, tịch tịnh nơi đây niệm Phật, niệm Pháp chế ngự vọng động, gan lọc những ô trược bởi tâm mê chấp, đeo bám từ bao đời kiếp. Sân si đã diệt thì đâu còn thị phi, phải trái, hơn thua:

 Chốn đạo không sân đâu luận biện?
Nẻo tâm chớ đắm chẳng sinh ghiền.
Thong dong  thấy đủ người càng tiện,
Rộn rã  mong đầy dạ hổng yên.
(Thanh Thản)

Cũng cách nhìn ấy, khi chiều buông những tia nắng mờ nhạt len qua từng kẻ lá, cảnh vật, cánh diều lờ lững theo những dãi mây, đời thường với cảnh ấy vẫn băn khoăn vẫn thao thức, trăn trở về thân phận về cuộc đời. Với tác giả ngẫm lại… chẳng khác nhiều, bằng thiền quán:

Trời nghiêng oải nắng mơn cành liễu,
Gió lộng chùng mây ẵm dải diều.
Sắp nẻo thu về đơn phận rỗi,
Qua mùa hạ đến não đời xiêu.
Thời gian vật vả bày muôn lối,
Ngẫm lại… người, ta chẳng khác nhiều.
(Bóng Chiều)

 Người đời thường nhọc nhằn theo đuổi ước mơ, đuổi bắt không ngừng làm cho khổ, tham sân si thường đọng mãi trong tâm thức buộc chặt, không cắt được nghiệp ác mà ngày càng chồng chất. Trầm luân, luân hồi là đó, “niệm xưa”, “nợ cũ”, đuổi bắt tác giả nhấn mạnh:

 Bởi mãi long đong nên cứ khổ
Vì còn lận đận vẫn hoài đau
Niềm xưa quyến luyến dành tâm lực
Nợ cũ chờn vờn níu trước sau
Đuổi bắt thời gian ai định sẵn
Năng cầu chẳng được ắt càng lao.
(Tìm nhau)

 Ơn cuộc đời đã nuôi dưỡng hình hài nầy, những phương tiện cần thiết để sống, đáp lại bằng sư yêu thương là từ bi, rộng lượng, khoan dung, rạng rỡ mỗi ngày, tâm nầy trải khắp cùng thế gian. Khi lòng an thì cõi trần nầy là thiên thai, là cõi tiên tận hưởng cuộc sống tươi đẹp an vui hòa chung cùng mọi người. Đó cũng là mấu chốt để hướng đến cõi thường lạc:

 Rạng rỡ ngày lên cùng cõi thế
Yên bình kiếp mãn ngắm thiên thai
Nguyền tan ái dục tâm không vướng
Rũ sạch lòng trần tánh lặng khai
(Nguyện)

 Tiếng rao đêm ở góc phố về khuya, tiếng máy nổ cửa những chuyến xe chở hàng chuyến sớm, tiếng chổi đưa của người công nhân quét đường. cũng đều hòa nhập, theo thời gian và luôn có sự cảm thông . Sự lam  lũ, khó nhọc ấy  tác giả nhận thức đúng , đủ để cởi mở lòng hơn với thế gian, cuộc đời:

 Hàng rao đầu ngõ đìu hiu muộn    
Xe rú bên tai rối rắm phiền   
Nhập cảnh vui cùng tuy vẫn ngỡ
Nương đời nhận cả thế mà yên
(Phố Khuya)

 Về quê hương cũng là mảng dài tác giả đề cập, bằng tình yêu, nỗi nhớ dần theo năm tháng, mảnh ruộng, nương vườn, bờ tre, củ khoai, gốc sắn đó là những hình ảnh thân quen được đề cập trong thơ. Nơi quê hương miền trung đầy nắng, gió, ruộng vườn đất cày lên sỏi đá nuôi lớn, ươm mần cho tính chân chất, trung thực đi suốt cuộc đời:
 Mảnh ruộng se niềm căng cõi nhớ,

Nương hồ trỗi dạ ngẩn thời qua.
Ân tình mãi đọng theo dòng chảy…
Vẫn ủ hương đồng mỗi sáng ra…
(Bóng Quê)

 Hay:

 Thời xuân cảnh nhọc lòng không cỗi,
Chốn lão tâm hòa lợi nỏ mê.
Chẳng lỡ tình xưa đà ước hẹn,
Còn thương xóm nhỏ mãi ôm thề.
(Nhớ Hạ Quê)

 Chiến tranh, hoàn cảnh để mãi tha phương, khi nhớ về quê hương lòng dạ ngổn ngang..Như những kỷ niệm tuổi thơ, bơi lội trên dòng sông nhỏ Ô Khê vào những trưa hè cùng bạn bè, những lúc hái rau, kiếm củi trên đồi Khe Ải. Những ký ức đã hằn sâu vào tâm thức để hình thành một nhân cách sống, phép đối xử hiền hòa, cảm thông mọi khổ đau giữa cuộc đời và nối duyên gặp Phật pháp .

Vì đang mãi vướng quê biền biệt
Bởi cứ năng chờ dạ ngổn ngang
Ôm cả dòng Khê còn sóng nhớ
Mơ cùng khe Ải ngại chiều loang
(Trông Về)

 Hay:

 Đường dài rong ruổi ,chìm dâu bể,                           
Lối cũ đong đưa, thấm bụi trần.
Thổn thức nghĩa tình răng nặng nhẹ?
Mênh mang ký ức bát rau thuần…(*)
(Tình Quê)

  Thấm nhuần phong tục tạp quán, ảnh hưởng khuôn phép Nho giáo từ bao đời, và cả truyền thống gia đình lấy hiếu thuận làm căn bản trong đời sống như trong Thanh Niên Thủ Tắc viết: “hiếu thuận vi tề gia chi bản” (hiếu thảo là gốc rễ của việc quản lý gia đình). hay Hiếu kinh: “Hiếu thị đức chi bản, y giáo nhi sinh.” Nghĩa là hiếu thuận là căn bản của đức hạnh, do giáo dục mà có.

  Tác giả thường đề cập đến chữ hiếu và vượt lên trên nếp sống, nếp nghĩ và khi bắt gặp chữ hiếu trong đạo Phật., ngoài việc phụng dưỡng cha mẹ kiểu như thế gian và làm rạng rỡ tổ tông ra, còn phải tiến xa hơn, bằng cách dẫn dắt cha mẹ hướng về chánh tín, xa lìa phiền não, đường xấu, vượt thoát vòng sinh tử, làm cho họ hàng thân thuộc mấy đời được độ, cắt đứt vĩnh viễn khổ đau trong ba đường luẩn quẩn. Đây chính là đại hiếu. Kinh Tâm Địa Quán, viết: “Cha mẹ tại tiền như Phật tại thế, gặp thời không có Phật, khéo thờ cha mẹ tức là thờ Phật vậy”. và trong kinh Tạp Bảo Tạng, Đức Phật nói rõ hơn:“Nếu có người muốn được vua Phạm Thiên ở trong nhà, hãy hiếu dưỡng cha mẹ, vua Phạm Thiên đã có ở trong nhà. Muốn có Đế Thích ở trong nhà, hãy hiếu dưỡng cha mẹ, Đế Thích sẵn ở trong nhà. Muốn được tất cả thiên thần ở trong nhà, chỉ cúng dường cha mẹ, tất cả thiên thần đều ở trong nhà. Cho đến muốn cúng dường Thánh Hiền và Phật, chỉ cúng dường cha mẹ, các vị Thánh Hiền và Phật đều ở trong nhà”. . Dù song thân đã rời xa thế gian nhưng nỗi đau đáu chưa đáp tròn chữ hiếu còn luôn trăn trở:

Nhớ cảnh quê nghèo thời xót nỗi,
Hờn tìm sữa thiếu lúc nằm nôi.
Chưa lần báo đáp Người đi vội,
Vạn kiếp ân sâu nghĩa khó hồi…
(Tháng Bảy Vu Lan) 

  Từ vùng quê nghèo, nuôi con khôn lớn với bao vất vả, khó khăn luôn giữ, dạy con cách sống lương thiện, biết yêu thương giúp đỡ mọi người, vật chất khó khăn nhưng tinh thần luôn trong sáng. Đó là Mẹ là Cha:

Quần quật ngày đêm hoài cảnh thiếu 
Đau nhừ vai gối chỉ lều thưa
Giản đơn vạn chuyện nghèo  thường lấn
Lặng lẽ bao thời khổ mãi đưa
(Nhớ Mẹ Xưa)

 Hay:

 Hết cả phần đời nào quản ngại
Nhiêu khê mọi thứ chẳng nề hà
Theo hương sống nguyện, sao cho xứng
Con cháu noi gương rõ phúc nhà.
(Sinh Thành Dưỡng Dục)

 Với bạn bè, tùy duyên thuận cảnh gặp nhau để cùng giúp đỡ, đồng cảm, đồng tu xa lìa những cố chấp, hẹp hòi, vùi chôn những phiền não, đau thương hướng đến tuệ giác, giác ngô, hãy cùng nhau tiến bước: Về bến: Đây là bến giác Giác ngạn Bờ bên kia của giác ngộ, tức cảnh giới của Phật, và thuyền: Trí tuệ Bát nhã ví như thuyền bè đưa chúng sinh vượt qua biển sống chết, đến bờ Bồ đề, cho nên gọi là Bát nhã thuyền.

Vùi chôn não nuột quay về bến…(*)
Bỏ lại phiền nan dẫn xuống thuyền…(**)
Rang rỡ ngày lên vui nẻo thắm,
Nương cùng cõi tịnh để đời yên.
(Thiện Hữu)

Hay:

 Tùy duyên mỗi kiểu càng vui thấm,
Thuận cảnh nhiều nơi vẫn xứng tầm (tìm).
Ngẫm nẻo vô thường…sao sống chậm…
Cùng nương cõi thế, hiểu ôm chầm.
(Tìm Nhau)

 Ngẫm về cuộc sống thế gian, bởi mãi chìm trong khổ đau, bế tắc trong cuốc sống là tiếng thở dài. Thế gian là thế nhưng vạn vật vẫn bình yên, cây vẫn xanh, nước vẫn chảy, người nông dân vẫn ra đồng. Vạn cảnh đều hòa chung một nhịp. Chỉ khác là riêng con người thở ra, trăn trở:

Mấy khoảng xuân sang nào chậm lại
Nhiêu lần hạ đến vẫn đều qua
Thời yên,vạn vật luôn bình thản
Khổ mãi con người… cứ thở ra….
(Chuyện Với Tách Trà)

 Lại ngẫm dòng đời đâu cứ phải…
Hoài xem nghịch cảnh có chi mà?
Hương thầm đắng ngọt… đều như thế!
Vạn vật như như gắng hiểu là…
(Độc Ẩm)

 Vạn hạnh thiền sư trong bài Thị Đệ Tử (Dặn học trò)
Qua bản dịch của Ngô Tất Tố:

“Thân như bóng chớp, có rồi không,
Cây cối xuân tươi, thu não nùng.
Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi,
Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông.”

 Cũng nương tinh thần nầy , khi một nình bên tách trà nghĩ về một kiếp người thật chóng vánh, công danh, phú quí  như sương ngọn cỏ, lấp lánh rồi rơi, bướm đậu đài hoa chập chờn rồi bay. Chính tạm bợ, phù du ấy mà huân tập mà dứt đoạn phiền não, sống an nhàn, tự tại:

 Phú quí long lanh… sương ngọn cỏ,
Uy quyền đỏng đảnh… bướm đài hoa.
Thong dong chẳng vướng thì vơi khổ
Chóng vánh duyên trần ngẫm thoát qua… 
(Với Tách Trà)

 Tập thơ đề cập nhiều vấn đề trong cuộc sống, ở mọi khía cạnh, góc nhìn bằng sự thiền quán, cảm nhận ra giá trị thực để chỉnh lại đời sống.

Vài dòng khái quát về tập thơ bằng sự cảm nhân riêng mình, chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót ở những góc cạnh khác nhau và cũng mong tác giả thông cảm thứ lỗi.

                                                                                            Tháng 12/ 2022
                                                                               Giác Đức – Nguyễn Duy Nhiên

ĐỌC VÀ CẢM NHẬN TUYỂN TẬP THƠ CỦA CƯ SĨ MINH ĐẠO

Hầu hết những học trò, thân hữu đều biết cư sĩ Minh Đạo là một nhà thư pháp, là một nhà thơ chuyên về thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Tôi cũng đã được đọc và cảm nhận một số tác phẩm thơ của cư sĩ như Đường Chiều, Quay Về, Hương Đời, Đồi Cảnh Tùy Duyên, Về Nguồn, Hạnh Nguyện…Thư pháp của Minh Đạo với những nét bút phóng khoáng hào hoa, cứng cáp mà bay bướm, chân phương nhưng thoáng đạt nhìn vào là biết ngay không lẫn với ai được. Về thơ thì cư sĩ chuyên dùng thể loại thất ngôn bát cú Đường luật để thể hiện, ông cũng thử nghiệm một vài thể loại khác nhưng với tôi thì chỉ xem đây là những bài thơ được viết bởi “tay trái” của ông!.

Tuyển tập thơ của Minh Đạo gồm 500 bài thơ được tuyển từ 8 tác phẩm thơ đã xuất bản và các bài thơ đã đăng trên các trang web Thư Viện Hoa Sen, Trang Nhà Quảng Đức, Đạo Phật Ngày Nay, Hoa Vô Ưu, Hoa Linh Thoại, Phathocdoisong, Nguyệt san Chánh Pháp, Sài Môn Thi Đàn, Poem Tkaraoke.

Tuyển tập thơ xoay quanh chủ đề về kiếp sống nhân sinh với những cảm nhận về luật vô thường, những khổ đau chồng chất của kiếp sống chúng sanh và hành trình tu tập để tìm cho mình một sự an lạc, sự thanh thản hạnh phúc trong tâm hồn, sự tự tại vô ngại trước những nhiểu nhương của cuộc sống. Một đề tài khác cũng khá quen thuộc là tình cảm cha mẹ, ca ngợi công ơn sanh thành dưỡng dục với những tình thương và sự hy sinh vô bờ bến của các đấng sanh thành. Một đề tài khác cũng được ông nhắc đến là  tình cảm dành cho quê hương là nơi ông đã trải qua những tháng ngày thơ ấu với những kỷ niệm êm đềm dưới mái nhà xưa tuy nghèo khó nhưng ngập tràn hạnh phúc được sống trong vòng tay yêu thương của cha mẹ, và giờ đây sau bao tháng ngày phiêu bạt xứ người, khi dòng đời đang đổ bóng hoàng hôn ông vẫn nhớ thương, hoài niệm về những tháng ngày hạnh phúc đó với nững nuối tiếc khôn nguôi!

Để cho những dòng cảm nhận này tự nhiên trôi chảy theo những cảm xúc mà tác giả đã trang trải trong những câu thơ, tôi xin đi vào dòng đề tài về hành trình tu tập tìm về sự giác ngộ, giải thoát khỏi những khổ đau của kiếp nhân sinh mà hơn bảy thập niên tác giả sống trên trần thế đã trải nghiệm. Chúng ta hãy nghe ông cảm nhận về cuộc đời

Thế gian lận đận hoài chưa dứt

Sáu nẻo lòng vòng mãi lệ rơi

(Nghĩ về)

Sáu nẻo đây là lục đạo , theo quan niệm  của Phật giáo thì vạn loại chúng sanh do nghiệp báo đã tạo tác mà cứ luân hồn trong sáu cõi đóTrời, Người, Atula, Địa Ngục, Ngạ Quỹ, Súc Sanh. Địa Ngục. Muốn thoát ra khỏi cảnh giới đó không có gì khác hơn là phải “Tự mình thắp đuốc lên mà đi” bằng hành trình tu tập theo chánh pháp để đoạn trừ tham sân, si, bỏ việc ác làm việc lành, gieo trồng các thiện nghiệp, đoạn trừ vô minh, phiền não...chuyển hóa tâm thức tìm được sự an lạc, hạnh phúc ngay trong kiếp sống hiện tại và sẽ thoát ra ngoài vòng luân hồi trong lục đạo đó. Trước hết là phải đoạn trừ những nghiệp ác đã gieo trong quá khứ

Nhìn qua chuyện cũ như làn khói

Giữ nẻo tâm lành thấy tịnh môn

(Bình yên)

Tác giả đã cảm nhận được s dĩ chúng sanh còn mãi lận đận trong ba đường, sáu cõi vì đã tạo tác các nghiệp ác, thế nên vô minh và ái dục đã che mờ tất cả

Nghiệp đã nhiều thời qua khắp nẻo

Duyên còn vạn thưở đến nhiều nơi

(Lối cũ)

Đó là lối cũ, một li cũ đã trải qua vô lượng kiếp bởi vô minh và ái dục dẫn dắt mà ta mãi lang thang hoài trong biển khổ trầm luân như thế, càng ngày càng xa dần nguồn cội không biết đâu là bến bờ để quay về !

Để ri một lúc nào đó hành giả chợt nhận ra rằng thì ra trong muôn kiếp qua ta đã trôi lăn hoài trong bể sanh tử khổ đau như kẻ lữ khách loanh quanh trong tử lộ mà không  hề thấy được ánh sáng cuối đường hầm, thế là chợt suy tư

Ngẫm lại ôm phiền chỉ khổ đau

Thân người bọt bóng sẽ về đâu?!

(Ngẫm)

Khi đã giật mình tỉnh thức, khi đã ý thức được mình qua vô lượng kiếp đã lang thang  hoài như thế, qua vô lượng kiếp đã trôi mãi trong vòng sanh tử với những khổ đau chồng chất như thế hành giả quyết quay về nương tựa vào “hải đảo tự thân và bắt đầu một hành trình mới.

Hành trình tu tập của cư sĩ Minh Đạo được thể hiện qua những vần thơ mang nặng dấu ấn của thiền gia, bằng sự thanh lọc thân, tâm. Trước hết là phải quyết tâm buông xả, quăng đi những thứ mà trước đây ái dục mình đã lưu giữ, đã nâng niu, chiều chuộng nó

Nẻo pháp luôn tìm tu vạn ngả

Hương thiền vốn giữ niệm từng câu

(Quẳng đi)

Khi hành giả đã ý thức một cách sâu sắc rằng:

Hơn thua tính toán thì đau buộc

Được mất so bì chỉ khổ câu

(Buông xả)

Muốn buông xả, để tìm sự thanh thản, nhẹ nhàng, an lạc, không gì khác hơn là quay về tu tập với giáo lý Phật-đà,

Già-lam quảng bá lòng thanh tịnh

Gõ nh đường trần biết tỉnh say

( An lạc)

Nương theo giáp pháp Phật-đà để tu tập vượt thoát khổ đau

Già lam học đạo nương kinh giáo

Phật pháp đưa bè rõ chánh tông

(Trăng rằm tỏa sáng)

Tác giả đã quay về an trú trong hiện tại, đoạn trừ những khổ lụy trong quá khứ, không mơ màng tương lai hư ảo vì biết rằng chỉ có giây phút hiện tại là mầu nhiệm, nó mầu nhiệm vì giúp ta chuyển hóa những khổ đau để tìm đến bến bờ giác ngộ chứ cứ hoài niệm về quá khứ, cứ mơ mộng về tương lai thì chẳng giúp ích gì cho mình trên con đường tu tập vượt thoát sanh tử cả

Quá khứ dần qua thôi khổ lụy

Tương lai chưa tới mãi vui cười

 (Tâm bình).

Trong hành trình quay về với cội nguồn uyên nguyên của mình sau vô lượng kiếp trầm luân trong ba cõi, sáu đường, tôi tin là với chí nguyện ấy, sự quyết tâm ấy sẽ giúp cho hành giả tìm thấy cho mình sự thanh tịnh, an lạc, thong dong tự tại giữa chốn Ta-bà uế trược chất đầy khổ đau phiền não nầy ngay trong phút giây hiện tại và ngay trong từng cuộc sống hiện tại này  mà không chờ đến khi xã báo thân mới mong sinh về một cảnh giới an lành. Vì cảnh giới đó là hoa , là trái, là quả của nhân lành mà chính hành giả đã gieo, đã vun trng trong cuộc sống hiện tại này.

Một đề tài khác mà cư sĩ Minh Đạo yêu thích thường bày tỏ trong các tác phẩm của mình đó là niệm ân công ơn cha mẹ. Tác giả đã được sinh ra và lớn lên từ một mảnh đất khô cằn sỏi đá khi mùa đông về thì  mưa phùn gió bấc với cáí rét cắt da cắt thịt , mùa hè sang thì những ngọn gió nam lào thổi thông thốc khiến  con người, vạn vật như khô quắt đi dưới cái nóng cháy bỏng thịt da.Trong hoàn cảnh  gian khổ đó  cư sĩ đã được cha mẹ nuôi lớn khôn bằng những giọt

mồ hôi mặn chát đổ xuống ruộng đồng khô cằn đó. Bởi vậy giờ cho dù hiện nay  đường đời đã đổ bóng về chiều nhưng ký ức những năm tháng tuổi thơ gian khổ vẫn in đậm nét trong tâm thức và cảm nhận về sự hy sinh vô bờ bến của cha, mẹ đã suốt đời hy sinh cho mình vẫn luôn đau đáu trong lòng. Thế cho nên tác giả luôn nhủ lòng

Công ơn dưỡng dục sao đền đáp

Đạo hiếu tròn tu giữ nguyện thề

(Song thân)

Sự cảm nhận về công ơn trời biển của hai đấng sinh thành luôn được tác giả  khắc cốt ghi tâm

Đoạn trường chân chất nhờ ơn M

Giữ lối hiền hòa cảm đức Cha

(Sanh thành dưỡng dục)

Sự tri ân đến những đấng sanh thành còn đậm đà hơn nữa khi song thân đã khut bóng

Dưỡng dục sanh thành ai hiểu thấu

Muôn trùng cách biệt nghĩa tình sâu

( Nhớ mẹ)

Nhớ thương và cảm nhận tình cảm và sự hy sinh của cha mẹ cho mình, để rồi sống đạo trong đời, tu tập để trở thành  người thiện lương, giáo dục con cháu sống hiếu đạo, có ích cho đời, cho đạo, cho gia đình, cho xã hội, đó là một hình thức báo hiếu thù thắng nhất mà cư sĩ Minh Đạo đang thực hành trong cuộc sống.

Từ những tình cảm sâu xa về cha mẹ với những hoài niệm về những kỷ niệm đẹp thưở ấu thời dưới mái nhà tranh trong một thôn nghèo đã in dấu ấn đậm nét trong tâm thức, thế nên tác giả cũng có những vần thơ viết về quê hương với những tình cảm dạt dào

Rộn rã chiều về quanh khóm trúc

Tưng bừng nắng chiếu khắp vườn ngâu

Quê hương một thưở còn in đậm

Nghĩa tổ bao đời vẫn khắc sâu

( Tuổi thơ)

Quê hương và tuổi thơ luôn là những kỷ niệm đẹp mà biết bao thi nhân đã diễn bày, đặc biệt đối với cư sĩ Minh Đạo thì những kỷ niệm đó còn sâu sắc hơn nữa vì gắn liền với hình bóng mẹ cha qua bao tháng ngày lam lũ

Giữ mãi ân tình theo nghĩa vọng

Xa dần đất tổ cảm đời vương

Áo cơm mẹ gánh nuôi con chữ

Sách vở cha lo sáng chặng đường

(Quê hương)

Khép lại tuyển tập thơ của cư sĩ Minh Đạo lòng tôi cứ bâng khuâng mãi vì như đã trải qua một cuộc hành trình vạn dặm cùng với tác giả chiêm nghiệm, cùng buồn cùng vui, cùng song hành trên một hành trình  tìm về bến bờ giác ngộ với muôn vàn chướng duyên, nghịch cảnh, với muôn vàn nội ma và ngoại chướng. Nhưng với chí nguyện kiên cường thể hiện qua lối sống đậm mùi thiền vị thì dù cho thuyền đời phải chịu nhiều phong ba bão táp nhưng bến bờ giác ngộ ắt sẽ có ngày đạt đến. Tôi tin như thế và tôi vẫn luôn hằng mong cư sĩ Minh Đạo sẽ sớm hoàn thành chí nguyện.

Trước mắt là tập thơ của ông sẽ được thân hữu, bạn đọc hằng yêu mến thơ ông hưởng ứng nồng nhiệt.

Trọng Đông Nhâm Dần

         Tâm Lễ

 

 

 

GIỮA SỐNG VÀ CHẾT

 

Ngày xửa ngày xưa, ở Ấn Độ cổ có một người đàn ông vì chán ghét cõi đời hiểm ác nên đã tìm đến cửa Phật, quy y Phật giáo.

Tuy rằng thân đã xuất gia, nhập không môn, nhưng trong tâm ông vẫn quyến luyến ngoại giới, bị ái dục ràng buộc, thường dùng dầu thơm sát lên thân thể, dùng nước nóng để tắm. Ông thích có làn da thơm tho, lựa chọn đồ ăn, tâm bị chôn vùi bởi vật chất, như bị dây mơ trói thân thể vậy, không lúc nào tự tại. Mặc dù trên hình thức đã xuất gia, thụ giới, nhưng về hành vi và cảnh giới thì vẫn là phàm phu tục tử, cách thánh đạo Niết Bàn còn xa lắm.

Khi ấy tại nước Ma La có một tôn giả tên là Upagupta, là một nhà sư đạo hạnh có tiếng. Vị tỳ kheo mới xuất gia này rất hâm mộ danh tiếng của Upagupta nên đã tới diện kiến.

Tôn giả hỏi ông: “Ông không quản đường xá xa xôi tới đây làm chi?”

“Tôi mộ danh ngài mà tới. Mong được nghe tôn giả từ bi khải thị yếu chỉ Phật Pháp”.

Tôn giả Upagupta quan sát căn cơ của ông, biết ông còn bị ái dục trói buộc, không thể giải thoát, bèn hỏi ông: “Ông có thể hoàn toàn nghe theo lời giảng của tôi, chấp nhận giáo huấn của tôi, chiếu theo ý chỉ của tôi mà làm hay không?”

“Tôi nhất định có thể, hết thảy đều chiểu theo lời dặn dò mà làm”.

“Nếu ông có thể sinh tín tâm, tôi trước tiên dạy ông thần thông, sau đó thuyết Pháp cho ông”, tôn giả nói.

“Học thần thông trước, tuyệt quá!”

Vậy là tôn sư dẫn ông lên núi, dạy ông học tập thiền định, lại dặn dò ông phải tuyệt đối phục tùng. Tôn giả vận dụng lực thần thông, hóa ra một cây đại thụ, nói: “Ông cần phải trèo lên cái cây này”. Vị tỳ kheo kia liền nghe lời tôn giả trèo lên cây đại thụ, nhưng nhìn xuống dưới thấy một cái hố lớn, sâu không lường được, lúc này tôn giả bèn nói: “Giờ thả hai chân của ông ra”. Vị tỳ kheo chỉ còn cách nghe lời buông hai chân ra, lúc này tôn giả lại lệnh ông bỏ hai tay ra. Vị tỳ kheo chỉ dám bỏ một tay ra, nhưng tôn giả bảo phải bỏ nốt tay kia ra, tỳ kheo cực kỳ sợ hãi, nói: “Nếu lại bỏ tay ra, sẽ rơi xuống hố mà chết”.

“Ông đã có lời ước hẹn với tôi, hết thảy tuân theo dạy bảo của tôi, giờ lại hối hận rồi sao?” Vị tỳ kheo không còn cách nào, đành buông tâm không nghĩ gì nữa, bỏ nốt tay kia ra, liền rơi vào cái hố sâu, vừa sâu hoắm vừa đen ngòm. Lúc này ông hồn xiêu phách lạc, toàn thân lạnh ngắt, mở mắt ra nhìn thì thấy cái cây và chiếc hố đã biến đâu mất. Sau đó, tôn giả bắt đầu thuyết Pháp cho ông.

“Giờ tôi hỏi ông, khi ông buông nốt tay ra để rơi xuống, ông còn thấy thế gian có gì đáng để thích nữa không?”

“Tôn giả, đã tới bước ngoặt sinh tử, hết thảy đều không còn gì đáng thích nữa”.

“Là như thế. Hết thảy mọi thứ thế gian, đều là hư ảo hết. Khi sắc thân ảo diệt, ái dục cũng theo đó mà ảo diệt. Nếu ông có thể nhìn thấu sắc thân vô thường, thoát khỏi ái chấp trói buộc, thì sẽ giải thoát khỏi nó. Ưa thích là căn nguyên của phiền não sinh tử, hãy cẩn thận với nó, tinh tấn tu hành, chớ mất bản tâm, sẽ thành chính Đạo”.

Vị tỳ kheo lúc này đột nhiên tỉnh ngộ, từ đó tĩnh tâm suy ngẫm, chuyên cần tinh tấn, chứng đắc quả vị La Hán.

Thế gian con người thật thật giả giả, hư hư thực thực, do con mắt thịt chúng ta nhìn không chính xác, mới lấy ảo làm thật, tham hưởng khoái lạc nhất thời, chỉ vì sai biệt một niệm, kết quả rớt vào vực thẳm không đáy.

Nguồn; www.niemphat.vn


Thứ Sáu, 16 tháng 12, 2022

CỔ NHÂN: KHOE KHOANG TÀI GIỎI LÀ TỰ RƯỚC HỌA VÀO THÂN

                                                                          

                                                                           Ảnh: Pinterest

Xưa nay, bậc trí giả thường giống với kẻ khờ, dù có tài giỏi đến mấy cũng lặng lẽ giữ thân. Cũng có người năng lực giới hạn nhưng lại thích khoe khoang “trí tuệ”, cuối cùng tự mình rước họa.

Khoe khoang chỉ tự rước họa vào thân

Trong ‘Luận Ngữ – Vệ Linh Công’, Khổng Tử từng cảm thán: “Quần cư chung nhật, ngôn bất cập nghĩa, hảo hành tiểu tuệ, nan hĩ tai!”, là ý nói, cả ngày chỉ tụ tập nói chuyện phiếm, không nói những lời nghiêm túc, lại thích giở trò khôn vặt thì rất khó có tương lai.

Những người tỏ ra thông minh, đều là không có thực tài, chỉ là dựa vào công kích, áp chế người khác để nâng mình lên, có thể đắc ý nhất thời, tâm ý có thể tạm thời thỏa mãn, nhưng vĩnh viễn sẽ không thể thực sự đạt được thành công.

Trong ‘Bi Thuyết’ của Liễu Tông Nguyên có kể lại một câu chuyện xưa như sau:

Tại nước Sở có một tay thợ săn, bản lĩnh kém cỏi nhưng lại thích thể hiện mình. Anh ta dùng một ống trúc khoét thành một cây sáo có khả năng bắt chước tiếng kêu của đủ loại dã thú khác nhau. Anh ta thường giả tiếng kêu của dê, hươu nai… để dẫn dụ chúng đến trước mặt rồi sau đó bắt giết.

Có một lần, anh ta mang theo cung tên và các loại vật dụng khác lên núi đi săn. Anh dùng sáo thổi ra tiếng con hươu, không ngờ lại dẫn dụ một con báo tới. Thợ săn hoảng sợ, vội vàng thổi ra tiếng rống của con hổ, dọa cho con báo chạy thục mạng.

Tuy nhiên, tiếng gầm của con hổ rất thật, lại thu hút một con hổ đói khác tới. Thợ săn càng luống cuống, vội vàng thổi tiếng kêu của con gấu ngựa, khiến con hổ phải bỏ chạy. Anh ta vừa thở phào một cái, thì từ đâu một con gấu ngựa giương nanh múa vuốt tìm đến.

Thợ săn không dựa vào bản lĩnh thật sự để đi săn, mà lại dựa vào mánh khóe của mình để mong đạt được kết quả, cuối cùng phải rước họa vào thân. Trong cuộc sống, loại người này không phải là ít. Có những người không làm đến nơi đến chốn bằng bản lĩnh thực sự, mà chỉ dựa vào tiểu xảo để hãm hại lừa gạt, cuối cùng hại người hại mình.

Thợ săn không giả được tiếng con thú nào khác để dọa gấu ngựa, chỉ còn biết co quắp người lại, mặc cho gấu ngựa nhào lên, xé xác anh ta thành trăm mảnh.

Thợ săn không dựa vào bản lĩnh thật sự để đi săn, mà lại dựa vào mánh khóe của mình để mong đạt được kết quả, cuối cùng phải rước họa vào thân. Trong cuộc sống, loại người này không phải là ít. Có những người không làm đến nơi đến chốn bằng bản lĩnh thực sự, mà chỉ dựa vào tiểu xảo để hãm hại lừa gạt, cuối cùng hại người hại mình.

Bậc đại trí thường giả khù khờ

Người xưa thường có câu “Đại trí giả ngu” (Bậc đại trí thường giả khù khờ), trên thực tế, trong cuộc sống hằng ngày lại có những người “đại ngu” nhưng lại giả trí để thể hiện mình. Chỗ khác nhau của “đại trí giả ngu” và “đại ngu giả trí” chính là khả năng thấu hiểu chính mình. Người tự cho mình thông minh, tự cao tự đại, thường ra vẻ đao to búa lớn với người thì rất khó để thành công.

Trong xử thế, chỉ biết duỗi mà không biết co; chỉ biết tiến mà không biết lui; chỉ biết thể hiện tài mọn mà không thấy được sự hồ đồ; chỉ biết bộc lộ tài năng mà không biết giấu tài thì đó chỉ là một kẻ ngốc. Người Tây phương có một cách nói: “Người Pháp thông minh giấu ở bên trong, người Tây Ban Nha thông minh để lộ bên ngoài”, người trước là thông minh thật sự, người sau là giả thông minh.

Có người tiều phu và học giả ngồi trên cùng một chiếc thuyền để qua sông. Học giả cứ khoe khoang là không có gì là không biết và chấp người tiều phu đố mình bất cứ thứ gì và hứa sẽ cho người tiều phu 10 đồng và ngược lại, tiều phu chỉ mất 5 đồng thôi.

Tiều phu chấp nhận và đố học giả: “Vật gì dưới sông nặng nghìn cân nhưng lên bờ nặng chỉ còn 10 cân”.

Học giả suy nghĩ mãi, vắt óc nhớ lại những cuốn sách mình từng đọc nhưng cuối cùng đành phải chịu thua và phải đưa 10 đồng cho người tiều phu.

Sau đó ông hỏi người tiều phu câu trả lời, nhưng ngạc nhiên thay, người tiều phu trả lại ông học giả 5 đồng và nói: “Tôi không biết”. Học giả vô cùng sửng sốt và chợt nhận ra một bài học mà người tiều phu dạy với học phí là 5 đồng, từ đó ông không hề tự cao nữa.

Nhiều người cứ tỏ vẻ mình thông minh so với người khác, tuy nhiên họ quên mất rằng thông minh sẽ bị thông minh hại, nhiều lúc họ sẽ phải trả giá cho sự tự tin thái quá của mình.

                                                                                            Tuệ Tâm

Thứ Năm, 15 tháng 12, 2022

GIA ĐÌNH CÓ 3 CÁI CÀNG TO CÀNG NGHÈO KHÓ


 


Một gia đình có 3 thứ càng to, càng lục đục, rất dễ rơi vào cảnh túng quẫn, lầm than.

Cổ nhân thường nói: “Gia đình không có gia giáo và phép tắc còn đáng sợ hơn sự nghèo khổ”. Bởi một gia đình duy trì được sự hưng thịnh và giàu có được thì phải có gia phong tốt, chi tiêu hợp lý, đối nội, đối ngoại thông minh.

1. Người có thói quen tiêu tiền “to”, tiêu tiền như rác

Trong xã hội có rất nhiều người tiêu tiền như rác, họ có thể rơi vào trường hợp sau:

- Trường hợp 1: Những người không trải qua gian khổ và chưa thực sự trưởng thành. Từ nhỏ sinh ra trong gia đình giàu có, họ hưởng một khối lượng tài sản kếch sù do cha mẹ để lại.

Những đứa trẻ lớn lên trong những gia đình như vậy từ nhỏ chưa từng phải trải qua những khó khăn vất vả, không biết kiếm tiền vất vả thế nào, do vậy họ không biết trân quý đồng tiền, và tiêu tiền sẽ không tiếc tay. Họ sẽ xuống tiền để đáp ứng những nhu cầu cá nhân của mình.

 Trường hợp 2: Những người từ nhỏ đã sống trong hoàn cảnh khốn khó, khi đi ra ngoài xã hội họ phải học cách bươn trải và xoáy vào những cạm bẫy, dục vọng của xã hội.

Họ muốn che đi cái nghèo của mình, để chứng minh với thiên hạ là mình đã vượt nghèo thành công bằng cách tiêu tiền hoang phí. Họ thậm chí bất chấp tất cả để có tiền và dễ theo con đường sa ngã.

Ví như vay tiền để mua một cái ô tô hạng sang, biệt thự nguy nga để khoe mẽ với đời trong khi tài chính không cho phép. Đằng sau ánh mắt thán phục của người đời, họ phải gòng lưng trả lãi đến một lúc nào đó không thể cố gắng được nữa, họ sẽ phá sản, mất cả chì lẫn chài.

Còn nhà giàu thì hoàn toàn ngược lại, họ sẽ lập kế hoạch dài hạn cho tài sản của mình, khi có tiền họ sẽ không phung phí mà sẽ mua bảo hiểm hoặc tìm hướng đầu tư, họ biết xoay vòng đồng tiền để tiền đẻ ra tiền chứ không dồn hết vào thứ tiêu sản, mạ vàng cho bản thân.

Kết cục chung của những kiểu người tiêu tiền không tiếc tay, mua sắm đủ thứ, đến khi cần tiền thì thấy túi đã cạn, không biết quý trọng giá trị của đồng tiền thì cuối đời không thoát khỏi cảnh túng thiếu, cơ nhỡ, khó khăn chồng chất.

2. Người có thời gian rỗng “to”- Người không biết trân quý thời gian

Cổ nhân đã dạy: “Thời gian là vàng là bạc” nhưng vàng có thể mua được, còn thời gian trôi qua thì không thể lấy lại được.

Có nhiều người thường trải qua phần lớn thời gian cuộc đời để ăn chơi, mua sắm, hưởng thụ mà không bồi đắp năng lực cho bản thân. Lãng phí thời gian sẽ làm bạn mất đi nhiều tri thức, thời gian trôi đi với những việc vô bổ mà không học hỏi, trau dồi thêm kiến thức mới.

Lãng phí thời gian còn làm bạn bỏ qua những cơ hội gặp gõ những người bạn mới, bỏ qua việc có thể xây dựng mối quan hệ mới. Lãng phí thời gian còn làm mất đi ước mơ, khát vọng và thành công của bạn. Ước mơ nó chỉ còn lại trong mơ ước.

Những người biết tận dụng và trân quý thời gian sẽ biết cách liên tục nâng cao năng lực, nỗ lực không ngừng trong tương lai, họ sẽ có nhiều cơ hội thay đổi bản thân, phát triển công việc.

3. Người thường cho vay tiền “to”- Người không biết quản lý tiền bạc

Nhiều người có tâm thế hào sảng, ai nấy đều có thể cho vay tiền. Mới đầu có thể là khoản tiền nhỏ, nhưng càng về sau càng mạnh tay cho mượn tiền lớn.

Có điều, liệu đòi được chỗ tiền ấy hay không lại là chuyện khác. Mà nếu có đòi, thì lại dễ sứt mẻ tình bạc. Hoặc giả dụ bỗng không cho vay nữa, thì người kia lại dễ lật mặt, rồi cũng tự thế mà xa cách.

Đối với người giàu, họ thường đánh giá xem có nên cho người khác vay tiền hay không, đặc biệt là những món vay lớn.

Sau đó, họ sẽ cân nhắc về khả năng hoàn trả, thời hạn hoàn trả cũng như mối quan hệ với đối phương, sau đó họ mới cho vay. Họ sẽ biết cách cân nhắc rõ ràng, nhất là vấn đề tiền bạc, bởi cuối cùng, họ không muốn ảnh hưởng đến cuộc sống và mối quan hệ của cả 2 bên.

Nếu cả nể, không cân nhắc việc cho vay sẽ trở thành gánh nặng gia đình bạn, có thể mất cả tiền và mối quan hệ tốt đẹp trước đó.

Muốn sống tốt, ngoài việc học cách kiếm tiền, nhất định cần phải học cách quản lý tài sản, nếu không thay đổi những tư duy và thói quen cũ, thì cuộc sống sẽ ngày càng nghèo khổ, khó khăn.

 

Theo Xe và Thể thao

 


Thứ Tư, 14 tháng 12, 2022

MẬT ONG RẤT TỐT NHƯNG KHÔNG PHẢI AI CŨNG ĐƯỢC UỐNG VÌ "ĐỘC NHẤT VÔ NHỊ"

 

Uống mật ong pha chanh với nước quá nóng có thể làm xáo trộn các chất hóa học của nó, làm thay đổi hoàn toàn các hợp chất của mật ong gây nguy hiểm cho sức khỏe.

Uống mật và chanh vào buổi sáng có tốt cho sức khỏe?

Tờ Hindustan Times dẫn lời Tiến sĩ Dixa Bhavsar, bác sĩ y học cổ truyền nổi tiếng của Ấn Độ, uống nước chanh và mật ong vào sáng sớm mang lại nhiều lợi ích sức khỏe, nhưng cô cảnh báo rằng “món” này không dành cho tất cả mọi người.

Nước chanh và mật ong pha trong nước ấm uống khi bụng đói được cho là thức uống giải độc tối ưu có thể giúp giảm cân, hỗ trợ điều trị táo bón, ngăn ngừa đầy hơi, làm sạch gan và làm sạch chất nhầy trong đường thở và giảm tắc nghẽn, theo Hindustan Times.

Buổi sáng là thời điểm tốt nhất để ăn mật ong để tăng cường mức năng lượng và duy trì hoạt động cho cơ thể. 

Giúp làm sạch dạ dày, đồng thời giúp cơ thể đào thải độc tố.

Mật ong là thực phẩm giàu năng lượng, do đó có thể loại bỏ cảm giác mệt mỏi và đói bụng nếu dùng vào buổi sáng sớm.

Với người cao tuổi, uống một cốc nước ấm pha mật ong vào buổi sáng sẽ thúc đẩy nhu động ruột, giúp dễ đại tiện hơn.

Ngoài ra, uống mật ong vào buổi sáng còn giúp hỗ trợ giảm cân, cải thiện hệ tiêu hóa và đặc biệt tốt cho người có bệnh về dạ dày.

Đặc biệt, mật ong không phù hợp với trẻ dưới 12 tháng tuổi, vì nó chứa vi khuẩn có thể gây ra ngộ độc ở trẻ sơ sinh. Ngộ độc ở trẻ sơ sinh nếu không được cấp cứu kịp thời có thể dẫn đến tử vong.

Những lưu ý "vàng" uống mật ong và nước chanh

Đảm bảo nước không quá nóng vì chỉ có thể cho mật ong vào nước ấm chứ không phải nước nóng. Mật ong có thể bị biến tính trong nước nóng. Không nên quá 1 muỗng cà phê mật ong.

Bạn chỉ nên pha một chút chanh không nên dùng nhiều, vì chua và không tốt cho sức khỏe.

Tác hại khi ăn quá nhiều mật ong

Có thể gây ra co thắt dạ dày, táo bón, đầy hơi: Mật ong tốt cho hệ tiêu hóa của chúng ta và giúp giữ hệ này khỏe mạnh. Tuy nhiên, ăn quá nhiều mật ong có thể dẫn đến các tình trạng như co thắt dạ dày, tiêu chảy, táo bón và đầy hơi. Ăn quá nhiều mật ong có thể gây hại nhiều hơn lợi. Lý do chính là lượng đường fructose cao có trong mật ong làm cản trở khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng của ruột non.

Tăng lượng đường trong máu: Mật ong không tốt cho những người mắc bệnh tiểu đường vì lượng đường cao trong đó. Mật ong không chứa bất kỳ chất xơ nào có nghĩa là tiêu thụ mật ong có thể làm tăng mức đường trong máu.

Vì vậy, nếu bạn bị tiểu đường hoặc nếu bạn đang bị tình trạng lượng đường trong máu thấp thì bạn nên thận trọng khi ăn mật ong vì vị ngọt và thành phần hóa học của mật ong giống như đường ăn.

Rối loạn chức năng đường tiêu hóa: Quá liều hoặc ăn quá nhiều mật ong thường xuyên có thể ảnh hưởng tiêu cực đến đường tiêu hóa.

Mật ong cũng có tính axit nhẹ trong tự nhiên và tiếp xúc với thực phẩm có tính axit trong thời gian dài có thể dẫn đến trục trặc đường tiêu hóa vì bị ăn mòn niêm mạc dạ dày, thực quản và ruột.

Tăng cân: Uống mật ong với nước ấm hoặc nước chanh làm giảm cân, giúp giảm thêm calo và là đồ uống lý tưởng với những ai thừa cân. Tuy nhiên, ăn quá nhiều mật ong lại khiến chúng ta béo phì, do mật ong có nhiều đường dễ dàng hấp thụ vào máu và làm tăng cân béo phì vì lượng calo cao có trong đó.

Ai nên hạn chế uống nước mật ong và chanh vào buổi sáng?

Người bị loãng xương: Nước chanh có chứa axit xitric có thể ảnh hưởng đến lượng canxi trong cơ thể.

Người có vấn đề về răng: Trong chanh có chứa axit xitric có thể ăn mòn men răng, đặc biệt là ở người đang có vấn đề về răng miệng.

Người bị trào ngược dạ dày: Nước chanh có thể gây ra chứng ợ nóng, trào ngược dạ dày thực quản và trào ngược axit ở một số người, nhất là người đang có bệnh.

Người bị loét miệng: Uống nhiều nước chanh có khả năng làm trầm trọng thêm hoặc gây ra vết loét, theo theo Hindustan Times.

Người thường xuyên đau nửa đầu: Tiến sĩ Rebecca phó giáo sư thần kinh học tại Trung tâm Y tế Đại học North Carolina (Mỹ), cho biết, chanh có thể gây ra chứng đau nửa đầu và đau đầu. Theo WebMD, có thể là do chanh chứa nhiều tyramine - thường có liên quan đến đau đầu.

Người bị loét dạ dày: Uống nước chanh lúc bụng đói có thể làm khó chịu dạ dày.

Trúc Chi (theo Thanh Niên, Sức khỏe & Đời sống)

 



Thứ Ba, 13 tháng 12, 2022

MỘT CHÚT THAY ĐỔI TƯ DUY, SẼ QUYẾT ĐỊNH PHÍA TRƯỚC LÀ THIÊN ĐƯỜNG HAY ĐỊA NGỤC

 

                                                                      Ảnh Sina

Con người vì có tâm đố kỵ, luôn muốn được lợi hơn cho mình, nên cuộc sống thường căng thẳng mệt mỏi. Nhưng nếu có thể thay đổi cách nghĩ, đem những thứ mình có đưa cho người khác, thì mọi chuyện sẽ thay đổi bất ngờ.

Trong một trò chơi, người chủ trì đưa cho mỗi người một quả bóng, rồi yêu cầu mọi người viết tên mình lên trên quả bóng.

Sau đó người chủ trì thu tất cả bóng lại, để vào một phòng khác, chất đống lên nhau. Rồi yêu cầu mọi người tìm ra quả bóng của mình trong thời gian ngắn nhất có thể, và thời gian tối đa là 5 phút.

Mọi người cùng vào, ai cũng muốn thật nhanh tìm ra quả bóng mình, vì thế tất cả đều xông vào đống bóng, chen lấn xô đẩy nhau tìm kiếm quả bóng ghi tên mình. 5 phút đồng hồ trôi qua, kết quả chỉ có một vài người hoàn thành nhiệm vụ.

Quy tắc trò chơi thay đổi, không đến 3 phút, tất cả đều hoàn thành nhiệm vụ…

Sau đó người chủ trì thay đổi quy tắc của trò chơi. Yêu cầu mọi người tìm một quá bóng bất kỳ, rồi đưa cho người có tên trên quả bóng. Thế là không đầy 3 phút, tất cả mọi người đều nhận lại được bóng của mình.

Đây cũng chính là sự khắc họa xã hội một cách chân thực nhất. Mỗi người đều điên cuồng tìm kiếm thứ mà mình muốn, nhưng đều rất khó tìm được.

Nếu như chúng ta đổi cách suy nghĩ: Đem thứ mình có ở trong tay, đưa cho người đang cần nó, như vậy thì, mỗi người có thể sẽ rất nhanh chóng tìm được thứ mà mình muốn có.

Ngày nọ, có một người đàn ông đến gặp Thượng Đế, anh ta hỏi:

“Thượng đế, xin người cho con biết đâu là Thiên đường, đâu là Địa ngục ạ?”

“Đi theo ta. Ta sẽ đưa ngươi xem Thiên đường và Địa ngục nơi đây.”

Căn phòng thứ nhất mang tên “Địa ngục”, người đàn ông thấy rất nhiều người khổ cực, đói khát và tay họ bị buộc vào một cái muỗng cán dài. Tất cả quây quần quanh một cái nồi canh to sôi ùng ục, mùi thơm ngào ngạt. Những người này rất đói, nhưng ngặt nỗi khi múc canh lên, họ không có cách gì đưa thìa vào miệng vì cán thìa rất dài, trông rất khổ sở.

Thượng đế dẫn người đàn ông đến căn phòng thứ hai, tên là “Thiên đàng”, cảnh vật không khác gì căn phòng thứ nhất, cũng một nồi canh ngon, cũng rất nhiều người tay bị buộc vào muỗng cán dài, nhưng khác nỗi, khuôn mặt mọi người rất hạnh phúc, và tất cả đều mãn nguyện vì được no đủ.

Khép lại cánh cửa, người đàn ông thắc mắc với Thượng Đế:

“Thưa Ngài, hai căn phòng không khác gì nhau, vậy sao ở phòng Thiên đàng, mọi người lại hạnh phúc hơn phòng Địa ngục?”

Thượng đế mỉm cười và nói:

“Vì ở phòng Thiên đàng, mọi người nhận biết được cán muỗng quá dài và họ không thể tự đút cho mình ăn được. Chính vì vậy người ta học được cách đút cho nhau ăn.”

Câu chuyện cũng chính là phản ánh sự khác biệt giữa tầng cao và tầng thấp của xã hội:

Ở xã hội tầng trên, ai cũng muốn cùng người khác đi hợp tác;

Ở xã hội tầng dưới, người nào cũng đều không thích chung chạ với người khác;

Xã hội tầng trên, nhìn vào sở trường của người khác;

Xã hội tầng dưới, nhìn vào nhược điểm của người khác;

Người ở xã hội tầng trên nâng đỡ nhau cùng đi lên, người xã hội tầng dưới ngăn cản nhau tiến bước.

Lê Hiếu biên dịch

Thứ Hai, 12 tháng 12, 2022

TRIẾT LÝ ‘NƯỚC VÀ CHIẾC CHÉN’ CHỈ RÕ NGUỒN GỐC CỦA PHIỀN NÃO

 

Ảnh: Mytour

Nếu ví cuộc sống là nước, thì công việc, tiền tài, địa vị chính là chiếc chén đựng. Nếu cứ hoài phí tâm tư ở cái chén thì mọi người sao còn có thể có tâm tư để ý đến vị ngọt đắng của nước nữa, đây chẳng phải tự mình tìm phiền não hay sao?

Có một lần, mấy người chúng tôi là bạn học lâu năm gặp lại, cùng hẹn nhau đến nhà thầy giáo thời đại học. Thầy giáo rất vui mừng, hỏi chúng tôi cuộc sống hiện tại của mỗi người như thế nào.

Không ngờ chỉ một câu hỏi của thầy đã khiến mọi người phàn nàn không thôi. Mọi người nhao nhao nói ra những việc không như ý trong cuộc sống như: Áp lực công việc lớn, cuộc sống có nhiều phiền não, buôn bán cạnh tranh khó khăn, con đường thăng tiến tắc nghẽn…

Dường như mọi người đều nói quên mất thời gian. Thầy giáo nghe chỉ cười mà không nói gì, rồi từ trong bếp lấy ra mấy chén trà đặt ở trên bàn.

Những cái chén này đủ kiểu dạng khác nhau. Có cái làm bằng sứ, có cái làm bằng thủy tinh, có cái làm bằng đất nung. Cái thì thoạt nhìn xa hoa cao quý, cái thì có vẻ bình thường sơ sài…

Thầy giáo nói: “Tất cả đều là học trò của ta, cho nên ta sẽ không xem mọi người là khách, nếu ai khát thì tự mình rót nước mà uống đi.”

Nói nãy giờ như xả được một bụng tâm sự, mọi người đều cảm thấy khát khô miệng, liền cầm cái chén mà mình cảm thấy vừa ý rót nước uống.

Chờ trong tay mọi người đều cầm một chén nước, lúc này thầy giáo mới nói: “Các trò có phát hiện ra rằng, trong tay mỗi người là một cái chén được trang trí tỉ mỉ đẹp nhất, tốt nhất. Còn cái chén làm bằng đất nung này thì lại không có ai chọn nó.”

Đương nhiên tất cả chúng tôi thấy thật khó hiểu, ai cũng đều hy vọng rằng cái chén mình cầm trên tay là cái đẹp nhất.

Thầy giáo nói: “Đây là nguồn gốc phiền não của các trò.”

Mọi người cần là thứ nước bên trong mà không phải là cái chén đựng nó. Nhưng chúng ta vô tình hay cố ý lại đi chọn cái chén tốt nhất.

Điều này cũng giống như cuộc sống của chúng ta vậy. Nếu cuộc sống được ví là nước, như vậy thì công việc, tiền bạc, địa vị… tất cả những thứ này chính là cái chén, chúng chỉ là thứ công cụ để chứa đựng nước – cuộc sống của chúng ta mà thôi.

Kỳ thực, cái chén thật tốt, thật đẹp hay xấu xí cũng không làm ảnh hưởng chất lượng của nước bên trong. Nếu cứ hoài phí tâm tư ở cái chén thì mọi người sao còn có thể có tâm tư để ý đến vị ngọt đắng của nước nữa. Đây không phải là tự tìm phiền não sao?

Đức Hạnh biên dịch


Chủ Nhật, 11 tháng 12, 2022

LỜI PHẬT DẠY: KHÁT NƯỚC 3 NGÀY, CŨNG CHỈ LẤY 1 HỒ LÔ

 

                                                                                        (Ảnh minh họa: kknews) 

Sinh mệnh là một loại duyên, có những thứ tận lực truy cầu cả đời không có được, ngược lại sự xán lạn chưa từng kỳ vọng sẽ trong lúc bạn đạm bạc thong dong lại bất ngờ tới. Khát nước 3 ngày cũng chỉ lấy 1 hồ lô, chính là ý tứ đó.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở dưới cội bồ đề hỏi một người: “Trong mắt người thế tục, ngươi có tiền, có thế, có một thê tử yêu thương mình, ngươi tại sao còn không vui?”

Người này đáp lời: “Chính là bởi vì có nhiều thứ như thế, nên ta mới không biết nên lựa chọn như thế nào.”

Đức Phật Thích Ca mỉm cười nói: “Ta kể cho ngươi một câu chuyện. Ngày nọ, một du khách gần chết bởi vì khát nước, Phật thương cảm liền biến một hồ hiện trước mặt người này, nhưng người này lại không uống nước. Đức Phật bèn hỏi nguyên nhân.

Người này trả lời: ‘Nước ở hồ nhiều quá mà bụng của ta lại nhỏ thế này, uống một ngụm không thể hết được, vậy thì thà không uống còn hơn’.”

Giảng đến đây, Đức Phật nở nụ cười, nói với người đang buồn bã kia: “Ngươi nhớ kỹ, trong đời ngươi có thể đã gặp được rất nhiều thứ tốt, chỉ cần dụng tâm nắm giữ nó như vậy đủ rồi. Khát nước 3 ngày, cũng chỉ cần uống 1 hồ lô”.

Sinh mệnh là một loại duyên, có những thứ tận lực truy cầu cả đời không có được, ngược lại sự xán lạn chưa từng kỳ vọng sẽ trong lúc bạn đạm bạc thong dong lại bất ngờ tới. Mỗi một bước tiến triển đều là chậm chạp và gian khổ, một người một lần chỉ có thể thực hiện được một mục tiêu trong giới hạn.

Nhân sinh hạnh phúc không nằm ở thanh sắc tiêu khiển, mà là nằm ở biết đủ biết dừng

Có một tài chủ sống trong trang viên. Vì được Thượng đế ưu ái, chục năm nay ông ta luôn thích làm việc thiện, giúp đỡ tất cả những người nghèo khổ, ông trở thành một người tốt điển hình. Có một năm, lũ lụt đột nhiên xuất hiện, toàn bộ trang viên nhanh chóng bị chìm ngập trong nước, vì cầu cứu người chủ phải bò lên trên nóc nhà. Đang lúc ông ta lòng nóng như lửa đốt, đột nhiên có người chèo thuyền tới, nói với ông: “Đại thiện nhân, mau lên đây, ta đem ngươi đưa đến chỗ cao”.

Người chủ nhìn nhìn người này, hồi đáp: “Vài chục năm nay, ta một mực tuân theo ý chỉ của Thượng đế, lấy việc giúp người làm niềm vui, làm việc thiện tích đức. Tấm lòng chân thành nhất định có thể cảm động Thượng đế, biểu hiện của ta hắn cũng nhất định rõ mồn một trước mắt, cho nên Thượng đế sẽ đến cứu của ta, vì thế ngươi hãy đi nghĩ cách cứu những người cần giúp đỡ khác!” Thế là người kia chèo thuyền đi.

Mực nước dâng lên ngày càng cao hơn, xoáy nước mạnh hơn, tài chủ ôm chặt ống khói trên nóc nhà rồi khóc: “Thượng đế à, tín đồ trung thực thành tín của ngài đang ở trong nước sôi lửa bỏng, ngài vì sao còn không hiện thân cứu con? Chẳng lẽ ngài không nhìn thấy hay sao?” Lúc này, một hồi âm thanh ầm ầm âm vang lên từ xa, một chiếc trực thăng bay tới.

Phi công gọi tài chủ: “Đại thiện nhân, nhanh lên, tôi ném cái móc xuống, ông hãy cột đai đeo vào người, tôi sẽ đưa ông đến khu vực an toàn.”

Tuy nhiên, vị tài chủ lại cố chấp đáp: “Không, không”. Ông lại nói giống hệt như trước. Vì thế, chiếc trực thăng cũng rời đi. Bỗng nhiên, một hồi sóng lớn gầm thét ập đến, tài chủ đã bị nước cuốn trôi đi.

Tài chủ sau khi chết lên thiên đường, gặp Thượng đế, ông ta oán giận nói: “Con trong mấy chục năm nay, ngày nào cũng như ngày nào, một mực làm theo ý chỉ của ngài, không hề đắn đo suy nghĩ, nhưng sao khi con gặp nan, Ngài lại không tới cứu con, để cho con bị nước cuốn chết đuối. Xem ra con đã thật sự tin lầm Ngài rồi!”

Thượng đế nhìn tài chủ tiếc nuối nói: “Vì cứu ngươi, ta đã phái đi một chiếc thuyền cùng một chiếc trực thăng, nhưng ngươi lại không nắm lấy cơ hội để tự cứu mình”. Đến lúc này, tài chủ mới ngạc nhiên, tỏ ra vô cùng hối tiếc.

Sinh mệnh đời người trên sân khấu, vô luận ngươi là nhân vật chính hay phụ, cũng vô luận ngươi rực rỡ dưới ánh đèn hay thảm đạm sau hậu trường, sở hữu tất cả buồn vui sướng khổ đều là tự đạo tự diễn. Điều Thượng đế ban cho mỗi người đều là công bình, vô luận giàu có, nghèo khó, cao quý hay là hèn mọn. Vì thế sau khi chúng ta đã cố gắng, càng cần phải có thêm nhận thức lý tính, đừng để vụt mất thứ gì đó mà trống rỗng ôm hận.

Kỳ thực, những gì thật sự cần cho sự sinh tồn của con người là không nhiều, dù là có nhiều vinh hoa phú quý cũng vậy, lúc trong điên cuồng mỏi mệt tranh giành, chợt tỉnh ngộ mới phát hiện ra bao nhiêu ngày tháng đã qua đi.

Những thứ lôi cuốn hấp dẫn luôn tồn tại ở xung quanh, khi đối mặt chúng, ta là sa đọa hay giữ vững nguyên tắc, hết thảy đều sẽ phản ánh ra nội tâm của một người, ấy là có thể kiên định hay không. Nhân sinh hạnh phúc không nằm ở thanh sắc tiêu khiển, mà là nằm ở biết đủ biết dừng, vứt bỏ được dục vọng, sinh sống bình hòa thong thả…

Lê Hiếu (Theo Sound of Hop

Thứ Bảy, 10 tháng 12, 2022

HÒA THƯỢNG BẾ CON XIN SỮA MÀ ĐẮC ĐẠO

 

                                                                      Nguồn ảnh: ntdvn

Ngày nay, người xuất gia tu luyện không ít, thậm chí có trường đào tạo. Nhưng chốn cửa Phật lại không thiếu những chuyện chẳng hề thanh tịnh. Làm sao biết được người chân tu?

Câu chuyện thiền sư Bạch Ẩn nuôi con người là một sự tích nổi tiếng nói minh tỏ chân tướng người tu luyện.

Bạch Ẩn là thiền sư đức hạnh, là cao tăng nổi tiếng đương thời, học trò rất đông, người quanh vùng đều rất kính trọng ông. Cách ngôi chùa ông trụ trì không xa có một nhà mở cửa hàng bán vải.

Cô con gái chủ cửa hàng chưa xuất gia, nhưng có quan hệ tình cảm với một thanh niên và có thai. Cha mẹ cô cảm thấy rất sỉ nhục, bèn truy vấn cô cha đứa bé là ai. Cô gái vô cùng sợ hãi, nếu nói ra thì người yêu của cô sẽ bị cha cô đánh chết, do đó cứ không muốn nói. Sau này không chịu nổi sự thúc ép truy vấn của cha, cô nảy sinh ra một ý, người mà cha cô tôn kính nhất là Bạch Ẩn thiền sư, vì vậy cô nói:

– Đứa trẻ trong bụng con là của Bạch Ẩn thiền sư.

Cha cô vừa nghe vậy liền thấy như trời long đất lở, không thể nào ngờ được chuyện này lại như thế này, lại chính là Bạch Ẩn thiền sư, người ông kính trọng nhất.

Cha cô không tin lời con gái, bèn dẫn cô đến tìm Bạch Ẩn thiền sư và để cô gái thú tội. Bạch Ẩn thiền sư chỉ nhẹ nhàng nói một câu:

– Thế ư.

Cha cô thấy thần thái hòa ái của Bạch Ẩn thiền sư thì không làm ầm ĩ nữa, lẳng lặng dẫn con gái về. Sau khi cô gái sinh con, cha cô bế đứa bé đến chùa đưa cho Bạch Ẩn thiền sư và nói:

– Đây là nghiệt chủng của ông, trả lại cho ông đây.

Chuyện này lan truyền ra, dư luận bàn tán xôn xao, tới tấp đến chùa nhiếc móc thiền sư đạo mạo thế này mà lại làm cái chuyện vô liêm sỉ như thế, quả đúng là mặt ‘thiền sư’ dạ lang sói. Danh tiếng bấy lâu nay của Bạch Ẩn thiền sư bị hủy hoại sạch không còn tí gì.

Bạch Ẩn thiền sư lặng lẽ làm bảo mẫu cho đứa bé, ngày ngày bế bé đi xin sữa, và đi đến đâu, ông cũng bị nhục mạ và giễu cợt:

– Sư hổ mang!

– Sư háo sắc!

– Mọi người cứ ca ngợi là sư đắc Đạo, hóa ra chỉ là giỏi dụ dỗ con gái nhà lành!

Nhưng dù bị chà đạp và nhục mạ như thế này, Bạch Ẩn thiền sư vẫn lặng lẽ chăm chút nuôi dưỡng đứa trẻ.

Một năm trôi qua, cô gái kia thực sự không thể chịu đựng nổi nỗi dằn vặt của lương tâm và nỗi đau bỏ rơi con của người mẹ. Cuối cùng cô lấy hết can đảm nói ra chân tướng với cha mẹ. Cha mẹ cô nghe xong, trong lòng cảm thấy vô cùng hối hận, lập tức dẫn theo toàn bộ người nhà trong gia đình quỳ trước Bạch Ẩn thiền sư sám hối, chịu tội. Bạch Ẩn thiền sư nghe xong, chỉ nói một câu nhẹ nhàng:

– Thế ư.

Rồi đem đứa trẻ trao trả lại cho cô gái. Ông vẫn bình thản như ngày thường, dường như không có chuyện gì xảy ra vậy.

Sau này cô gái quy y cửa Phật, theo Bạch Ẩn thiền sư học thiền.

Tu hành như thế này thì:

– Có bức tường ma nào mà không đổ?

– Có gươm dao nào mà không gãy?

– Có chúng sinh nào mà không thể hóa độ?

– Có tiết tháo nào dám sánh vai?

Người tu hành là phải chịu được khổ, và phải tu nhẫn, cần đạt được tâm đại nhẫn: bình thản trước mọi oan ức trái ngang, thản nhiên trước mọi miệng lưỡi thế gian. Đó mới là người thực tu, chân tu. Tu là tu tâm chứ không phải ở hình thức tụng kinh gõ mõ ngồi thiền.

Ngày nay có trường đào tạo tu luyện, có chức sắc, quyền thế cũng không khác chi bộ máy quản lý của người thường. Có những người khoác áo tu hành kiếm tiền tỷ, làm ra không ít chuyện khiến người thường cũng sửng sốt. Tôn giáo chỉ là hình thức, người chân tu hướng nội tu tâm, chiểu theo các đặc tính Chân, Thiện, Nhẫn của vũ trụ mà tự đo lường bản thân mình. Người chân tu biết rõ việc mình làm đều có Thần Phật nhìn thấy. Có như thế mới không làm việc trái Đạo. Như câu chuyện sư Bạch Ân kể trên.

                                                                   Nguồn: ntdvn (Tường Hòa)