Thứ Bảy, 18 tháng 1, 2014

PHÚC ĐỨC TẠI MẪU - ĐỌC ĐỂ SUY NGẪM

     Ngày còn bé con cứ thắc mắc, tại sao trên đất nước này cái gì cũng mang dấu ấn sự tôn vinh người Mẹ. Dòng sông lớn nhất ở phía Bắc đất nước ta quen gọi sông Hồng cũng còn có tên khác là sông Cái. Con đường nào lớn gọi là “đường cái”. Thứ tiếng ta nói hàng ngày cũng gọi là tiếng “Mẹ đẻ”.
     Tổ Quốc thiêng liêng cũng được gọi với giọng tha thiết là “đất Mẹ”. Trên dải đất nhỏ hẹp mang hình chữ S này đâu đâu cũng có những đền thờ Mẫu. Bài học đầu tiên con trẻ được học cũng là từ trường Mẫu giáo và do các cô bảo mẫu truyền dạy. Đến cái đũa lớn nhất để xới cơm ở quê mình cũng gọi là “đũa cái”, “đũa cả”. 
        NHỚ LỜI MẸ DẶN
      Mẹ không được học chữ, vậy mà khi con học xa nhà, có một lần mẹ đã cố gắng viết cho con mấy dòng ngắn ngủi, nét chữ run rẩy và to như trẻ con học mẫu giáo tập viết. Mẹ viết: “Mẹ ít học hơn con nên mẹ tin con hiểu đời nhiều hơn mẹ. Mẹ chỉ muốn dặn con một điều rằng con đi xa hãy nhớ: Ăn một miếng của người con tạc ân vào dạ; Học một chữ ở đời con xem nặng nhẹ bao nhiêu”.
      Lời dặn của mẹ đã làm con khóc. Và con tâm niệm điều đó suốt cả cuộc đời và nó đã trở thành lẽ sống của con.
      Hôm con phỏng vấn xin việc vào công ty của Nhật cùng với ba chục người khác. Con không giỏi vi tính và ngoại ngữ như họ, song người được lựa chọn lại là con. Mẹ có biết họ hỏi con câu gì không? Họ hỏi con câu nói nào và của ai gây ấn tượng và có tác động mạnh đến cuộc sống của con, con đã nói lại lời mẹ dặn.
     Họ bảo: “Vi tính và ngoại ngữ cần, nhưng bạn có thể học trong vài tháng. Chúng tôi cần hợp tác với một người nặng lòng biết ơn và biết chắt lọc trong học hỏi”. Mẹ ơi, chính mẹ đã để phúc đức cho con!
      NHỮNG LÁ THƯ CŨ
    Con và chồng con có xích mích lớn vì con nghi anh ấy vẫn gặp gỡ với người bạn gái cũ. Con bực mình bỏ nhà chồng về khóc lóc với mẹ. Tối ấy mẹ mang từ trong chiếc hòm cũ ra một tập thư đã ố vàng. Đó là những lá thư của người yêu cũ gửi cho bố con trước đây.
     Mẹ bảo khi bố quyết định lấy mẹ, bố định đem hết đám thư và ảnh của người yêu cũ ra đốt đi để chứng minh sự “một lòng một dạ với mẹ”. Mẹ đã ngăn lại và bảo: “Thư anh đốt mà lòng anh còn nhớ cũng chẳng ích gì. Hãy cứ để em giữ lại làm kỉ niệm.
    Thỉnh thoảng anh đọc lại cũng thấy vui. Dù sao đấy cũng là những kỉ niệm gắn bó với anh một thời, sao lại cạn tàu ráo máng như vậy”. Bố sững sờ và ôm chầm lấy mẹ cảm động lắm. Thỉnh thoảng bố mẹ còn đọc lại những lá thư ấy, nhưng bố cả đời thuỷ chung với mẹ.
    Hôm ấy con đã khóc thật nhiều và con tự tìm về nhà làm lành với chồng. Mẹ nói ít nhưng mẹ dạy nhiều. Chính mẹ đã lấy lại cho con hạnh phúc!
     HAI VÙNG SÁNG TỐI
   Khi em trai con đưa người yêu về ra mắt, con không ưng ý lắm. Mẹ im lặng không nói gì. Sau hôm gặp mẹ cô ấy, mẹ nhận xét: Mẹ cô ấy hiền hậu, phúc đức lắm. Người mẹ như thế chắc chắn cô con gái sẽ là đứa con ngoan, dâu hiền.
   Mẹ đã không lầm. Hôm mẹ chồng tương lai của con sang chơi với mẹ, cụ cũng nhận xét về con y như thế. Hoá ra nhiều người nhìn nết mẹ mà đoán tính cách của con.
   Năm trước con đọc báo thấy có chuyện một cô gái đang tâm đẩy con chồng xuống sông Hồng. Một thời gian sau thấy có bà dì ghẻ bắt con chồng tự khâu miệng mình lại. Con nhận xét rằng phụ nữ nhiều người ác quá. Mẹ lại bảo “phúc đức tại mẫu, những người như thế rồi lại ác giả ác báo thôi”.
   Mẹ nói với con rằng những người ác chỉ là số ít, đừng vì thế mà vơ đũa cả nắm. Mẹ chỉ cho con thấy bao nhiêu người mẹ đã hy sinh hết lòng vì con, không ít người phụ nữ đã nhận nuôi hàng mấy chục trẻ mồ côi mặc dù bản thân mình còn khó khăn, vất vả. Trong đời có hai vùng sáng tối, mẹ bảo con nhìn ánh sáng mà đi!
    BÀI HỌC LÀM GƯƠNG
   Thấy con phàn nàn về sự chểnh mảng học tập của các cháu, mẹ bảo: “Con nhắc các cháu đi học bài, mà vợ chồng con cứ ngồi xem vô tuyến. Con chê các cháu lười học tiếng Anh mà bản thân con là cán bộ cũng       không thông tỏ ngoại ngữ thì dạy bảo chúng nó thế nào?”.
   Ngẫm kĩ lời mẹ nói, con đã quyết định đi học lớp tiếng Anh buổi tối cùng cháu. Tối về mẹ con trao đổi bài rôm rả. Đúng như mẹ nói, khi thấy cả bố và mẹ đều miệt mài làm việc, các cháu cũng tự động lấy sách ra làm bài.
   Đến nay chúng con rất yên tâm về việc học hành của các cháu. Sao có mỗi bài học đơn giản rằng “muốn con chăm thì mẹ phải siêng, muốn con hiền thì mẹ phải thảo” mà con không nhớ, phải để mẹ nhắc nhở!
   Mẹ nghèo không có tiền bạc cho con, nhưng mẹ đã cho con hiểu giá trị của sự tần tảo, lòng bao dung, đức hy sinh. Mẹ không đi học, nhưng mẹ dạy con biết sống đúng mực, trọng ân tình.
   Cuộc đời con lúc nào cũng có mẹ ở bên. Con có cuộc sống hạnh phúc hôm nay là do bàn tay mẹ tạo dựng. Đến bây giờ con đã hiểu rằng công sinh thành dưỡng dục do cả mẹ cả cha chung sức, nhưng không phải vô tình người ta mới chỉ phong danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” và trong nhạc, trong thơ, nơi đâu cũng thấy vang lên những “Huyền Thoại Mẹ”, ” Tình mẹ”, ” Lòng mẹ”…

                                                                                   Đinh Thủy

                                                                 Trích từ Email anh Quang Ngô

 

Thứ Năm, 16 tháng 1, 2014

HỌC LÀM NGƯỜI

 
               1. Thứ nhất, “học nhận lỗi”.
   Con người thường không chịu nhận lỗi lầm về mình, tất cả mọi lỗi lầm đều đổ cho người khác, cho rằng bản thân mình mới đúng. Thật ra không biết nhận lỗi chính là một lỗi lầm lớn.
              2. Thứ hai, “học nhu hòa”.
    Răng người ta rất cứng, lưỡi người ta rất mềm, đi hết cuộc đời răng người ta lại rụng hết, nhưng lưỡi thì vẫn còn nguyên. Cho nên cần phải học mềm mỏng, nhu hòa thì đời con người ta mới có thể tồn tại lâu dài được.
             3. Thứ ba, " học nhẫn nhục”.
   Thế gian này nếu nhẫn được một chút thì sóng yên bể lặng, lùi một bước biển rộng trời cao. Nhẫn, vạn sự được tiêu trừ. Nhẫn chính là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không.
             4. Thứ tư, “học thấu hiểu”.
   Thiếu thấu hiểu nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm.
   Mọi người nên thấu hiểu thông cảm lẫn nhau, để giúp đỡ lẫn nhau. Không thông cảm lẫn nhau làm sao có thể hòa bình được?
             5. Thứ năm, “học buông bỏ”.
    Cuộc đời như một chiếc vali, lúc cần thì xách lên, không cần dùng nữa thì đặt nó xuống, lúc cần đặt xuống thì lại không đặt xuống, giống như kéo một túi hành lý nặng nề không tự tại chút nào cả. Năm tháng cuộc đời có hạn, biết buông bỏ thì mới tự tại được!
             6. Thứ sáu, “học cảm động”.
    Cảm động là tâm thương yêu, tâm Bồ tát, tâm Bồ đề; trong cuộc đời mấy mươi năm của tôi, có rất nhiều câu chuyện, nhiều lời nói làm tôi cảm động, cho nên tôi cũng rất nỗ lực tìm cách làm cho người khác cảm động.
             7. Thứ bảy, “học sinh tồn”.
    Để sinh tồn, chúng ta phải duy trì bảo vệ thân thể khỏe mạnh; thân thể khỏe mạnh không những có lợi cho bản thân, mà còn làm cho gia đình, bạn bè yên tâm, cho nên đó cũng là hành vi hiếu đễ với người thân.
     Tất cả chân lý đều ở trong cuộc sống này, khi sống với tham sân si thì đó là luân hồi đau khổ, khi đoạn tận tham sân si thì đó là Niết-bàn tịch tịnh. Vậy bài học là thấy ra đâu là đau khổ, đâu là Niết-bàn và nguyên nhân của nó ngay trong chính mình và cuộc sống chứ không phải cố gắng cho những ảo tưởng ở tương lai… Lắng nghe, quan sát lại chính mình trong tương giao với cuộc sống, sẽ thấy ra (vipassati) mọi chân lý mà chư Phật đã chứng ngộ.
   “ Sức mạnh của trẻ thơ là tiếng khóc. Sức mạnh của đàn bà là phẩn nộ. Sức mạnh của người ăn trộm là vũ khí. Sức mạnh của vua chúa là quyền uy. Sức mạnh của kẻ ngu là áp đảo. Sức mạnh của bậc hiền trí là cảm hóa. Sức mạnh của người đa văn là thẩm sát. Sức mạnh của sa môn là nhẫn nhịn.”
     Phần lớn chúng ta khổ vì muốn được thường, lạc, ngã mà không thấy vô thường, khổ, vô ngã trong vạn pháp. Trong vô thường mà muốn thường hằng, trong khổ đau mà muốn hạnh phúc, trong vô ngã mà muốn đó là ta, của ta và tự ngã của ta: Đây được gọi là những điên đảo tưởng.
Mọi sự mọi vật do duyên sinh đều có biến đổi, có thành hoại, có sinh diêt. Do đó ai muốn chúng thường còn thì tự chuốc lấy khổ đau. Ví dụ như hoa Mai có nở có tàn nhưng ai muốn hoa Mai nở mãi không tàn thì sẽ khổ đau thất vọng .
Mọi sự mọi vật do ái dục + vô minh, tức tham-sân + si chi phối trong các hành động tạo tác mà đưa đến sầu khổ. Ví dụ như đời người có sinh, già, đau, chết nhưng ai tham sống sợ chết thì sẽ khổ đau phiền muộn. 

      Mọi sự mọi vật vốn vận hành theo quy luật tự nhiên của chúng, còn ý niệm “ta, của ta, tự ngã của ta” được gán ghép vào đó chỉ là ảo tưởng. Và chính ảo tưởng này đem lại khổ sầu. Ví dụ như mắt thấy mà cho là “ta thấy”, tai nghe mà cho là “ta nghe”… rồi “đây là con ta”, “đây là tài sản của ta”… nên mới khổ.
     Bởi chúng ta không thể thay đổi được thế giới chung quanh, nên chúng ta đành phải sửa đổi chính mình, đối diện với tất cả bằng lòng từ bi và tâm trí huệ”
          “Ra đời hai tay trắng.
           Lìa đời trắng hai tay.
           Sao mãi nhặt cho đầy.
           Túi đời như mây bay”.

    Hãy thành thật đối diện với mâu thuẫn và khuyết điểm trong tâm mình, đừng lừa dối chính mình.
    Thiên Đàng, Cực Lạc, chỉ là cách gọi tên thôi. Phật giáo, Thiên Chúa giáo chỉ là hệ thống tổ chức Tôn giáo và Giáo lý thôi. Trên thực tế Chân Lý vẫn là một đối với người đã giác ngộ. Giống như người miền Trung gọi là củ sắn thì người miền Nam gọi là củ mì, còn người nào ăn củ đó rồi thì mới thấy chỉ là một củ thôi …
   Khi còn tranh cãi nhau về cách lập ngôn hay còn chấp giữ hệ thống lý thuyết riêng của mình thì vẫn còn chưa thấy Chân Lý… Chính ý niệm của con người chia cắt manh mún Sự Thật thành cái của tôi và của anh mà thôi.
    Sự khác biệt giữa con người là do mức tiến hóa khác nhau qua các kiếp sống. Có khi nào ta thù ghét một kẻ kém ta? Nhận thức rằng “ Vạn vật đồng nhất ”, ta sẵn sàng tha thứ cho kẻ khác, vì họ không hiểu biết, không ý thức hành động của mình, vả lại họ và ta nào có khác nhau đâu. Khi ta hiểu rằng vạn vật như chính mình, từ loài người qua loài thú, thảo mộc, kim thạch, và ý thức rằng mọi vật đều có sự sống, đều có Thượng đế ngự ở trong, ta sẽ cởi bỏ thành kiến, mở rộng lòng thương đến muôn loài.
    Có hai cách biết: Một là cái biết thực tính (paramattha), hai là cái biết chế định (paññatti) với khái niệm.
    Khi biết thực tính thì không qua khái niệm và không phản ứng tạo tác (không làm: vô vi, hoặc làm mà không tạo tác: duy tác).
    Khi biết chế định với khái niệm thì có hai cách: Một là làm thiện theo nhu cầu cần thiết, hai là làm bất thiện theo tà kiến và tham ái.
   Vì vậy, thấy biết chân thật là chính, còn làm hay không là một động lực tất yếu từ sự thấy biết này.
    “Sống với đạo Phật:
  - Nếu không nói được những gì Phật nói, hãy im lặng như chánh pháp; đừng nói những lời ác, xuyên tạc, bịa đặt, vu khống, làm tổn hại kẻ khác.
   - Nếu không làm được những gì Phật làm, hãy im lặng và lắng nghe, quán sát, học hỏi những thiện tri thức; đừng vọng động làm những điều thương tổn đến tha nhân”.
     Trí tuệ không để bản ngã xen vào (= chấp thủ của các tư kiến) sự vận hành của các Pháp được gọi là Minh. Chỉ có Minh mới chấm dứt được toàn bộ tiến trình của bản ngã trói buộc con người, làm cho con người bị động trong vòng luân hồi sinh tử.
   “Ác khẩu, mãi mãi đừng để nó thốt ra từ miệng chúng ta, cho dù người ta có xấu bao nhiêu, có ác bao nhiêu.
    - Anh càng nguyền rủa họ, tâm anh càng bị nhiễm ô. 
     - Anh hãy nghĩ, họ chính là thiện tri thức của anh”.
     Trong lành là tuyệt đỉnh của Giới.
   
– Tĩnh lặng là tuyệt đỉnh của Định.
    – Sáng suốt là tuyệt đỉnh của Tuệ.

     Thực ra, chỉ có buông xả mới đạt được tuyệt đỉnh của Giới Định Tuệ mà thôi…
   “Người mà trong tâm chứa đầy cách nghĩ và cách nhìn của mình thì sẽ không bao giờ nghe được tiếng lòng người khác.
     Ví như trong tay anh nắm chặt một vật gì mà không buông xuống, thì anh chỉ có mỗi thứ ấy, nếu anh chịu buông xuống, thì anh mới có cơ hội chọn lựa những thứ khác.
     Vì thế, nếu một người luôn khư khư với quan niệm của mình, không chịu buông xuống thì trí tuệ chỉ có thể đạt đến ở một mức độ nào đó mà thôi.”
     Hãy tin vào tất cả nhưng cũng đừng tin vào điều gì cả, hay nói chính xác hơn là đừng bám víu vào bất cứ điều gì. Tin vào mọi sự, mọi người, mọi vật… vì tất cả điều gì đến với mình đều có nhân duyên với mình, đều là bài học giúp mình học ra cái đúng cái sai, cái xấu cái tốt, cái chân cái giả…
    Do đó phải biết ơn và phải học cho thật nhiệt tình, tận tâm và chuyên chú… chứ không nên chểnh mảng.
    Nhưng phải cẩn thận, đừng bám víu vào điều gì, vì bám víu là dính mắc, dính mắc là trói buộc, trói buộc là đau khổ, là không còn thong dong tự tại…
  “Hạnh phúc không phải là thứ có sẵn, Nó đến từ chính hành động của bạn.. .
   Tín ngưỡng của tôi rất đơn giản. Không cần có các chùa chiền, không cần các triết lý cao siêu. Tim và óc của tôi là các chùa chiền; triết lý của tôi là lòng tốt.

                                                                                                                               Dalai Lama


 

Thứ Tư, 15 tháng 1, 2014

KIẾM TÌM HẠNH PHÚC



 

   Có một người đàn ông muốn hạnh phúc nên viết lên bảng dòng chữ:
                                     Tôi muốn hạnh phúc
   Một nhà sư đi ngang qua thấy vậy bèn xóa đi chữ:Tôi  Nhà sư bảo:"Hãy bỏ cái tôi đi".Rồi nhà sư lại xóa tiếp chữ :muốn  và bảo :"Hãy bỏ tham muốn đi.Bây giờ ông đã có hạnh phúc!"
   
   (Xin  trích đăng trong tập san XUÂN PHƯỚC TUỆ-TRÚC ĐĂNG THIỀN UYỂN-XUÂN GIÁP NGỌ-2014)

Thứ Ba, 14 tháng 1, 2014

TRONG THẾ GIỚI VỘI VÃ

                                                                 
     Thế giới đang trở nên đông đúc, vội vã bất an và sôi nổi hơn bao giờ hết. trong những điều kiện đó, con người có khuynh hướng giảm bớt lòng từ bi và tăng thêm tâm gây gổ, kiêu căng. Tôi nghĩ việc rèn luyện tâm bình an là cách duy nhất để loài người có thể sống còn.
    Làm thế nào để chúng ta có một cuộc sống bình an? – Đó là nhận ra tính chất bình an của chúng ta, trong trạng thái “an trú” hay dừng lại, chúng ta tập trung vào một đối tượng, như hơi thở. Chúng ta đưa tâm vào  những mức độ tập trung sâu hơn để được nghỉ ngơi trong trạng thái bình an, một trạng thái ồn cố sáng sáng tự tại.
    Giữ tâm an trú không có nghĩa là xa lìa thực tế. Ngược lại tâm an trú đó chính là một thực tại. Chỉ những người điên rồ mới nghĩ rằng có thể tìm thấy giải thoát ở bên ngoài chính mình. Khi không tin tưởng vào bản tánh chân thật của mình, con người trở nên hụt hẫng. Từ đó họ sinh ra trách cứ người khác, trả thù và phá hoại. Và khi chúng ta có hành động phá hoại kết quả chỉ là chất chứa thêm sự tiêu cực vào tâm. Con đường bình an là con đường rèn luyện tâm đòi hỏi sự nhẫn nại và chuyên cần.
    Chúng ta nghe nói tâm của chúng ta luôn chạy rong trong sáu đường vì trong sáu cách nhận biết – thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm và biết – mỗi cách đều có nhận biết riêng. Và trên cùng là sự tưởng tượng hay vọng tưởng sợ hãi làm cho tâm bấn loạn đẩy tâm ra khỏi phạm vi nhận biết của chúng ta. Vì thế mà chúng ta phải chuyên cần tu tập để kéo tâm trở lại hơi thở.

   Shamatha (chỉ hay dừng tâm) cho chúng ta những phương tiện khéo léo trong việc điều khiển tâm, giống như chúng ta đang huấn luyện một con ngựa hoang. Bước đầu tiên là phát triển một sự quan hệ với nơi chốn chúng ta đang hiện hữu. Nếu chúng ta chỉ ngồi xuống và ghì giữ tâm chúng ta, nó sẽ chống cự lại. Do đó chúng ta không nên vội vàng lao ngay vào việc tu tập thiền định, vì điều đó chỉ giống như ta đặt ra chiếc yên trên lưng một con ngựa chưa thuần thục. Trước hết sự phát triển tính chất tự giác – biết chúng ta là ai và chúng ta đang làm gì – là việc rất quan trọng.
   Do đó, khi ngồi vào bồ đoàn để tham thiền, chúng ta bắt đầu việc nhìn vào điều gì đang xảy ra trong đời sống chúng ta, và đó chỉ mới chỉ là vòng ngoài của sự tu tập. Shamatha trong đời sống hàng ngày là một thức giác về một sự việc đang xảy ra về trật tự, sự trôi chảy và vắng bóng của những xung đột. Không có một mức độ an trú trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta  sẽ luôn luôn ở trong tình trạng vùng vẫy. Sự vùng vẫy này sẽ ngăn chúng ta tiến sâu hơn trong thiền quán.
    Vòng tiếp theo của shamatha là soi rọi vào chính mình. Đây là giai đoạn đầu trong việc tu tập chính thức. Chúng ta bắt dầu bằng việc quán sát những cảm nhận của mình. Chúng ta có thể hỏi: “Tôi cảm thấy vui hay buồn? tôi cảm thấy lo lắng hay không? Trạng thái căn bản tâm của tôi ra sao trước khi tôi bắt đầu tu tập?” khi chúng ta có những cảm xúc khó khăn, lý do thường là chúng ta không dể ý đến chúng ta là ai. Chúng ta có thể nghĩ chúng ta là những hành giả cừ khôi, trong khi thực tế chỉ là chứng loạn thần kinh trước kia đang bày trò trong tâm chúng ta. Nếu chúng ta muốn biết những khía cạnh vi tế của tâm hoặc giữ  một đối tượng để quan sát, ít nhất chúng ta cần có khả năng nhận ra chúng ta cảm thấy gì.
   Tự quán chiếu cũng có  thể bao gồm suy nghĩ. Là những người tu thiền, chúng ta thường có cái nhìn cho rằng suy nghĩ là xấu. Thực tế là chúng ta ngồi trên bồ đoàn và suy nghĩ. Tại sao lại không suy nghĩ về thứ gì đó giúp chúng ta tiến theo hướng đúng? Đây là cơ hội rèn luyện tâm của tôi. Tôi có 20 phút và tôi sẽ để 20 phút đó cho tâm và cố gắng rèn luyện nó, giống như rèn luyện một con ngựa”.
   Ngay vả khi chúng ta giữ được sự ổn định và đặt được tâm trên hơi thở, tâm của chúng ta có thể vẫn còn hoang dã. Những sự việc như tìm tòi hay ăn uống vẫn còn lãng vãng trong tâm chúng ta. Hoặc chúng ta vẫn còn bị dính chặt vào lòng tức giận hay ham muốn, cảm xúc của chúng ta hầu như còn cứng như đá. Tưởng tượng và cảm xúc là những niệm tưởng có sức mạnh mang chúng ta đi xa, và tìm cách hiểu được những niệm tưởng đó là một phần làm trong tiến trình làm lắng dịu chúng ta. Nhưng nếu chúng ta trải rộng và để cho tâm chúng ta rong ruổi tự do, chúng ta không thực sự thực hành thiền quán, khi đó chúng ta không làm việc gì với tâm cả. Giống như chúng ta cho ngựa thêm lúa và để nó chạy vòng vòng, nghĩ rằng việc đó sẽ làm cho nó thuần phục.
   Chúng ta phải quan sát  xem chúng ta điều khiển chính mình như thế nào. Đây là một mức độ khác trong việc thức giác về chính mình – biết chúng ta đang thiền quán như thế nào. Rồi khi chúng ta để ý thấy rằng chúng ta bị đẩy ra xa. Thời gian đó không trôi qua một cách vô ích vì khi chúng ta theo dõi  những hình thái hoạt động của tâm, nó cho phép chúng ta nhận ra những hình thái hoạt động đó một cách dễ dàng hơn.
   Ở mức độ này chúng ta cũng có rất nhiều niệm trung tính (vô ký). Những thứ này có thể là những thứ nguy hiểm nhất trong việc tu thiền của chúng ta. Bởi vì chúng không tàn phá chúng ta như  những đam mê hay sự gây gổ, chúng ta dần dần quen thuộc với chúng hơn. Chúng ta nghĩ: “Không có gì xấu; nó không lan trải rộng ra”. Giống như nói: “Nhà tôi chưa hẳn là hoàn toàn sạch, nhưng cũng đủ sạch”. Chúng ta không muốn tiêu dùng thêm năng lượng đó, do đó, chúng ta quen dần việc sống chung với bụi.
   Còn có những niệm tưởng lan man, không mạch lạc, biểu hiện ra dưới  hinh thức khích động hay một dòng lao xao. Để đối phó với những niệm tưởng lan man, điều quan trọng là đừng nghĩ: “Tâm của tôi thực sự là hoang dã, tôi có rất nhiều tưởng niệm, vì vậy tôi là người tồi”. Chúng ta nên thức giác những điều đang xảy ra trong những ý nghĩ lan man của mình, và chúng ta đừng cố gắng triệt tiêu chúng. Nếu chúng ta quá khắt khe trong việc tu tập thiền quán, cố gắng nhứt tâm trong mọi lúc, chúng ta tiêu dùng quá nhiều nỗ lực làm cho chúng ta bị dội ngược ngay vào trạng thái nhiều lan man hơn.
   Thay vì vậy, chúng ta hãy thực hành việc nhìn vào tâm và thấy cách nó đi đến mọi nơi mọi chốn. Nó chạy tán loạn và không thể dừng lại, hoặc dừng lại trên một ý tưởng; nó không ngừng đem hết việc này đến việc khác vào. Dĩ nhiên có một mức độ nghĩ nhớ lan man. Thật sự chúng ta có thể có một buổi tham thiền tốt đẹp trong nửa giờ đồng hồ, có chút đỉnh những ý nghĩ lan man nhưng không bao giờ thật sự đánh mất đối tượng
thiền quán.
   Một khía cạnh  của việc biết chúng ta đang ở chỗ nào và giữ những hướng vọng của chúng ta một cách hợp lý. Nếu chúng ta nói: “Tôi có một ngày bận rộn. Tôi hoàn toàn chưa thuần phục, nhưng giờ đây tôi ngồi xuống và gắn kết vào hơi thở” điều đó sẽ không xảy ra. Thay vì vậy, chúng ta sử dụng sự thông minh của chúng ta: “Nếu tôi chỉ có thể cảm thấy không gian của căn phòng và có một cảm nhận về hơi thở của tôi trong nửa giờ đồng hồ, đó sẽ là một bước tiến bộ”. Sau đó khi chúng ta lắng xuống được một chút, chúng ta có thể nghĩ: “Giờ đây tôi có thể tập trung hơn vào hơi thở”.
   Mức độ kế tiếp của niệm tưởng mà chúng ta gặp phải rất vi tế, những niệm tưởng này không phải là những niệm tưởng đem chúng ta đến một tiệm ăn mới hay chuẩn bị cho buổi tu tập theo sau, chúng không phải là những ý nghĩ lan man tạo ra sự lao xao trong tâm; chúng chỉ là những ý niệm nhỏ, nhẹ như bong bóng. Tâm như hòa trong đó. Nhưng sau khi thực hành shamatha một thời gian, chúng ta có thể đạt đến giai đoạn ổn cố của tâm trong sự an bình, ơ đó, những niệm tưởng nhỏ nhiệm này tiêu tán giống như những lọn tuyết dưới ánh mặt trời.
   Ý tưởng về sự thành tựu trong thiền quán nơi tôi luôn luôn tồn tại và không gián đoạn, chúng ta có thể tham thiền trong một ngày và có kinh nghiệm hoàn toàn về nhất tâm, nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta đã thuần thục được tâm của mình. Cách chúng ta gắn bó với việc tu tập là hiểu chúng ta là ai, chúng ta đang làm gì, và vì sao chúng ta làm việc đó. Tâm là một cái gì lạ lùng. Vui và buồn, tất cả mọi cảm nhận của chúng ta xuất hiện nơi tâm. Và khi chúng ta cảm nhận những thứ đó, chúng ta cần cố gắng làm cho chúng ta dừng nghỉ. Khi có được sự dừng nghỉ, chúng ta sẽ cảm nhận được sự trong sạch cố hữu của chúng ta, cho chúng ta sức mạnh, tình thương và lòng từ bi.

                 Nguồn: Shambhala Sun, số tháng Giêng 2010, SAKYONG MIPHAM RINPOCHE-                                                                                               THỊ GIỚI dịch                                            

Chủ Nhật, 12 tháng 1, 2014

MAI HOA NI-THIỀN SƯ NI ĐỜI ĐƯỜNG

   Xin trích đăng bài thơ của  Thiền sư Ni đời Đường có bút hiệu  MAI HOA NI  đăng trong tập san
XUÂN PHƯỚC TUỆ -TRÚC ĐĂNG THIỀN UYỂN -XUÂN GIÁP NGỌ 2014.:
                         Thơ : Mai Hoa Ni
                 Thư pháp:  Minh Đạo
                                                                                  MAI HOA NI
   Đai Đức Từ Minh sưu tầm bài thơ của một Thiền Sư Ni đời Đường có bút hiệu là Mai Hoa Ni.
                                     Tận nhật tầm xuân bất kiến xuân
                                      Mang hài đạp biến lãnh đầu vân
                                      Quy lai tiếu niễn mai hoa xú
                                      Xuân tại chi đầu dĩ thập phân
           Như Đức dịch:
                                     Xuân đã đầy cành
                                 Trọn buổi tìm xuân chẳng thấy đâu
                                 Giày gai đạp nát đỉnh mây cao
                                 Trở về cười ngất hương mai rộ
                                 Xuân ở đầu cành rõ biết bao


Thứ Bảy, 11 tháng 1, 2014

THẰNG ĂN CẮP

                                                              Thằng ăn cắp
   Ở một làng nào đó bên xứ Ấn Độ, có một thương gia nghèo. Ðời sống khó khăn, nạn cường hào ác bá quá đỗi lộng hành khiến bác ta sống không nổi, phải bỏ đi một xứ xa sinh sống. Sống nơi đất khách quê người lâu ngày, lòng riêng vẫn tủi. Lại thêm tuổi đà xế bóng, tính ganh đua, lòng ham muốn cũng mỏi mòn. Một hôm chạnh nhớ cố hương, bác quyết định trở về. Bán hết tài sản lấy tiền mua vàng, gói vào một túi vải giấu trong túi hành lý khoác vai, bác lên đường về quê hương.
   Trong vùng quê người thương gia, giữa một cánh đồng, dân trong vùng xây một ngôi chùa nhỏ để các nông phu buổi trưa ghé vào lễ Phật và nghỉ ngơi. Một cây bồ đề lâu năm che bóng rợp xuống một sân nhỏ lát gạch, một cái giếng khơi, nước mát và trong vắt, cũng là nơi cho khách bộ hành ghé chân nghỉ ngơi, giải khát, hoặc đôi khi ngủ qua đêm trong chùa. Chùa không có người coi. Phật tử trong chùa đều là nông dân. Lúc rảnh việc thì tự ý tới làm công quả quét tước, dọn dẹp, chăm sóc cho đám cây cỏ sân chùa lúc nào cũng hương khói quanh năm.
    Sau nhiều ngày lặn lội đường xa, người thương gia về gần đến làng cũ. Trời đã xế trưa, nắng gắt. Ði ngang qua chùa, bác ghé vào nghỉ chân dưới gốc bồ đề. Ra giếng nước giải khát, rửa ráy sạch sẽ xong, bác vào chùa lễ Phật. Trong chùa vắng lặng. Bác thắp hương quỳ trước bàn thờ Phật. Ngước nhìn lên, nét mặt đức Thế Tôn vẫn trầm mặc như xưa nay, hơn mười năm qua không có gì thay đổi. Cảnh vật như đứng ngoài thời gian. Lễ xong, người thương gia rời chùa. Thấy bóng chiều đã ngả, đường về còn khá xa, bác liền rảo bước, bỏ quên túi hành lý trong chùa.
   Buổi chiều hôm đó, một nông dân nghèo khổ trở về làng sau một ngày làm việc ngoài đồng. Ngang qua chùa, ngày nào cũng vậy, bác ghé vào lễ Phật trước khi trở về nhà. Lễ xong, bác trông thấy một túi vải to để gần bàn thờ. Bác ta nghĩ thầm: “Không biết túi vải của ai đi lễ đã bỏ quên. Nhỡ có người tham tâm lấy mất thì tội nghiệp cho người mất của. Âu là cứ mang về nhà rồi bảng thông báo để trả lại cho người ta.”
   Về đến nhà, bác nông dân gọi vợ con ra, trỏ vào túi vải, nói:
  - Ðây là vật người ta bỏ quên trong chùa. Nay mình cứ tạm kiểm kê rõ ràng, đầy đủ, mai mốt có người đến nhận đúng thì trả lại cho người ta.
   Giở ra xem, thấy có gói vàng to, người nông dân nghiêm giọng dặn vợ con:
  - Vàng của người ta là một vật rất nguy hiểm. Nó làm nảy lòng tham. Mọi điều bất chính, bất lương, mọi sự đau khổ cũng từ đó phát sinh. Mẹ con mày chớ có dúng tay vào mà khốn!
   Bác cất cẩn thận vào rương, khóa lại.
   Người thương gia rảo bước về gần đến làng, nhìn xa xa ráng chiều êm ả, những làn khói bếp vương vấn trên rặng tre quen thuộc. Cảnh xưa vẫn còn trong trí bác so với nay như không có gì thay đổi sau hơn mười năm xa cách.
   Vừa đến cổng làng, người thương gia mới sực nhớ đã bỏ quên túi hành lý ở chùa. Lo sợ, hốt hoảng, bác vội quay lại con đường cũ, vừa chạy vừa kêu:
  - Khổ thân tôi! Thế là tôi mất hết cả sản nghiệp dành dụm từ hơn mười năm nay! Bao nhiêu công lao trôi sống trôi biển cả rồi! Khổ thân tôi chưa!
   Người đi đường ai thấy cũng ngạc nhiên.
  Tới chùa thì cảnh vẫn vắng tanh, bên trong chỉ có một cụ già đang lễ Phật. Người thương gia vội túm lấy cụ già, hốt hoảng hỏi:
  - Túi đồ của tôi đâu? Vàng của tôi đâu?
   Cụ già ngạc nhiên:
  - Túi đồ nào của bác? Vàng nào của bác?
  - Thì cái túi hành lý tôi để quên hồi xế trưa trong chùa này!
   Cụ già vẫn bình thản:
  - Quả thật lão không thấy túi đồ của bác. Lão đã sống thanh đạm cả đời, nỡ nào trong chốc lát vứt bỏ lương tâm mà tham của người. Bác cứ bình tĩnh. Của mất, có duyên còn có ngày lấy lại, vô duyên thì của cầm trong tay cũng mất. Túi đồ của bác đã thất lạc, bác lại mất luôn cả cái tâm công chính, đỗ vấy cho người là cớ làm sao? 
  Gần đây có một xóm làng, buổi chiều nông dân thường lễ Phật trước khi về nhà. Bác thử tới đó hỏi xem. Thói thường, thấy vàng là tối mặt lại. Nhưng cũng còn tùy. Cũng còn có nhiều người tốt.
  Người thương gia nghe ra, nhận thấy mình vô lý, bèn xin lỗi cụ già rồi theo lời chỉ dẫn, tiếp tục đi tìm. Tới làng, ông ta hỏi nhiều người mà không ai biết. Nghĩ rằng sản nghiệp dành dụm trong mười năm của mình nay phút chốc như chiếc lá vàng rơi theo gió đưa, biết đâu là bờ bến mà tìm! Ðành phó mặc cho bước chân tình cờ may rủi. Khi tới cuối làng, giữa vườn cây cối um tùm có một căn nhà lá nhỏ tồi tàn. Trước cửa treo một tấm bảng đen, với hàng chữ trắng viết to: “Tôi có nhặt được một túi vải bỏ quên trong chùa. Ai là chủ xin tới nhận lại.”
  Người thương gia mừng quýnh đập cửa, gặp anh nông dân ra mở hỏi:
   - Bác là chủ túi đồ bỏ quên trong chùa?
   - Vâng, chính tôi. Tôi đã để quên trong chùa hồi xế trưa nay. Xin cho tôi nhận lại.
   - Nếu đó là của bác thì bác phải nói xem túi đồ của bác như thế nào? Trong đựng những gì?
   Người thương gia trả lời:
  - Ðó là túi vải, trong đựng một ít lương khô đi đường.
   Người nông phu nói:
  - Thế thì không phải túi đồ của bác.
  - Thú thật với bác, cũng còn một số vàng trong một gói vải khác màu đỏ.
   Người nông phu nghe tả đúng các đồ vật và số lượng vàng đựng trong túi vải, biết chắc người tới hỏi là chủ nhân bèn mở rương ra, nói với người thương gia:
  - Quả thật đó là túi đồ của bác. Xin mời vào nhận.
  Người thương gia nhận đủ số vàng, lòng vui khôn tả. Bác thấy cảnh nhà người nông dân nghèo nàn mà lại không có lòng tham, để tỏ lòng biết ơn, bác chia đôi số vàng gói vào một miếng vải đưa cho người nông dân. Bác nói:
  - Vàng của tôi tưởng đã mất, may sao lại gặp tấm lòng quý của bác. Tôi xin biếu bác một nửa để tỏ lòng thành thật biết ơn.
  Người nông dân ngạc nhiên:
  - Trả lại món vật không phải của mình chỉ là một việc bình thường, có ơn gì mà được đền?
  - Bác đã làm một điều thiện. Ðược đền ơn là đúng lẽ.
  - Làm việc thiện là nghĩa vụ tự nhiên. Đạo lý xưa nay vẫn dạy như vậy. Đó không phải là cái cớ để đòi hay nhận tiền thưởng. Cũng như lòng yêu dân tộc, yêu tổ quốc không phải là cái cớ để được trả công. Vàng của bác do công sức làm ra thì bác hưởng. Tôi có góp công lao gì vào đó mà chia phần? Thôi, xin bác hãy để tôi được sống yên vui trong cái nghèo của tôi hơn là sống giàu có nhờ vào của cải người khác. Như thế cũng là một cách ăn cắp.
   Người thương gia không còn lý lẽ gì để nói thêm bèn khoác hành lý lên vai, bất thần vất gói vải đựng nửa số vàng lên bàn rồi bỏ chạy. Ý định của ông ta là bắt buộc bác nông dân phải nhận sự đền ơn, nhưng bác vội nhặt gói vàng rồi đuổi theo, miệng hô hoán:
  - Bớ người ta, thằng ăn cắp! Bắt lấy thằng ăn cắp.
   Dân trong làng nghe tiếng hô hoán liền đuổi theo bắt được người thương gia dẫn trở lại trước mặt bác nông dân, hỏi:
  - Hắn đã ăn cắp vật gì của bác?
  - Hắn định ăn cắp cái tâm công chính và chân thật mà tôi có được từ ngày tôi học Phật!
  Những người làm việc công mà đòi trả ơn, làm việc thiện chỉ do tư lợi, làm việc nước cốt vì quyền hành địa vị... thảy đều không hiểu chuyện nầy!!

Nguồn Internet
(Không biết tên người kể chuyện.) 

  

Thứ Sáu, 10 tháng 1, 2014

BÓNG TRÚC QUÉT SÂN TRẦN CHẲNG ĐỘNG

                                                                        Bóng trúc quét sân trần chẳng động
                                                                        Vầng trăng xuyên biển nước không xao
                                                                                                         ST


Thứ Tư, 8 tháng 1, 2014

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TỐT NHẤT ĐÓ LÀ SỰ NGHÈO ĐÓI


                                                             Trường đại học tốt nhất đó là sự nghèo đói
    Câu chuyện về ý chí phấn đấu, vươn lên đầy hoài bão này đã thực sự lay động lòng người. Và hơn hết, đó còn là câu chuyện về đức hi sinh của người mẹ. Đã có rất nhiều website đăng tải lại câu chuyện cảm động mà tiến sĩ An Kim Bằng (Jinpeng An), người Trung Quốc, tốt nghiệp toán học tại Đại học Harvard, kể về người mẹ nghèo của mình.
   “Mẹ ít văn hoá, nhưng mẹ nhớ khi nhỏ được thầy giáo dạy là, Golgi có nói một câu: Nghèo đói là trường đại học tốt nhất. Nếu con có thể tốt nghiệp trường đại học này, thì những trường đại học như Thiên Tân, Bắc Kinh con chắc chắn đều đỗ…”.
   Ngày 5/9/1997, là ngày tôi rời gia đình đi nhập học ở Đại học Bắc Kinh, khoa Toán. Ngọn khói bếp dài cất lên từ trên nóc ngôi nhà nông dân cũ nát gia đình tôi. Người mẹ chân thập thễnh của tôi đang nấu mì sợi cho tôi, những bột mì này có được nhờ mẹ đổi năm quả trứng gà cho hàng xóm, chân mẹ bị thương vì mấy hôm trước, để thêm tí tiền cho tôi nhập học, mẹ đẩy một xe chất đầy rau từ thôn ra thị trấn, trên đường bị trật chân.
   Bưng bát mì, tôi đã khóc. Tôi buông đũa quỳ xuống đất, xoa nắn chỗ chân sưng phồng lên to hơn cả cái bánh bao của mẹ, nước mắt rơi xuống đất… Nhà tôi ở Thiên Tân, làng Đại Hữu Đới, huyện Vũ Thanh, tôi có một người mẹ tốt nhất thế gian tên là Lý Diệm Hà. Nhà tôi vô cùng nghèo khó.
   Khi tôi ra đời, bà nội ngã bệnh ngay trên giường sưởi, tôi bốn tuổi, ông nội lại mắc bệnh hẹp khí quản và bán thân bất toại, những món nợ trong nhà lớn dần theo năm. Khi bảy tuổi, tôi được đi học, học phí là mẹ vay người khác. Tôi thường đi nhặt những mẩu bút chì bạn bè vứt đi, dùng dây buộc nó lên một cái que rồi viết tiếp, hoặc dùng một cái dây chun xoá sạch những cuốn vở bài tập đã viết, rồi viết lại lên đó, mẹ thương tôi đến mức, cũng có lúc đi vay vài hào của hàng xóm để mua vở và bút chì cho tôi. Nhưng cũng có những khi mẹ vui vẻ, là khi bất kể bài kiểm tra nhỏ hay kỳ thi lớn, tôi luôn đứng đầu, toán thường được 100/100 điểm. Dưới sự khích lệ của mẹ, tôi càng học càng thấy ham thích. Tôi thực sự không hiểu trên đời còn có gì vui sướng hơn được học hành.
   Chưa đi học lớp một tôi đã thông thạo cộng trừ nhân chia và phân số, số phần trăm; khi học Tiểu học tôi đã tự học để nắm vững Toán Lý Hoá của bậc Trung học Phổ thông; Khi lên trung học, thành phố Thiên Tân tổ chức kỳ thi vật lý của bậc Trung học, tôi là đứa học trò nông thôn duy nhất của cả năm huyện ngoại thành Thiên Tân được giải, một trong ba người đỗ đầu. Tháng 6 năm đó, tôi được đặc cách vào thẳng trường Trung học số 1 danh tiếng của Thiên Tân, tôi vui sướng chạy như bay về nhà.
   Nào ngờ, khi tôi báo tin vui cho cả nhà, mặt bố mẹ chất chứa toàn những đau khổ; bà nội vừa mất nửa năm, ông nội đang gần kề cái chết, nhà tôi đã mắc nợ tới hơn mười nghìn Nhân dân tệ rồi. Tôi lặng lẽ quay về bàn học, nước mắt như mưa suốt một ngày. Đến tối, tôi nghe thấy ở ngoài nhà có tiếng ồn ào. Thì ra mẹ tôi đang định dắt con lừa con của nhà đi bán, cho tôi đi học, nhưng ba tôi không chịu. Tiếng ồn ào làm ông nội nghe thấy, ông đang bệnh nặng, trong lúc buồn bã ông đã lìa đời. Sau lễ an táng ông nội, nhà tôi lại mắc thêm vài nghìn tệ tiền nợ nữa.
   Tôi không còn dám nhắc đến việc đi học nữa, tôi cất “Giấy báo nhập học” thật kỹ vào vỏ gối, hàng ngày tôi ra đồng làm việc cùng mẹ. Sau hai hôm, tôi và ba tôi cùng lúc phát hiện ra: con lừa con biến mất rồi. Ba tôi sắt mặt lại, hỏi mẹ tôi:
  - Bà bán con lừa con rồi à? Bà bị thần kinh à? Sau này lấy gì kéo, lương thực hoa màu bà đẩy xe tay nhé, bà tự cõng nhé? Bà bán lừa một hai trăm bạc liệu cho nó học được một học kỳ hay là hai học kỳ?
   Hôm đó mẹ tôi khóc, mẹ tôi dùng một giọng rất dữ dội rất hung dữ để gào lại ba tôi:
   - Con cái mình đòi đi học thì có gì sai? Nó thi lên được trường số 1 của thành phố nó là đứa duy nhất của cả huyện này đấy, tôi không thể để cho tiền đồ của nó bị lỡ dở được. Tôi sẽ dùng tay đẩy, dùng lưng vác, để cho nó đi học…
   Cầm sáu trăm tệ mẹ vừa bán lừa, tôi thật sự chỉ muốn quỳ xuống dập đầu trước mẹ. Tôi đã thích được học quá rồi, mà còn học tiếp, thì mẹ sẽ khổ sở bao nhiêu, vất vả bươn chải thêm bao nhiêu? Mùa thu năm đó tôi quay về nhà lấy áo lạnh, thấy mặt ba tôi vàng như sáp, gầy da bọc xương đang nằm trên giường sưởi. Mẹ bình thản bảo: “Có gì đâu, bị cảm, sắp khỏi rồi”. Ai ngờ, hôm sau tôi xem vỏ lọ thuốc của ba, thì thấy đó là thuốc ngăn ngừa tế bào ung thư phát triển. Tôi kéo mẹ ra ngoài nhà, khóc hỏi mẹ mọi chuyện là thế nào, mẹ bảo, từ sau khi tôi đi học, ba bắt đầu đi ngoài ra máu, ngày càng nặng lên.
   Mẹ va sáu nghìn tệ đưa ba lên Thiên Tân, Bắc Kinh đi khắp nơi, cuối cùng xác định là u nhu ruột bowel polyps, bác sĩ yêu cầu ba phải mổ gấp. Mẹ chuẩn bị đi vay tiền tiếp, nhưng ba kiên quyết không cho. Ông nói, bạn bè họ hàng đã vay khắp lượt rồi, chỉ vay mà không trả thì còn ai muốn cho mình vay nữa!
  Hàng xóm kể với tôi: Mẹ dùng một phương pháp nguyên thuỷ và bi tráng nhất để gặt lúa mạch. Mẹ không đủ sức gánh lúa mạch ra sân kho để tuốt hạt, mẹ cũng không có tiền thuê người giúp, mẹ bèn gặt dần, lúa mạch chín chỗ nào gặt chỗ đó, sau đó dùng xe cải tiến chở về nhà, tối đến mẹ trải một tấm vải nhựa ra sân, dùng hai tay nắm từng nắm lúa mạch đập lên một hòn đá to…Lúa mạch trồng trên ba mẫu đất của nhà, một mình mẹ làm, mệt đến mức không đứng dậy nổi nữa thì mẹ ngồi xổm xuống cắt, đầu gối quỳ còn chảy máu, đi đường cứ cà nhắc…Không đợi hàng xóm kể hết, tôi chạy như bay về nhà, khóc to gọi mẹ: “Mẹ, mẹ, con không thể đi học nữa đâu…”.
    Kết quả, mẹ vẫn tống tôi lên trường. Tiền sinh hoạt phí mỗi tháng của tôi chỉ 60 đến 80 tệ, thật thảm hại nếu so với những người bạn học khác mỗi tháng có 200-240 tệ. Nhưng chỉ mình tôi biết, món tiền nhỏ này mẹ tôi cũng phải tằn tiện lắm, từ ngày đầu tháng đã dành từng hào từng hào, bán từng quả trứng gà, rau xanh lấy từng đồng từng đồng, có lúc dành dụm không đủ đã phải giật tạm vài đôi chục. Mà cha tôi, em trai tôi, dường như chẳng bao giờ có thức ăn, nếu nhà ăn rau cũng chẳng dám xào mỡ, chỉ chan tí nước dưa muối ăn qua bữa. Mẹ không muốn tôi đói, mỗi tháng mẹ chăm chỉ đi bộ hơn mười cây số mua mì tôm với giá bán buôn.
   Rồi mỗi cuối tháng, mẹ vất vả cõng một túi nặng lên Thiên Tân thăm tôi. Trong túi ấy ngoài những gói mì tôm ra, còn có nhiều xếp giấy loại mẹ phải đi bộ ra một xưởng in ngoài thị trấn cách nhà 6km để xin cho tôi (đó là giấy để tôi làm nháp toán), cả một chai tương cay rất to, cải bẹ muối thái sợi, và cả một cái tông đơ để cắt tóc. (Cắt tóc nam rẻ nhất Thiên Tân cũng phải 5 tệ, mẹ muốn tôi dành tiền cắt tóc để mua thêm lấy vài cái bánh bao mà ăn).
   Khi nói, mẹ không nhìn tôi, mẹ nhìn xa xăm ra con đường đất ngoài kia, như thể con đường ấy dẫn tới tận Thiên Tân, tới Bắc Kinh.
   Tôi là học sinh cấp 3 duy nhất của Thiên Tân đến cả rau ở bếp ăn nhà trường cũng không mua nổi, chỉ có thể mua vài cái bánh bao, mang về ký túc ăn cùng mì sợi khô hoặc chấm với tương ớt, kẹp dưa muối để ăn qua bữa. Tôi cũng là học sinh duy nhất không có giấy kiểm tra, chỉ có thể tận dụng giấy một mặt của xưởng in để viết bài. Tôi là đứa học sinh duy nhất chưa bao giờ dùng xà phòng, khi giặt quần áo tôi thường đi nhà bếp xin ít bột kiềm nấu ăn (alkali - chất kiềm, dùng để hấp bánh bao, làm bánh nướng, làm nước sôđa) là xong. Nhưng tôi chưa bao giờ tự ti, tôi cảm thấy mẹ tôi khổ cực cả đời, như người anh hùng chống lại đói khổ, làm con của người mẹ như thế tôi rất tự hào. Hồi mới lên Thiên Tân, tiết học tiếng Anh đầu tiên khiến tôi ù cạc. Khi mẹ lên, tôi kể cho mẹ nghe tôi sợ tiếng Anh thế nào, ai ngờ mẹ chỉ cười bảo: “Mẹ chỉ biết con là đứa trẻ con khổ cực nhất, mẹ không thích con kêu khó, vì chịu khổ được thì chả còn gì khó nữa".
   Tôi hơi bị nói lắp, có người bảo, học tiếng Anh đầu tiên cần làm chủ được cái lưỡi của mình, bởi vậy tôi thường kiếm một hòn sỏi ngậm vào miệng mình, rồi gắng đọc tiếng Anh. Hòn sỏi cọ xát vào lưỡi tôi, có lúc máu chảy ra bên mép, nhưng tôi cố gắng để kiên trì. Nửa năm trôi qua, hòn sỏi nhỏ đã bị mài tròn đi, lưỡi tôi cũng đã nhẵn, tiếng Anh đã thành người giỏi thứ 3 của lớp. Tôi vô cùng cảm ơn mẹ, lời mẹ khích lệ tôi vượt qua khó khăn lớn trong học tập. Năm 1996, lần đầu tiên tôi được tham gia cuộc thi Olympic tri thức toàn quốc khu vực Thiên Tân, đoạt giải Nhất môn Vật lý và giải Nhì môn Toán học, tôi được đại diện Thiên Tân đi Hàng Châu tham gia Cuộc thi Olympic toàn Trung quốc môn Vật lý. “Đoạt lấy chiếc Cup giải Nhất toàn Trung quốc tặng mẹ, rồi lên đường dự Olympic Vật lý Thế giới!”.
   Tôi không ngăn được nỗi khao khát trong lòng, tôi viết thư báo cho mẹ tin vui và mơ ước của tôi. Kết quả, tôi chỉ được giải Nhì, tôi nằm vật ra giường, không ăn không uống. Dù tôi là người đạt thành tích cao nhất trong đoàn Thiên Tân đi thi, nhưng nếu tính cả những khốn khổ của mẹ tôi vào, thì thành tích này không xứng đáng! Tôi về trường, các thầy ngồi phân tích nguyên nhân thất bại cho tôi thấy: Tôi những muốn phát triển toàn diện cả Toán Lý Hoá, những mục tiêu của tôi quá nhiều nên sức lực tinh thần tôi phải phân tán rộng.
   Nếu giờ tôi chỉ chọn một mục tiêu trước mắt là kỳ thi Toán, nhất định tôi thắng. Tháng 1 năm 1997, tôi cuối cùng đã giành chiến thắng tại kỳ thi Olympic Toán toàn Trung Quốc với điểm số tuyệt đối, lọt vào đội tuyển Quốc gia, cả mười kỳ thi kiểm tra ở đội tuyển tôi đều là người đứng đầu. Với thành tích đó, tôi được sang Argentina tham gia kỳ thi Olympic Toán quốc tế. Nộp xong phí báo danh, tôi gói những sách vở cần chuẩn bị và tương đậu cay của mẹ lại, chuẩn bị lên đường. Giáo viên chủ nhiệm và thầy giáo dạy Toán thấy tôi vẫn mặc bộ quần áo thải của người khác cho, những thứ áo quần màu sắc chả đâu vào đâu, kích cỡ khác nhau, bèn mở tủ áo của tôi ra, chỉ vào những áo trấn thủ vá, những áo bông tay đã phải nối hai lần, vạt đã phải chắp ba phân, hỏi tôi:
   “Kim Bằng, đây là tất cả quần áo của em ư?
   Tôi chả biết nói sao, vội đáp: “Thầy ơi, em không sợ người khác chê cười! Mẹ em thường bảo, Phúc Hữu Thi Thư Khí Tự Hoa - trong lòng có sách vở tất mặt mũi sáng sủa, em mặc những thứ đồ này đi Mỹ gặp tổng thống Clintơn em cũng chẳng thấy ngượng".
   Ngày 27/7, Olympic Toán học Thế giới lần thứ 38 chính thức khai mạc. Chúng tôi thi liên tục suốt năm tiếng rưỡi, từ 8 giờ 30 phút sáng tới 2h chiều. Ngày hôm sau công bố kết quả, đầu tiên công bố Huy chương Đồng, tôi không muốn nghe thấy tên mình; Sau đó công bố Huy chương Bạc, cuối cùng, công bố Huy chương Vàng, người đầu tiên, người thứ hai, người thứ ba là tôi. Tôi khóc lên vì sung sướng, trong lòng tự nói: “Mẹ ơi, con mẹ thành công rồi!
   Tin tôi và một người bạn nữa đoạt Huy chương Vàng kỳ thi Olympic Toán học ngay chiều hôm đó đã được Đài phát thanh Nhân dân Trung ương TQ và Đài truyền hình Trung ương TQ đưa. Ngày 1/8, chúng tôi vinh quang trở về, lễ đón long trọng được Hiệp hội khoa học Trung Quốc và Hội Toán học Trung Quốc tổ chức. Khi đó, tôi muốn về nhà, tôi muốn sớm gặp mẹ, tôi muốn chính tay tôi đeo tấm huy chương vàng chói lọi lên cổ mẹ… Hơn mười giờ đêm tối hôm đó, tôi cuối cùng đã đội trời đêm về đến nhà. Người mở cửa là ba tôi, nhưng người một tay ôm chặt lấy tôi vào ngực trước lại chính là mẹ tôi.
    Dưới trời sao vằng vặc, mẹ tôi ôm tôi rất chặt…
   Tôi lấy tấm huy chương vàng đeo lên cổ mẹ, khóc một cách nhẹ nhõm và sung sướng. Ngày 12/8, trường Trung học số Một của Thiên Tân chật ních người, mẹ được ngồi lên bàn Chủ tịch danh dự cùng với các quan chức Cục giáo dục Thiên Tân và các giáo sư toán học hàng đầu. Hôm đó, tôi đã phát biểu thế này:
   “Tôi muốn dùng cả sự sống của tôi để cảm tạ một người, là người mẹ đã sinh và nuôi nấng tôi. Mẹ tôi là một người phụ nữ nông dân bình thường, nhưng những đạo lý mẹ dạy tôi nên người đã khích lệ tôi cả đời. Năm tôi học lớp 10, tôi muốn mua cuốn sách “Đại từ điển Anh-Trung” để học tiếng Anh, mẹ tôi không có tiền, nhưng mẹ vẫn nghĩ cách giúp tôi. Sau bữa cơm sáng, mẹ tôi mượn một chiếc xe cải tiến, chất một xe rau cải trắng, hai mẹ con tôi đẩy ra chợ huyện cách hơn bốn mươi km bán rau. Đến được chợ đã gần trưa, buổi sáng đó tôi và mẹ chỉ ăn hai bát cháo ngô nấu với khoai lang đỏ, lúc đó bụng đói cồn cào, chỉ mong có ai tới mua cho cả xe rau ngay.
   Nhưng mẹ vẫn nhẫn nại mặc cả từng bó, cuối cùng bán với giá 1 hào một cân. Hai trăm cân rau đáng lẽ 21 tệ, nhưng người mua chỉ trả 20 tệ. Có tiền rồi tôi muốn ăn cơm, nhưng mẹ bảo nên đi mua sách trước, đó là việc chính của ngày hôm nay. Chúng tôi đến hiệu sách hỏi, giá sách là 8 tệ 2 hào 5 xu, mua sách rồi còn lại 1 tệ 7 hào 5 xu. Nhưng mẹ chỉ cho tôi 7 hào rưỡi đi mua hai cái bánh bột nướng, một tệ kia còn phải cất đi để dành cho tôi làm học phí. Tuy ăn hết hai cái bánh nướng, nhưng đi bộ tiếp 40km về nhà, tôi vẫn đói tới mức hoa mắt chóng mặt, lúc này tôi mới nhớ ra tôi đã quên không phần cho mẹ ăn một miếng bánh nướng nào, mẹ tôi chịu đói cả ngày, vì tôi mà kéo xe suốt 80km đường xa. Tôi hối hận tới mức chỉ muốn tát cho mình một cái, nhưng mẹ tôi chỉ bảo: “Mẹ ít văn hoá, nhưng mẹ nhớ khi nhỏ được thầy giáo dạy là, Golgi có nói một câu: Nghèo đói là trường đại học tốt nhất. Nếu con có thể tốt nghiệp trường đại học này, thì những trường đại học như Thiên Tân, Bắc Kinh con chắc chắn đều đỗ".
   Khi mẹ nói thế mẹ không nhìn tôi, mẹ nhìn ra con đường đất xa xôi, cứ như thể con đường đất đó có thể thông tới tận Thiên Tân, đi thẳng tới Bắc Kinh. Tôi nghe mẹ bảo thế, tôi không thấy đói nữa, chân tôi không mỏi nữa…Nếu nghèo đói là trường đại học tốt nhất, thì tôi muốn nói rằng, "người mẹ nông dân của tôi chính là người thầy giáo giỏi nhất của đời tôi".
   Dưới khán đài, không biết có bao nhiêu đôi mắt đã ướt đẫm, tôi quay về phía người mẹ tóc hoa râm của tôi, cúi người xuống kính cẩn…
                                                                                                        Nguồn Internet

 

Thứ Ba, 7 tháng 1, 2014

GANDHI NÓI VỀ ĐỨC PHẬT

                                                                       GANDHI NÓI VỀ ĐỨC PHẬT
     Mohandas Karamchand Gandhi
              [1869-1948]
     Thường được tôn kính là Mahatma tức đại hồn hoặc thánh Gandhi.
    “Những thế hệ tương lai sẽ khó tin rằng có một con người như thế đã từng bước đi trên trái đất này bằng thịt xương máu mủ” .
                                                          Albert Einstein
   Tôi không ngần ngại tuyên bố rằng tôi mắc nợ rất nhiều cho niềm hứng khởi mà tôi đã rút ra được từ đời sống của đấng Giác Ngộ. Quan niệm trí tuệ không làm tôi thỏa mãn… Ngài là một đức Phật cầu nguyện. Hãy nhìn xem những pho tượng về Ngài. Đạo Phật là một bài cầu nguyện dài.
   Theo ý tôi, lời dạy của đức Phật Gautama (Cồ Đàm) không phải là một tôn giáo mới. Trong chừng mực mà tôi có thể nghiên cứu những giáo huấn cao cả đó, tôi đã đi đến kết luận, và kết luận đó tôi đã đạt được trước đây rất lâu, rằng Cồ Đàm là một trong những nhà cải cách lớn nhất của đạo Hindu, và Ngài đã để lại cho nhân dân đương thời của Ngài và cho những thế hệ tương lai một dấu ấn không thể phai mờ của sự cải cách đó.
   Trong văn hóa Hindu, tôi xin mạn phép đưa ra, văn hóa Phật giáo thiết yếu được bao gồm trong đó, bởi lí do đơn giản rằng chính đức Phật là một người Ấn Độ, không chỉ là một người Ấn Độ, mà còn là một người theo đạo Hindu giữa những tín đồ Hindu. Tôi chưa bao giờ thấy bất cứ điều gì trong đời đức Cồ Đàm củng cố cho niềm tin rằng Ngài đã từ bỏ đạo Hindu và theo một tín ngưỡng mới.
   Ý kiến có suy nghĩ chín chắn của tôi là phần thiết yếu trong giáo lí của đức Phật ngày nay hình thành một phần trọn vẹn trong đạo Hindu. Nước Ấn Độ theo đạo Hindu bây giờ không thể đi lại những bước chân của mình và lùi lại sau cuộc cách mạng lớn mà đức Cồ Đàm đã thực hiện trong đạo Hindu. Bằng sự hi sinh bao la của Ngài, bằng sự từ bỏ vĩ đại của Ngài, và bằng sự tinh khiết không bợn nhơ của cuộc đời mình, Ngài đã để lại một dấu ấn không thể phai mờ trong đạo Hindu, và đạo Hindu mang một món nợ tri ân vĩnh hằng đối với bậc Đại Đạo Sư đó.
   Ý kiến đinh ninh của tôi là đạo Phật hoặc nói đúng hơn sự giáo huấn của đức Phật đã tìm thấy kết quả tròn đầy ở Ấn Độ. Ngài chan chứa những thứ tinh hoa trong đạo Hindu, và Ngài làm sống lại một số những giáo lý đã bị chôn vùi trong kinh Vệ đà (Veda), đã bị cỏ dại mọc khuất lấp. Tinh thần đạo Hindu vĩ đại của Ngài cắt xuyên qua rừng rậm từ ngữ, những từ ngữ vô nghĩa, đã che phủ chân lý vàng ròng vốn nằm trong kinh Vệ đà. Ngài làm cho một số những từ ngữ trong kinh Vệ đà mang lại một ý nghĩa mà những người cùng thời với Ngài đã hoàn toàn lãng quên và Ngài tìm được ở Ấn Độ mảnh đất phù hợp nhất. Và bất cứ nơi nào Ngài tới, Ngài đều được những người thuộc đạo Hindu, những người bản thân thấm nhuần giáo luật Vệ đà đi theo và bao quanh chứ không phải là những người không thuộc đạo Hindu.
   Những lời dạy của đức Phật, giống như tâm của Ngài, mở rộng khắp và ôm choàng lấy tất cả, vì vậy mà nó đã tồn tại sau thân xác của Ngài và lan khắp trên địa cầu… Đức Phật chẳng bao giờ từ bỏ đạo Hindu, mà Ngài mở rộng nền tảng của nó, Ngài ban cho nó một đời sống mới và một sự thông giải mới.
   Tôi đã nghe tranh chấp rất nhiều lần và tôi đã đọc trong những sách tự nhận là biểu lộ tinh thần của đạo Phật, rằng đức Phật không tin vào thượng đế. Trong ý kiến khiêm tốn của tôi, một niềm tin như thế mâu thuẫn với sự kiện quả là trung tâm giáo lý của đức Phật. Sự hoang mang đã dấy lên từ việc Ngài bác bỏ, và bác bỏ một cách chính đáng, những điều thấp hèn mà trong thế hệ của Ngài được thông qua dưới tên của thượng đế. Không hồ nghi gì, Ngài bác bỏ quan niệm rằng một hữu thể gọi là thượng đế có thể hoạt động bằng ác ý, có thể sám hối về hành vi của mình, cũng giống như các vua chúa trên trái đất có thể mở lòng ra với các cám dỗ, hối lộ và có thể có những ưa chuộng riêng.
   Những luật của thượng đế là vĩnh hằng, không thể biến cải và không thể tách lìa với tự thân thượng đế. Đó là điều kiện không thể thiếu cho chính sự toàn hảo của Ngài. Vì vậy mà có sự hoang mang lớn về việc đức Phật không tin vào thượng đế và chỉ tin vào luật đạo đức.
   Vì sự hoang mang về tự thân thượng đế này mà nảy sinh sự hoang mang về cách hiểu chính đáng từ ngữ lớn lao là niết bàn (Nirvana). Niết bàn, không hồ nghi gì, đó chẳng phải là sự hủy diệt hoàn toàn. Trong chừng mực tôi hiểu được sự kiện trung tâm về cuộc đời đức Phật, niết bàn là sự hủy diệt hoàn toàn tất cả những gì thấp hèn trong chúng ta, tất cả những gì xấu xa trong chúng ta, tất cả những gì hủ bại và có thể hủ bại trong chúng ta. Niết bàn không giống như cái hòa bình chết chóc đen ngòm của nấm mồ, mà là cái hòa bình sống động, cái hạnh phúc sống động của một linh hồn tự thức và ý thức được việc đã tìm được nơi an trú cho chính mình trong tâm của cái vĩnh hằng.
   Sự đóng góp của đức Phật cho loài người rất là lớn lao ở việc Ngài phục hồi thượng đế vào vị trí vĩnh hằng của Ngài. Nhưng theo ý kiến của tôi, đóng góp còn lớn lao hơn nữa của đức Phật cho loài người là việc Ngài yêu cầu coi trọng toàn thể đời sống, dù có thấp hèn đến đâu.  
   Toàn thể tâm linh Ngài bừng lên chống đối với tín ngưỡng cho rằng một hữu thể gọi là thượng đế đòi hỏi thỏa mãn bằng máu tươi của động vật để Ngài có thể hài lòng, những động vật do chính Ngài tạo ra.
   Điều duy nhất mà đức Phật phô bày cho Ấn Độ là thượng đế không phải là một thượng đế có thể xoa dịu bằng cách hiến tế những con vật vô tội. Ngược lại, Ngài chủ trương những kẻ nào hiến tế thú vật với hi vọng làm đẹp lòng thượng đế là mắc một tội kép.
   Tôi sẵn sàng tuyên bố chống lại toàn thể người dân nước Ấn Độ theo đạo Hindu, làm như thế là sai trái, là tội lỗi, là tội ác khi hi sinh một con vật duy nhất với mục đích kiếm được bất cứ mục tiêu gì, hoặc vì ý đồ chuộc tội với thượng đế.
    Quý vị sẽ thấy rằng khi đức Đạo Sư nói: “Ta không cấm quý vị ăn thịt”, Ngài đang giảng cho những người dân, nói theo thuật ngữ Kitô giáo, bị cứng lòng. Chính vì Ngài muốn tránh chạm đến sự yếu đuối của họ mà Ngài cho phép họ ăn thịt, chứ không phải vì Ngài không hiểu tính luận lý trong lời dạy của chính Ngài. Nếu như có một vị thầy nào trên thế giới tha thiết với quy luật nghiêm khắc về nhân và quả, thì đó là đức Cồ Đàm.
    Đức Cồ Đàm dạy thế gian đối xử bình đẳng ngay cả với những sinh linh thấp bé nhất như với chính mình. Ngài chủ trương đời sống của những sinh vật bò, bay, máy, cựa trên trái đất cũng quý giá như chính đời sống của Ngài. Thật là kiêu mạn khi nói rằng con người là chúa tể và là chủ nhân của các tạo vật thấp kém hơn. Ngược lại, được phú bẩm cho những điều lớn hơn trong đời sống, con người là kẻ được giao phó chăm lo cho thế giới động vật thấp kém hơn. Và vị hiền nhân vĩ đại đã sống với chân lí ấy trong chính cuộc đời của Ngài. Khi tôi còn thiếu niên, tôi có đọc một đoạn văn trong cuốn Light of Asia (Ánh sáng châu Á) [tác giả là Edwin Arnold, thi hóa đời sống đức Phật, năm 1879], mô tả việc đức Thầy khoác con chiên lên vai đối diện với những vị bà la môn ngạo mạn và ngu dốt cứ ngỡ rằng bằng cách hiến tế máu của những con chiên vô tội này là họ làm đẹp lòng thượng đế. Và đức Phật đã thách thức họ hiến tế duy nhất một người nào trong bọn họ. Chính sự hiện diện của Ngài làm mềm lòng những trái tim cứng như đá của đám người bà la môn. Họ nhìn lên đức Phật, họ liệng những con dao chết chóc của họ đi và mọi con vật kia được cứu thoát.
   Đức Phật nói, nếu quý vị muốn làm bất cứ hiến tế nào, thì hãy hiến tế chính bản thân mình, lòng tham dục của mình, tất cả những ham muốn vật chất, tất cả những ham muốn thế gian. Đó sẽ là một sự hiến tế làm ta trở thành cao quý.
   Đường lối của Ngài là chính đạo, chính ngữ, chính tư duy, và chính hạnh. Ngài cho chúng ta luật từ bi không bị hạ thấp. Và như Ngài xác định phạm vi của luật này, vượt khỏi loài người. Tấm lòng từ ái của Ngài vô hạn, đi tới cả những loài vật thấp hèn nhất, tới đời sống hèn mọn nhất cũng giống như tới loài người. Và Ngài nhấn mạnh về sự tịnh khiết của đời sống.
   Một điều khác mà đức Cồ Đàm dạy là tất cả giai cấp thế tục theo nghĩa vào thời Ngài hay theo nghĩa ngày hôm nay, là hoàn toàn sai trái. Tức là nói rằng, Ngài hủy bỏ mọi sự phân biệt về thượng đẳng và hạ đẳng đã ăn sâu vào ruột gan của đạo Hindu. Nhưng Ngài không hủy bỏ Varnashramadharma [quy luật cư xử của người theo đạo Hindu, tuỳ theo địa vị lúc sinh ra đời, trong đó varna tức sắc tướng; ashrama tức giai đoạn trong đời hay; và dharma tức đạo pháp, cả từ này có nghĩa là đạo pháp cư xử theo trật tự xã hội lý tưởng] - Varna dharma không phải là giai cấp thế tục, gọi tắt là thế cấp. Tôi chủ trương rằng không có gì chung giữa thế cấp và Varna. Trong khi Varna đem lại đời sống thì thế cấp hủy diệt nó và tiện dân (paria) tức những kẻ không ai được đụng chạm tới (untouchable) là biểu hiện đáng khinh thường nhất của thế cấp. Vì vậy, các bạn phải trục xuất ý nghĩ không được chạm tới này khỏi chung quanh bạn. Tôi mong mỏi các bạn sẽ đi đúng những bước này để công bố rằng mọi người đều tuyệt đối bình đẳng với tất cả những người còn lại. Bạn đang chối bỏ đạo Phật, bạn đang chối bỏ nhân tính, chừng nào bạn còn coi một người độc nhất là một người không thể chạm tới.  
    Tôi xin mạn phép đề nghị với các bạn là việc học hỏi của các bạn về đạo Phật còn chưa trọn vẹn trừ khi các bạn học hỏi những nguồn gốc nguyên thủy mà đức Thầy đã rút ra hứng khởi, tức là, trừ khi bạn học chữ Sanskrit  và các kinh điển viết bằng chữ Sanskrit. Nhưng bổn phận của các bạn, nếu các bạn muốn hiểu tinh thần của đức Phật chứ không phải con chữ của đạo Phật, không chấm dứt ở đó. Sự học hỏi đó có những điều kiện mà tôi xin mô tả cho các bạn. Những điều kiện đó là một người đàn ông hoặc một người đàn bà tiếp cận việc học hỏi một tôn giáo thì việc đầu tiên là phải tuân thủ năm giới răn (yama). Đó là năm quy luật tự kiềm chế tôi xin nhắc lại: thứ nhất là brahmacharya, sự tịnh khiết; thứ hai là satya, sự thật; thứ ba là ahimsa, tuyệt đối vô hại, không làm thương tổn đến cả một con ruồi; điều kiện kế tiếp là asteya, không trộm cắp, không phải chỉ hiểu theo nghĩa thông thường, mà ngay cả khi bạn chiếm hữu hoặc đưa con mắt tham lam lên bất cứ thứ gì không phải của riêng mình, thì điều đó cũng trở thành trộm cắp. Cuối cùng là aparigraha tức là không muốn chiếm hữu sự giàu sang thế gian hoặc những thứ khác; một người muốn như thế không thực sự thích nghi để hiểu tinh thần của đức Phật.
    Không cần thiết cho tôi việc giải thích về một người dân đã cảm hứng với tinh thần đời sống đức Phật, rằng cuộc sống không phải là một chùm sự hưởng lạc, mà là một chùm bổn phận. Điểm tách biệt con người khỏi loài thú thiết yếu là ở việc con người nhìn nhận sự cần thiết phải đặt ra một chuỗi những giới răn cho việc hưởng thụ thế gian.
   Chớ bị hoa mắt bởi sự huy hoàng đến với các bạn từ phương Tây. Đừng bị ngã ngửa vì màn phô bày phù du này. Đấng Giác Ngộ đã nói với các bạn bằng những lời không bao giờ có thể quên được, rằng tuổi thọ của đời này chỉ là một cái bóng thoáng qua, một thứ chóng tàn, và nếu bạn có thể nhận thức được tính chất hư vô của tất cả những gì xuất hiện trước mắt bạn, thì tính không của trường hợp vật chất mà bạn thấy phía trước chúng ta luôn luôn là vô thường. Khi đó sẽ có những kho báu cho bạn ở bên trên, và hòa bình cho bạn ở dưới này, hòa bình vượt khỏi mọi hiểu biết và hạnh phúc mà chúng ta là những kẻ hoàn toàn xa lạ. Nó cần một niềm tin rất đỗi ngạc nhiên, một niềm tin thiêng liêng, và sự buông bỏ tất cả những thứ chúng ta thấy phía trước chúng ta.
   Những gì đức Phật đã làm, đức Kitô đã làm, và cả đức Mahomed đã làm? Đời họ là những cuộc đời hi sinh tự thân và buông bỏ. Đức Phật đã buông bỏ mọi hạnh phúc thế tục vì Ngài muốn san sẻ với toàn thế giới niềm hạnh phúc của Ngài, cũng là của những ai hi sinh và chịu đựng để kiếm tìm chân lý.
   Nếu một điều tốt là leo lên đỉnh núi Himalaya hi sinh những cuộc sống quý giá để có thể lên đến đó và làm một số điều tuân thủ nhỏ nhoi, nếu một điều vinh quang là từ bỏ kiếp này đến kiếp khác để cắm một ngọn cờ trên những đỉnh xa nhất của trái đất, thì còn vinh quang đến đâu nếu cho không phải là một cuộc đời, buông bỏ không phải một triệu cuộc đời mà là một tỉ cuộc đời để đi tìm kiếm chân lý có hiệu lực và không thể hư hoại? Vậy, đừng bị nghiêng ngả, đừng bị cuốn xa khỏi sự đơn sơ của tổ tiên các bạn. Một thời đang tới khi những ai đang điên cuồng rượt đuổi ngày hôm nay để nhân lên gấp bội các ham muốn của họ, suy nghĩ một cách vô bổ rằng họ làm tăng thêm bản chất có thật, hiểu biết có thật về thế giới, rồi sẽ lui bước và nói rằng chúng ta đã làm chi vậy? Các nền văn minh đã đến rồi đi và mặc dù tất cả sự tiến bộ được khoa trương của chúng ta, tôi muốn xin lập lại nhiều lần câu hỏi: “Với mục đích gì?”
   Những người làm tốt khi có đức Phật là đạo sư sẽ làm tốt để thăm dò những khả tính vô giới hạn của sự bất bạo động (ahimsa). Nó vô cùng lớn lao so với những châu ngọc và hột xoàn mà người ta hết sức quý báu. Nếu bạn sử dụng sự bất bạo động một cách khôn ngoan, nó có thể trở thành sự cứu giúp chính bạn và cứu giúp loài người.
   Bất bạo động là một sức mạnh vô cùng năng động khi được hiểu và sử dụng đúng đắn. Hoạt động của một con người bạo động thì nhìn rõ nhất, trong lúc nó thể hiện. Nhưng nó luôn luôn là thoáng qua, cũng thoáng qua như những sự chém giết của Thành Cát Tư Hãn. Nhưng những hiệu quả của hành động bất bạo động của đức Phật còn lại mãi và hẳn là sẽ tăng trưởng cùng với thời gian. Hành động bất bạo động càng được thực hành thì càng mang lại hiệu quả và càng không thể cạn kiệt; rốt cuộc cả thế giới sẽ đứng sững sờ và la lên: “một phép mầu đã xảy ra.”
   Châu Á có một thông điệp cho toàn thế giới, chỉ cần sống đúng với thông điệp đó. Có dấu ấn của ảnh hưởng Phật giáo trên toàn thể châu Á, bao gồm Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Miến Điện, Sri Lanka, và các nước Mã Lai. Để châu Á không phải hiện hữu chỉ cho châu Á mà cho toàn thế giới, thì châu Á cần phải học lại thông điệp của đức Phật và trao truyền thông điệp ấy cho toàn thế giới.
                                   The Way of the Buddha(Con đường của đức Phật)
                              Cục Xuất bản, Bộ Thông tin và Truyền bá, Chính phủ Ấn Độ
                                                                       Nguyễn Tiến Văn dịch