Ý NGHĨA BẢY BƯỚC SEN
Hằng năm, cứ mỗi độ mùa Phật đản về – thì khắp
nơi khắp chốn – ở đâu – hình ảnh đức Phật hiện hữu, ngự trị – ở đó không khí
càng vui tươi, nhộn nhịp. Đó là tất cả những người con Phật hân hoan đón mừng
ngày Phật đản. Kỷ niệm Phật đản là tưởng nhớ, ôn lại và tri ân về sự ra đời vĩ
đại của đức Phật.
Nguyện vọng của tất cả chúng sinh là “muốn hạnh
phúc, tránh đau khổ”. Sự mong mỏi hay xu hướng đến hạnh phúc và tránh đau khổ
không hề có giới hạn. Đó là một sự kiện rất tự nhiên, và cũng rất chánh đáng.
Sự hiện hữu đức Thích-ca-mâu-ni Thế Tôn trên quả đất này cách đây hai của mươi
lăm thế kỷ – quả thật – cũng không ngoài mục đích đó của vạn loại chúng sinh.
Là đệ tử của đức Phật, chắc hẳn ai trong chúng
ta cũng đã hơn một lần được nghe sự giảng bày ý nghĩa về hình tượng bảy bước
hoa sen. Bảy bước ấy là những bước chân trên con đường hạnh phúc, đưa đến hạnh
phúc mỹ mãn, bất tận.
Trong không khí trang nghiêm và thành kính cùng
muôn vạn trái tim người con Phật – xin cùng chia sẻ với nhau, nhân mùa Phật
đản, các ý nghĩa đã từng được nghe từ các bậc Thầy về những hình ảnh trong
khung cảnh mà đức Từ phụ đản sinh – qua đó, chúng ta sẽ có thể hiểu được điều
gì, giúp chúng ta trong đời sống nhằm có thêm phẩm chất hạnh phúc trong cuộc
tồn sinh tương quan này.
Kinh Ưu Bà Di Pháp Môn Tịnh Hạnh – phẩm Thuỵ Ứng
kể rằng: “Sau khi mang thai đấng Đại thánh – gần đến ngày mãn nguyệt khai hoa,
hoàng hậu Ma-gia theo phong tục trở về quê hương để sinh nở. Trên đường về,
nghỉ chân ở một công viên xinh đẹp gọi là vườn Lâm-tỳ-ni, hoàng hậu khoan thai
dạo bước trong vườn hưởng một bầu không khí trong lành, khỏe khoắn sau chặng
đường dài mệt nhọc. Đến dưới một gốc Vô ưu, nhìn đoá Ưu-đàm ngàn năm một lần
khoe sắc đưa hương – bất giác – hoàng hậu Ma-gia giơ cánh tay phải lên hái hoa
– liền đó từ phía hông hữu – đức Phật đản sinh – nhẹ nhàng đi bảy bước trên bảy
hoa sen, mỗi bước nhìn mỗi phương: 1, thị Đông phương giả, vị chư chúng sinh
tác đạo sư cố; 2, thị Nam phương, vị chư chúng sinh tác lương phước điền cố; 3,
thị Tây phương giả, ngã sinh dĩ tận thị tối hậu thân cố; 4, thị Bắc phương giả,
ư nhất thiết chúng sinh, ngã đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu-tam-bồ-đề cố; 5, thị Hạ
phương giả, vị dục phá ma binh chủng linh kì thời tận cố; 6, thị Thượng phương
giả, vị chư thiên nhân chi sở quy y cố; 7. Đến bước cuối cùng, một tay chỉ lên
trời, một tay chỉ xuống đất và tuyên bố rằng: 'Thiên thượng thiên hạ duy ngã
độc tôn'. Nói xong, chư thiên dâng hai dòng nước nóng lạnh tắm cho Ngài. Và
Ngài trở lại như mọi đứa trẻ bình thường”.
Hình ảnh đức Phật đản sinh và bảy bước hoa sen
ấy là một biểu tượng rất ý nghĩa mà nhà Đại thừa mô tả sự đản sinh của đức
Phật. Sự xuất hiện của một vị Phật – hay nói một cách rõ hơn, một chúng sinh từ
thân phận phàm phu, muốn đạt đến quả vị Phật, phải trải qua lộ trình bảy bước
hoa sen ấy.
* Bước thứ nhất, nhìn về phương Đông, Ngài nói:
"Thị Đông phương giả, vị chư chúng sinh tác đạo sư cố" (nhìn về
phương Đông, vì các chúng sinh làm người dẫn đường tối thượng). Phương Đông là
phương mặt trời mọc. Mặt trời biểu hiện cho ánh sáng của trí tuệ, của sự hiểu
biết lớn. Đó là bao gồm toàn bộ hành trình hình thành một tri thức, xây dựng
một Phàm tuệ đến Thánh tuệ. Thế nào là Phàm tuệ? Đó là ta phải có một tri thức,
rồi từ đó, bằng sự suy tư chính chắn biết được như thế nào là một lẽ sống hay, đẹp
ở cuộc đời – một trí tuệ ở địa vị phàm phu, chúng sinh. Nhưng là một con người
khác với con người thác loạn của chúng ta trước đây. Người xưa đã từng nói,
phải là một con người cho trọn trước khi thành một vị Phật. Đạo Phật chỉ dạy
hai điều cốt yếu là từ bi và trí tuệ. Nói nôm na là sự hiểu biết và thương yêu.
Sự hiểu biết đích thực là sự hiểu biết theo những chân lý Phật dạy. Khi ấy, sự
hiểu biết chính là thương yêu, và ngược lại. Trí tuệ chính là Từ bi, Từ Bi
chính là Trí Tuệ.
Có câu: “Có hiểu mới thương được”. Tình yêu
thương, ở đời, mấy ai sống mà không cần. Tình thương của thường tình không mấy
khi không đượm thắm tánh chất vị kỷ. Đó là một thứ tình thương thiết tha mong
muốn được (người kia) nhận ra rồi đòi hỏi được đáp lại. Và chỉ cho riêng mình –
Nó, thật ra, chỉ làm khổ cho nhau thì nhiều hơn. Đến như những kẻ tỏ ra bất cần
đời thì đó cũng là biểu hiện của một tình thương vị kỷ tột đỉnh mà bị phủ nhận
hoặc không được đáp ứng. Cho nên, "sự thương yêu" là một thứ gì mà
không thể thiếu của đời sống. Nó bàng bạc trong khắp các mối quan hệ giữa vợ
chồng, cha con, bè bạn, xóm giềng, thân thích. Trong cuộc sống tương quan tương
duyên này – nếu ai cũng hành xử cứng nhắc với đơn thuần trong bổn phận và trách
nhiệm không thôi, mà không xuất phát từ một tấm lòng thương mến thật sự – thì
cuộc sống này sẽ đơn điệu lắm, không sắc màu, và chẳng có nhịp cầu giao cảm nào
được bắc nối cho tình người ấm cúng. Ta dễ dàng thấy rằng, ngoài bổn phận và
trách nhiệm, tình cha mẹ thương con cái là một tình cảm thiên phú, rất tự
nhiên. Cũng chính tình cảm ấy mới khơi dậy, phát sinh tấm lòng hiếu thảo của
con trẻ, dù là đứa ngỗ nghịch nhất. Cũng chính từ sự thành thật mà mối thiện
cảm bè bạn thêm thắt chặt. Sự quan tâm thật lòng với bà con xóm giềng thân
thuộc của nhau mới làm cho tình người ngày thêm gắn bó keo sơn. Và để nuôi
dưỡng tình thương ấy cho dài lâu và đúng nghĩa mang lại an lạc cho nhau, thì
chất liệu duy nhất và đầu tiên phải là sự hiểu biết. Nếu hiểu chưa rõ ràng,
thấu đạt – chúng ta sẽ dễ dàng có những lời nói, cử chỉ vụng về mà nó càng làm
khổ cho nhau thôi. Và để có thái độ sáng suốt để sống yêu thương – ta phải học
hỏi, phải hiểu biết. Hiểu biết những gì? Là Phật tử, ta phải hiểu rõ giáo lý,
những phương thức sống đức Phật đã dạy – Mà không gì căn để và quan trọng hơn
là giáo lý Nhân quả. "Phàm làm việc gì, trước phải nghĩ đến hậu quả của
nó". Chúng ta, theo đó để nhận xét rõ về những hành vi thế nào là ác, là
thiện để chọn lựa thực hiện. Vậy như thế nào là thiện? Phật dạy: một ý nghĩ,
lời nói hay hành động nào đem lại lợi ích an lạc cho mình, an lạc cho người, an
lạc cả hai, an lạc cho tất cả, trong hiện tại cho đến cả tương lai – đó gọi là
thiện; và ngược lại. Như thế, một khi ta bắt đầu sống theo đó, tức là ta đã đi
thêm một bước nữa theo chân đức Phật.
* Bước thứ hai, nhìn về phương Nam, Kinh nói
rằng: "Thị Nam phương giả, vị chư chúng sinh tác lương phước điền cố"
(Nhìn về phương Nam, vì các chúng sinh làm ruộng phước tốt).
Theo lời Phật dạy để sống là chúng ta bắt đầu
tạo phước đức cho mình – nghĩa là chúng ta bắt đầu tu tập, bắt đầu chuyển
nghiệp, hình thành thiện nghiệp. Điều đó có nghĩa là sự quy y vậy.
Yếu tố trở thành một Phật tử là sự quy y – nghĩa
là quay lại mà nương tựa, mà sống theo Tam bảo – trong tâm thức có sự xoay
chiều, đổi hướng. Đó là một quyết định quan trọng và lợi ích cho đời mình. Từ
đây, ta từ bỏ chiều sống mê mờ, thác loạn hay làm khổ cho nhau, bằng thân (đánh
đập...), bằng lời (nói cay nghiệt, đâm thọc, xốc nhọn hai đầu...), bằng ý (xảo
quyệt, ác độc) mà thay vào đó bằng chiều sống giác ngộ – biết ý thức về nhân
quả nghiệp báo, biết suy xét trước hậu quả của việc mình làm để tạo an vui cho
nhau. Nên khi quy y tức là rạch đôi đời mình ra – vừa kết thúc sự sống luân
hồi, khổ đau; vừa mở đầu sự sống giải thoát, hạnh phúc.
Mở đầu sự sống giải thoát, hạnh phúc – ta phải
quay về nương tựa những yếu tố mang phẩm tính giải thoát, hạnh phúc – đó là Tam
bảo – Phật, Pháp, Tăng. Phật là đấng đã giác ngộ, giải thoát và thuyết minh
giáo lý, sự thật. Tăng là đoàn thể những người thực hành và hoằng truyền những
giáo lý giải thoát ấy. Pháp là nội dung giáo lý. Như thế gọi là Tam bảo. Bảo là
quý. Tam bảo là ba sự quý báu trên thế gian. Bởi lẽ chúng ta dễ dàng thấy rõ
rằng, vàng bạc, tiền của không hẳn là yếu tố quyết định sự bình an hạnh phúc,
mặc dù nó có khả năng góp phần hạnh phúc. Nhưng đôi khi nó đem lại sự chia rẽ,
hạân thù, giết chóc, gây khổ đau cho nhau. Chỉ có những phương thức sống vui,
sự bình an trong tâm hồn mới đưa đến niềm hạnh phúc chân thực và vững bền hơn.
"Không có hạnh phúc nào lớn hơn bằng sự yên tĩnh của tâm hồn". Cho
nên, ta có thể định nghĩa một cách nôm na rằng, Phật giáo là một cách làm cho
đời sống có ý nghĩa . Sự quy y hay học Phật Pháp cũng như sự nghe Pháp của
chúng ta hôm nay – điều tiên yếu và căn trọng nhất mà người Phật tử chúng ta
cần có là Chánh kiến để nhận chân đâu là lẽ sống đúng, tốt, đẹp mà mình phải
theo. Và mình tự phát nguyện làm theo. Đó chính là sự phát nguyện lãnh thọ và
hành trì năm giới – hay nói cách khác là năm nhân cách làm người thiện lành
trong nhân loại. Vì như trước đã nói, phải là một con người trọn vẹn trước khi
thành Phật (năm điều nên giữ để hoàn thiện nhân cách).
– Nhân cách thứ nhất: Ý thức rằng, thân mạng là
vốn quý nhất. Vì vậy con nguyện bảo vệ thân mạng của mình một cách cẩn thận.
Không tự phá hoại nó bằng những thứ có độc tố. Con nguyện làm người lương
thiện, bằng cách lấy lý trí để hóa giải khổ đau, lấy từ tâm để yêu thương tất
cả. Con nguyện không giết hại, cũng không tán thành sự giết hại. Không gây
chiến tranh, cũng không tán thành chiến tranh.
– Nhân cách thứ hai: Ý thức rằng, sống là phải
có vật cung ứng cho sự sống. Con nguyện tạo ra nguồn sống để nuôi thân bằng bàn
tay, khối óc, và con tim của mình. Con nguyện không trộm cắp, cũng không tán
thành sự trộm cắp dưới mọi hình thức. Con nguyện thực hiện lương thiện bằng
cách lấy trí tuệ và phước đức ra làm lợi người, nhằm lành mạnh hóa thế gian, để
đem đến hạnh phúc cho cuộc sống tương duyên này.
– Nhân cách thứ ba: Ý thức rằng, mưu cầu hạnh
phúc lứa đôi là điều mà những người sắp trưởng thành trong thế gian đều mong
ước. Con nguyện bảo vệ hạnh phúc lứa đôi, không sinh tâm ngoại tình, lang chạ
nhằm bảo vệ hạnh phúc cho gia đình, thanh bình cho xã hội và an toàn cho giống
nòi. Con nguyện làm người lương thiện, không gây khổ đau cho cuộc sống, cũng không
tán thành những hành vi đem đến khổ đau cho mọi lứa đôi và mọi gia đình.
– Nhân cách thứ tư: Ý thức rằng, lời nói có thể
đem đến hạnh phúc hay khổ đau. Con nguyện không nói những lời cộc cằn, thô lỗ,
tục tĩu, mỉa mai, gây chia rẽ, hận thù, mất đoàn kết. Con nguyện không nói sai
sự thật, trừ lúc vị tha. Con nguyện không loan truyền, cũng không phê phán
những gì con không biết rõ. Con ý thức rằng, ngôn ngữ là tài sản chung của mọi
người, nên nguyện dùng lời hay ý đẹp để đi vào cuộc sống. Nguyện thực tập hạnh
ái ngữ, dùng lời nói nhẹ nhàng, êm ái, thân thương, xây dựng, đoàn kết và hòa
hợp; nhằm hóa giải những nội kết do hiểu lầm nhau. Con nguyện thực hiện chánh
ngữ, nhằm làm trong sáng ngôn từ, lành mạnh hóa xã hội, bảo vệ tiếng nói tốt
đẹp cho giống nòi.
– Nhân cách thứ năm: Ý thức rằng, Trí tuệ là
ngọn đuốc soi đường đến chân, thiện, mỹ. Con nguyện luôn luôn giữ gìn sự định
tĩnh và trong sáng của tâm hồn. Nguyện không sử dụng ma túy, và những độc tố
tác hại thân tâm như rượu, thuốc lá, kể cả những sản phẩm có pha chế hóa chất
gây ra ung thư và bệnh tật. Con nguyện không sử dụng những sản phẩm độc hại tâm
hồn như phim ảnh, sách báo, băng từ có nội dung không lành mạnh cho thân tâm,
gây chiến tranh, bạo động đưa đến hận thù. Nguyện chỉ tiêu thụ những sản phẩm
bổ ích cho thân tâm, nhằm bảo vệ sức khỏe cho bản thân, an vui cho gia đình,
lành mạnh hóa giống nòi, thanh bình cho cuộc sống.
Đó là năm nhân cách căn bản mà mỗi một chúng ta
phải học tập và thực hành. Được vậy, loài người mới có cơ duyên tồn tại lâu dài
trên trái đất này.
Như thế, nói về ý nghĩa phương Nam – tức là
ruộng phước điền của chúng sinh - phương Nam là phương không có ánh nắng gay
gắt như phương Đông, cũng không ảm đạm như phương Bắc – phương Nam là phương
ánh sáng êm dịu và mát mẻ – dụ cho sự dứt ác làm lành của chúng ta. Chúng ta
chuyên suy nghĩ, nói năng và làm việc lợi lạc cho chúng sinh, đó là tự tạo
ruộng phước cho mình – tự mình mát mẻ, thanh thản mà mọi người xung quanh cũng
bằng lòng, hòa lạc. Đây là giai đoạn của chúng ta, những người Phật tử bắt đầu
quy hướng Tam bảo và tập tu hành phước thiện.
Nhưng lộ trình tìm kiếm một hạnh phúc vững bền,
chắc thật không phải dừng lại ở đó – mà bước tiếp bước nữa. Cố nhiên là để có
bước sau thì tất yếu phải có bước trước.
.jpg)











