Thứ Sáu, 9 tháng 5, 2014

KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN


Ý NGHĨA BẢY BƯỚC SEN 
   Hằng năm, cứ mỗi độ mùa Phật đản về – thì khắp nơi khắp chốn – ở đâu – hình ảnh đức Phật hiện hữu, ngự trị – ở đó không khí càng vui tươi, nhộn nhịp.   Đó là tất cả những người con Phật hân hoan đón mừng ngày Phật đản. Kỷ niệm Phật đản là tưởng nhớ, ôn lại và tri ân về sự ra đời vĩ đại của đức Phật.
  Nguyện vọng của tất cả chúng sinh là “muốn hạnh phúc, tránh đau khổ”. Sự mong mỏi hay xu hướng đến hạnh phúc và tránh đau khổ không hề có giới hạn. Đó là một sự kiện rất tự nhiên, và cũng rất chánh đáng. Sự hiện hữu đức Thích-ca-mâu-ni Thế Tôn trên quả đất này cách đây hai của mươi lăm thế kỷ – quả thật – cũng không ngoài mục đích đó của vạn loại chúng sinh.
  Là đệ tử của đức Phật, chắc hẳn ai trong chúng ta cũng đã hơn một lần được nghe sự giảng bày ý nghĩa về hình tượng bảy bước hoa sen. Bảy bước ấy là những bước chân trên con đường hạnh phúc, đưa đến hạnh phúc mỹ mãn, bất tận.
  Trong không khí trang nghiêm và thành kính cùng muôn vạn trái tim người con Phật – xin cùng chia sẻ với nhau, nhân mùa Phật đản, các ý nghĩa đã từng được nghe từ các bậc Thầy về những hình ảnh trong khung cảnh mà đức Từ phụ đản sinh – qua đó, chúng ta sẽ có thể hiểu được điều gì, giúp chúng ta trong đời sống nhằm có thêm phẩm chất hạnh phúc trong cuộc tồn sinh tương quan này.
  Kinh Ưu Bà Di Pháp Môn Tịnh Hạnh – phẩm Thuỵ Ứng kể rằng: “Sau khi mang thai đấng Đại thánh – gần đến ngày mãn nguyệt khai hoa, hoàng hậu Ma-gia theo phong tục trở về quê hương để sinh nở. Trên đường về, nghỉ chân ở một công viên xinh đẹp gọi là vườn Lâm-tỳ-ni, hoàng hậu khoan thai dạo bước trong vườn hưởng một bầu không khí trong lành, khỏe khoắn sau chặng đường dài mệt nhọc. Đến dưới một gốc Vô ưu, nhìn đoá Ưu-đàm ngàn năm một lần khoe sắc đưa hương – bất giác – hoàng hậu Ma-gia giơ cánh tay phải lên hái hoa – liền đó từ phía hông hữu – đức Phật đản sinh – nhẹ nhàng đi bảy bước trên bảy hoa sen, mỗi bước nhìn mỗi phương: 1, thị Đông phương giả, vị chư chúng sinh tác đạo sư cố; 2, thị Nam phương, vị chư chúng sinh tác lương phước điền cố; 3, thị Tây phương giả, ngã sinh dĩ tận thị tối hậu thân cố; 4, thị Bắc phương giả, ư nhất thiết chúng sinh, ngã đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu-tam-bồ-đề cố; 5, thị Hạ phương giả, vị dục phá ma binh chủng linh kì thời tận cố; 6, thị Thượng phương giả, vị chư thiên nhân chi sở quy y cố; 7. Đến bước cuối cùng, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất và tuyên bố rằng: 'Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn'. Nói xong, chư thiên dâng hai dòng nước nóng lạnh tắm cho Ngài. Và Ngài trở lại như mọi đứa trẻ bình thường”.
  Hình ảnh đức Phật đản sinh và bảy bước hoa sen ấy là một biểu tượng rất ý nghĩa mà nhà Đại thừa mô tả sự đản sinh của đức Phật. Sự xuất hiện của một vị Phật – hay nói một cách rõ hơn, một chúng sinh từ thân phận phàm phu, muốn đạt đến quả vị Phật, phải trải qua lộ trình bảy bước hoa sen ấy.
  * Bước thứ nhất, nhìn về phương Đông, Ngài nói: "Thị Đông phương giả, vị chư chúng sinh tác đạo sư cố" (nhìn về phương Đông, vì các chúng sinh làm người dẫn đường tối thượng). Phương Đông là phương mặt trời mọc. Mặt trời biểu hiện cho ánh sáng của trí tuệ, của sự hiểu biết lớn. Đó là bao gồm toàn bộ hành trình hình thành một tri thức, xây dựng một Phàm tuệ đến Thánh tuệ. Thế nào là Phàm tuệ? Đó là ta phải có một tri thức, rồi từ đó, bằng sự suy tư chính chắn biết được như thế nào là một lẽ sống hay, đẹp ở cuộc đời – một trí tuệ ở địa vị phàm phu, chúng sinh. Nhưng là một con người khác với con người thác loạn của chúng ta trước đây. Người xưa đã từng nói, phải là một con người cho trọn trước khi thành một vị Phật. Đạo Phật chỉ dạy hai điều cốt yếu là từ bi và trí tuệ. Nói nôm na là sự hiểu biết và thương yêu. Sự hiểu biết đích thực là sự hiểu biết theo những chân lý Phật dạy. Khi ấy, sự hiểu biết chính là thương yêu, và ngược lại. Trí tuệ chính là Từ bi, Từ Bi chính là Trí Tuệ.
   Có câu: “Có hiểu mới thương được”. Tình yêu thương, ở đời, mấy ai sống mà không cần. Tình thương của thường tình không mấy khi không đượm thắm tánh chất vị kỷ. Đó là một thứ tình thương thiết tha mong muốn được (người kia) nhận ra rồi đòi hỏi được đáp lại. Và chỉ cho riêng mình – Nó, thật ra, chỉ làm khổ cho nhau thì nhiều hơn. Đến như những kẻ tỏ ra bất cần đời thì đó cũng là biểu hiện của một tình thương vị kỷ tột đỉnh mà bị phủ nhận hoặc không được đáp ứng. Cho nên, "sự thương yêu" là một thứ gì mà không thể thiếu của đời sống. Nó bàng bạc trong khắp các mối quan hệ giữa vợ chồng, cha con, bè bạn, xóm giềng, thân thích. Trong cuộc sống tương quan tương duyên này – nếu ai cũng hành xử cứng nhắc với đơn thuần trong bổn phận và trách nhiệm không thôi, mà không xuất phát từ một tấm lòng thương mến thật sự – thì cuộc sống này sẽ đơn điệu lắm, không sắc màu, và chẳng có nhịp cầu giao cảm nào được bắc nối cho tình người ấm cúng. Ta dễ dàng thấy rằng, ngoài bổn phận và trách nhiệm, tình cha mẹ thương con cái là một tình cảm thiên phú, rất tự nhiên. Cũng chính tình cảm ấy mới khơi dậy, phát sinh tấm lòng hiếu thảo của con trẻ, dù là đứa ngỗ nghịch nhất. Cũng chính từ sự thành thật mà mối thiện cảm bè bạn thêm thắt chặt. Sự quan tâm thật lòng với bà con xóm giềng thân thuộc của nhau mới làm cho tình người ngày thêm gắn bó keo sơn. Và để nuôi dưỡng tình thương ấy cho dài lâu và đúng nghĩa mang lại an lạc cho nhau, thì chất liệu duy nhất và đầu tiên phải là sự hiểu biết. Nếu hiểu chưa rõ ràng, thấu đạt – chúng ta sẽ dễ dàng có những lời nói, cử chỉ vụng về mà nó càng làm khổ cho nhau thôi. Và để có thái độ sáng suốt để sống yêu thương – ta phải học hỏi, phải hiểu biết. Hiểu biết những gì? Là Phật tử, ta phải hiểu rõ giáo lý, những phương thức sống đức Phật đã dạy – Mà không gì căn để và quan trọng hơn là giáo lý Nhân quả. "Phàm làm việc gì, trước phải nghĩ đến hậu quả của nó". Chúng ta, theo đó để nhận xét rõ về những hành vi thế nào là ác, là thiện để chọn lựa thực hiện. Vậy như thế nào là thiện? Phật dạy: một ý nghĩ, lời nói hay hành động nào đem lại lợi ích an lạc cho mình, an lạc cho người, an lạc cả hai, an lạc cho tất cả, trong hiện tại cho đến cả tương lai – đó gọi là thiện; và ngược lại. Như thế, một khi ta bắt đầu sống theo đó, tức là ta đã đi thêm một bước nữa theo chân đức Phật.
   * Bước thứ hai, nhìn về phương Nam, Kinh nói rằng: "Thị Nam phương giả, vị chư chúng sinh tác lương phước điền cố" (Nhìn về phương Nam, vì các chúng sinh làm ruộng phước tốt).
Theo lời Phật dạy để sống là chúng ta bắt đầu tạo phước đức cho mình – nghĩa là chúng ta bắt đầu tu tập, bắt đầu chuyển nghiệp, hình thành thiện nghiệp. Điều đó có nghĩa là sự quy y vậy.
  Yếu tố trở thành một Phật tử là sự quy y – nghĩa là quay lại mà nương tựa, mà sống theo Tam bảo – trong tâm thức có sự xoay chiều, đổi hướng. Đó là một quyết định quan trọng và lợi ích cho đời mình. Từ đây, ta từ bỏ chiều sống mê mờ, thác loạn hay làm khổ cho nhau, bằng thân (đánh đập...), bằng lời (nói cay nghiệt, đâm thọc, xốc nhọn hai đầu...), bằng ý (xảo quyệt, ác độc) mà thay vào đó bằng chiều sống giác ngộ – biết ý thức về nhân quả nghiệp báo, biết suy xét trước hậu quả của việc mình làm để tạo an vui cho nhau. Nên khi quy y tức là rạch đôi đời mình ra – vừa kết thúc sự sống luân hồi, khổ đau; vừa mở đầu sự sống giải thoát, hạnh phúc.
  Mở đầu sự sống giải thoát, hạnh phúc – ta phải quay về nương tựa những yếu tố mang phẩm tính giải thoát, hạnh phúc – đó là Tam bảo – Phật, Pháp, Tăng. Phật là đấng đã giác ngộ, giải thoát và thuyết minh giáo lý, sự thật. Tăng là đoàn thể những người thực hành và hoằng truyền những giáo lý giải thoát ấy. Pháp là nội dung giáo lý. Như thế gọi là Tam bảo. Bảo là quý. Tam bảo là ba sự quý báu trên thế gian. Bởi lẽ chúng ta dễ dàng thấy rõ rằng, vàng bạc, tiền của không hẳn là yếu tố quyết định sự bình an hạnh phúc, mặc dù nó có khả năng góp phần hạnh phúc. Nhưng đôi khi nó đem lại sự chia rẽ, hạân thù, giết chóc, gây khổ đau cho nhau. Chỉ có những phương thức sống vui, sự bình an trong tâm hồn mới đưa đến niềm hạnh phúc chân thực và vững bền hơn. "Không có hạnh phúc nào lớn hơn bằng sự yên tĩnh của tâm hồn". Cho nên, ta có thể định nghĩa một cách nôm na rằng, Phật giáo là một cách làm cho đời sống có ý nghĩa . Sự quy y hay học Phật Pháp cũng như sự nghe Pháp của chúng ta hôm nay – điều tiên yếu và căn trọng nhất mà người Phật tử chúng ta cần có là Chánh kiến để nhận chân đâu là lẽ sống đúng, tốt, đẹp mà mình phải theo. Và mình tự phát nguyện làm theo. Đó chính là sự phát nguyện lãnh thọ và hành trì năm giới – hay nói cách khác là năm nhân cách làm người thiện lành trong nhân loại. Vì như trước đã nói, phải là một con người trọn vẹn trước khi thành Phật (năm điều nên giữ để hoàn thiện nhân cách).
– Nhân cách thứ nhất: Ý thức rằng, thân mạng là vốn quý nhất. Vì vậy con nguyện bảo vệ thân mạng của mình một cách cẩn thận. Không tự phá hoại nó bằng những thứ có độc tố. Con nguyện làm người lương thiện, bằng cách lấy lý trí để hóa giải khổ đau, lấy từ tâm để yêu thương tất cả. Con nguyện không giết hại, cũng không tán thành sự giết hại. Không gây chiến tranh, cũng không tán thành chiến tranh.
– Nhân cách thứ hai: Ý thức rằng, sống là phải có vật cung ứng cho sự sống. Con nguyện tạo ra nguồn sống để nuôi thân bằng bàn tay, khối óc, và con tim của mình. Con nguyện không trộm cắp, cũng không tán thành sự trộm cắp dưới mọi hình thức. Con nguyện thực hiện lương thiện bằng cách lấy trí tuệ và phước đức ra làm lợi người, nhằm lành mạnh hóa thế gian, để đem đến hạnh phúc cho cuộc sống tương duyên này.
– Nhân cách thứ ba: Ý thức rằng, mưu cầu hạnh phúc lứa đôi là điều mà những người sắp trưởng thành trong thế gian đều mong ước. Con nguyện bảo vệ hạnh phúc lứa đôi, không sinh tâm ngoại tình, lang chạ nhằm bảo vệ hạnh phúc cho gia đình, thanh bình cho xã hội và an toàn cho giống nòi. Con nguyện làm người lương thiện, không gây khổ đau cho cuộc sống, cũng không tán thành những hành vi đem đến khổ đau cho mọi lứa đôi và mọi gia đình.
– Nhân cách thứ tư: Ý thức rằng, lời nói có thể đem đến hạnh phúc hay khổ đau. Con nguyện không nói những lời cộc cằn, thô lỗ, tục tĩu, mỉa mai, gây chia rẽ, hận thù, mất đoàn kết. Con nguyện không nói sai sự thật, trừ lúc vị tha. Con nguyện không loan truyền, cũng không phê phán những gì con không biết rõ. Con ý thức rằng, ngôn ngữ là tài sản chung của mọi người, nên nguyện dùng lời hay ý đẹp để đi vào cuộc sống. Nguyện thực tập hạnh ái ngữ, dùng lời nói nhẹ nhàng, êm ái, thân thương, xây dựng, đoàn kết và hòa hợp; nhằm hóa giải những nội kết do hiểu lầm nhau. Con nguyện thực hiện chánh ngữ, nhằm làm trong sáng ngôn từ, lành mạnh hóa xã hội, bảo vệ tiếng nói tốt đẹp cho giống nòi.
– Nhân cách thứ năm: Ý thức rằng, Trí tuệ là ngọn đuốc soi đường đến chân, thiện, mỹ. Con nguyện luôn luôn giữ gìn sự định tĩnh và trong sáng của tâm hồn. Nguyện không sử dụng ma túy, và những độc tố tác hại thân tâm như rượu, thuốc lá, kể cả những sản phẩm có pha chế hóa chất gây ra ung thư và bệnh tật. Con nguyện không sử dụng những sản phẩm độc hại tâm hồn như phim ảnh, sách báo, băng từ có nội dung không lành mạnh cho thân tâm, gây chiến tranh, bạo động đưa đến hận thù. Nguyện chỉ tiêu thụ những sản phẩm bổ ích cho thân tâm, nhằm bảo vệ sức khỏe cho bản thân, an vui cho gia đình, lành mạnh hóa giống nòi, thanh bình cho cuộc sống.
  Đó là năm nhân cách căn bản mà mỗi một chúng ta phải học tập và thực hành. Được vậy, loài người mới có cơ duyên tồn tại lâu dài trên trái đất này.
Như thế, nói về ý nghĩa phương Nam – tức là ruộng phước điền của chúng sinh - phương Nam là phương không có ánh nắng gay gắt như phương Đông, cũng không ảm đạm như phương Bắc – phương Nam là phương ánh sáng êm dịu và mát mẻ – dụ cho sự dứt ác làm lành của chúng ta. Chúng ta chuyên suy nghĩ, nói năng và làm việc lợi lạc cho chúng sinh, đó là tự tạo ruộng phước cho mình – tự mình mát mẻ, thanh thản mà mọi người xung quanh cũng bằng lòng, hòa lạc. Đây là giai đoạn của chúng ta, những người Phật tử bắt đầu quy hướng Tam bảo và tập tu hành phước thiện.
Nhưng lộ trình tìm kiếm một hạnh phúc vững bền, chắc thật không phải dừng lại ở đó – mà bước tiếp bước nữa. Cố nhiên là để có bước sau thì tất yếu phải có bước trước.
 

Thứ Năm, 8 tháng 5, 2014

TÔI Ở ĐÂU?


   Thiền sư Vô Căn có lần nhập định ba ngày, bị mọi người cho là đã chết, liền đem thân thể Sư thiêu hóa. Qua mấy hôm, thần thức của thiền sư Vô Căn xuất định, lại tìm không ra thân của mình. Đại chúng toàn chùa thường nghe tiếng nói một mình bi thảm của Sư:
  - Ta? Ta ở đâu?
Nhất là về đêm, tiếng tìm kiếm thân thể của thiền sư Vô Căn càng thêm bi thiết, náo động khiến mọi người đều rất bất an. Có một hôm, bạn của thiền sư Vô Căn là thiền sư Diệu Không biết được việc này, bèn bảo đại chúng trong chùa rằng:
  - Tối nay, tôi muốn ở lại phòng của thiền sư Vô Căn. Lúc Sư đến, tôi muốn đàng hoàng nói chuyện với Sư ấy. Xin các ông chuẩn bị giùm tôi một bồn lửa, và một thùng nước. tôi muốn để ông ta hiểu rõ cái gì là “ta”.
    Giữa khuya, thiền sư Vô Căn đến, rất bi thương kêu lên:
  - Tôi ư? Tôi đến đâu rồi?
Thiền sư Diệu Không rất điềm tĩnh đáp:
  - Ông ở trong bùn đất.
Thiền sư Vô Căn chui vào trong đất bùn, tìm Đông tìm Tây, tìm rất lâu, nhưng chưa tìm được, rất bi thương nói:
   - Trong đất không có ta!
Thiền sư Diệu Không nói:
   - Đó có thể ở trong hư không, ông vào trong hư không tìm xem!
Thiền sư Vô Căn vào không trung tìm rất lâu, nhưng vẫn thê thiết nói:
  - Hư không cũng không có ta! Ta rốt cuộc ở đâu?
Thiền sư Diệu Không chỉ vào thùng nước nói:
  - Đại khái ở trong đây chăng?
Thiền sư Vô Căn tự tại nhào vào thùng nước. Không bao lâu, lại chui ra đau khổ nói:
   -Tôi ở đâu? Trong nước cũng không có!
Thiền sư Diệu Không chỉ vào trong bồn lửa nói:
  - Ông ở trong lửa!
 Thiền sư Vô Căn vào lửa nhưng vẫn không tìm ra.
 Lúc đó thiền sư Diệu Không mới thật tình bảo thiền sư Vô Căn rằng:
 - Ông có thể vào đất, xuống nước, cũng có thể vào lò lửa hừng hực, lại có thể tự do tự tại ra vào hư không, ông lại còn đi đòi thân thể nhơ nhớp kia, cái vỏ màu mè nơi nào cũng chẳng tự do làm cái gì?
 Thiền sư Vô Căn nghe xong, bừng tỉnh. Từ đây không ồn ào tìm “ngã” nữa.
Trích Tinh hoa văn hóa phương đông-thiền thoại

Thứ Ba, 6 tháng 5, 2014

PHẦN QUAN TRỌNG NHẤT TRÊN CƠ THỂ


  Mẹ tôi đã ra một câu đố: "Con yêu, phần nào là quan trọng nhất trên cơ thể hả con?"
   Ngày nhỏ, tôi đã nói với mẹ rằng âm thanh là quan trọng đối với con người nên tai là bộ phận quan trọng nhất. Mẹ lắc đầu: "không phải đâu con. Có rất nhiều người trên thế giới này không nghe được đâu, con yêu ạ. Con tiếp tục suy nghĩ về câu đố đó đi nhé, sau này mẹ sẽ hỏi lại con."
  Vài năm sau, tôi đã nói với mẹ rằng hình ảnh là quan trọng nhất, vì thế đôi mắt là bộ phận mà mẹ muốn đố tôi. Mẹ lại nhìn tôi âu yếm nói: "Con đã học được nhiều điều rồi đấy, nhưng câu trả lời của con chưa đúng bởi vi vẫn còn nhiều người trên thế gian này chẳng nhìn thấy gì."
  Đã bao lần tôi muốn mẹ nói ra đáp án, và vì thế tôi toàn đoán lung tung. Mẹ chỉ trả lời tôi: "Không đúng. Nhưng con đang tiến bộ rất nhanh, con yêu của mẹ."
Rồi đến năm 1991, bà nội yêu quý của tôi qua đời. Mọi người đều khóc vì thương nhớ bà. Một mình tôi đã vừa đạp xe vừa khóc trên suốt chặng đường 26 km từ thị xã về quê trong đêm mưa rào ngày 4/5 âm lịch của năm đó. Tôi đạp thật nhanh về bệnh viện huyện để mong được gặp bà lần cuối. Nhưng tôi đến nơi thì đã muộn mất rồi. 
  Tôi đã thấy bố tôi gục đầu vào vai mẹ tôi và khóc. Lần đầu tiên tôi thấy bố khóc như tôi.
  Lúc liệm bà xong, mẹ đến cạnh tôi thì thầm: "Con đã tìm ra câu trả lời chưa?"    Tôi như bị sốc khi thấy mẹ đem chuyện đó ra hỏi tôi lúc này. Tôi chỉ nghĩ đó là một trò chơi giữa hai mẹ con thôi.
  Nhìn vẻ sững sờ trên khuôn mặt tôi, mẹ liền bảo cho tôi đáp án: "Con trai ạ, phần quan trọng nhất trên cơ thể con chính là cái vai."
  Tôi hỏi lại: "Có phải vì nó đỡ cái đầu con không hả mẹ?" 
Mẹ lắc đầu: "Không phải thế, bởi vì đó là nơi người thân của con có thể dựa vào khi họ khóc. Mỗi người đều cần có một cái vai để nương tựa trong cuộc sống. Mẹ chỉ mong con có nhiều bạn bè và nhận được nhiều tình thương để mỗi khi con khóc lại có một cái vai cho con có thể ngả đầu vào."  Từ lúc đó, tôi hiểu rằng phần quan trọng nhất của con người không phải là "phần ích kỷ", mà là phần biết cảm thông với nỗi đau của người khác'
                                                          Trích email của phuvuive@....


Thứ Hai, 5 tháng 5, 2014

CÁM ƠN



Ngày càng thêm nhiều người gia nhập tu viện, và vì thế cần phải xây dựng một ngôi nhà lớn hơn. Một thương gia viết tấm séc một triệu đôla và trao cho Thầy. Thầy cầm và nói: “Được. Tôi nhận”. 
Người thương gia lộ rõ vẻ bất mãn. Một triệu đôla là một món tiền lớn, song Thầy chẳng buồn nói một lời cám ơn! 
“Đó là tấm séc một triệu đôla, thưa Thầy!” 
“Vâng, tôi biết.” 
“Dù tôi là người giàu có, song một triệu đôla vẫn không phải là một món tiền nhỏ đối với tôi, thưa Thầy!” 
“Anh muốn tôi cám ơn anh à?” 
“Lẽ ra phải thế.” 
“Sao tôi phải cám ơn nhỉ? Chính người cho mới phải biết ơn chứ!” Thầy nói.
                                                                   Anthony de Mello, S.J.

Thứ Bảy, 3 tháng 5, 2014

ĐẠO PHẬT VÀ MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA R.TAGORE


           Bài viết phân tích sự ngưỡng mộ bộc lộ mạnh mẽ trong cả cuộc đời lẫn tác phẩm của Tagore đối với tầm vĩ đại của Đức Phật và văn hoá Phật giáo. Những bài ca, bài thơ, vở kịch của ông thường mang âm hưởng ca ngợi những giá trị vĩnh cửu về đạo đức và tính nhân văn của Đạo Phật cho đến nay vẫn chưa có ai có thể so sánh nổi tại Ấn Độ. Lòng yêu mến và sự quan tâm sâu sắc của Tagore đối với sự phục hưng của văn hoá Đạo Phật tại Ấn Độ cũng có thể coi như một lời tuyên bố của ông đối với tôn giáo này.
  Nhiều nhà nghiên cứu coi Tagore như người đã giương cao ngọn đuốc của Đạo Phật và mang cảm hứng mới về sự kết hợp hài hoà giữa thông điệp của Đạo Phật về sự bác ái, từ bi hỉ xả với những nguyên tắc của đức vua Asoka. Nhưng trong khi những thông điệp của Asoka và Đức Phật ít khi vượt ra ngoài biên giới của Ấn Độ khi họ còn sống thì Tagore đã đi vòng quanh thế giới với thông điệp về tình yêu và sự thân thiện hoà bình. Vì thế, bài viết cố gắng làm rõ phần nào sự đóng góp của tư tưởng Phật giáo đối với việc hình thành tư tưởng của Tagore và tác phẩm của ông.
  Nội dung
  R. Tagore sinh trưởng trong một gia đình có tư tưởng tự do. Ông nội của Tagore là ông hoàng Dwarkanath Tagore đã từng đi Anh để xem xét và nghiên cứu những vấn đề xã hội trong giai đoạn đó. Ông hoàng cũng là một người bạn của Raja Ram Mohan Roy. Cha ông, Maharsi Devendranath Tagore, đã rời bỏ những tục lệ chính thống của Hindu giáo và chấp nhận tôn giáo của những người Brahmo dựa trên giáo lý Upanishads. Các anh trai của Tagore như Satyendranath và Jyotirindranath Tagore đều là những nhà cải cách xã hội nổi tiếng. Đương nhiên là Tagore đã hấp thụ những tư tưởng tự do này và phát triển tầm nhìn rộng rãi của mình về thế giới bên ngoài.
  Trong suốt hai thập kỷ cuối thế kỷ XIX, R. Tagore đã lôi cuốn các học giả của Ấn Độ vào những cuộc tranh luận nhằm chứng tỏ sự vô nghĩa của những lễ nghi và tập tục trong xã hội Hindu giáo. Pandit Shashadhar Tarkachuramani và Shri Chandranath Basu là những người nổi tiếng nhất trong các học giả này. Họ cố gắng chứng minh rằng mọi tập tục xã hội và tôn giáo của đạo Hindu đều dựa trên những nền tảng khoa học cơ bản nhất của sự hiểu biết trong tác phẩm cổ đạiRishis. Nếu như có bất cứ phát minh khoa học nào mới tại phương Tây thì họ lại vội chứng minh rằng những người Hindu đã biết điều đó từ rất lâu rồi. Tagore đã cay đắng châm biếm sự trống rỗng cũng như thói không khoan dung của nhân dân mình qua tác phẩm của ông.
  1. Nền tảng tư tưởng của Tagore
  Tagore sinh ra trong một thời kỳ có ít nhất là ba phong trào chính trị xã hội đã đưa lại cho xã hội Ấn Độ những trào lưu và khuynh hướng mới. Một trong ba phong trào đó là phong trào mang tính tôn giáo với những tư tưởng cấp tiến do Raja Ram Mohun Roy đứng đầu. Phong trào thứ hai là phong trào mang tính văn học do Bankim Chandra Chatterjee khởi xướng và phong trào thứ ba là phong trào mang tính chất chính trị xã hội của rất nhiều những người mong muốn đi tìm tiếng nói cá nhân của mình.
  Trong ba phong trào đó, phong trào thứ nhất đã ảnh hưởng đến tư tưởng của Tagore nhiều nhất. Mục đích của nó là đem lại một cuộc cách mạng về văn hoá và xã hội mới. Phương tiện của nó chính là Brahmo Samaj, trong đó, cha của Tagore, ông Maharashi Devendranath, chính là một thành viên. Chính ông đã lãnh đạo phong trào này trong nhiều thập kỷ. Đây là một cuộc cách mạng của những con người là những nhà khoa học, những trí thức mới kết hợp với truyền thống tinh hoa của Hindu giáo. Trong trường hợp của Tagore thì cần phải kể thêm đến những ảnh hưởng của Đạo Phật, Đạo Thiên Chúa và những tư tưởng cấp tiến của châu Âu mà ông nhận được. ở đây, chúng tôi chỉ xin chú ý đến Đạo Phật.
2. Bản chất tôn giáo theo quan điểm của Tagore
  Tagore nói: “ Theo khí chất của riêng tôi, tôi không thể nào chấp nhận một cách thụ động bất kỳ một sự giảng dạy về tôn giáo nào chỉ dựa trên lý lẽ rằng tất cả những người quanh tôi tin rằng nó là đúng”. Ông cũng nhận xét: “ Chúng ta nên nhớ rằng tôn giáo và các tổ chức tôn giáo khác nhau như lửa và tàn tro. Khi tôn giáo phải tìm đường đi qua các tổ chức tôn giáo thì cũng giống như dòng sông bị tắc nghẽn bởi các đụn cát chắn ngang, dòng chảy bị nghẽn lại và chẳng mấy chốc chỉ còn là sa mạc[1]. Ông còn nói: “Trong các tôn giáo chính thống, tất cả các câu hỏi đều được trả lời, tất cả sự hoài nghi phải tìm ra sự cứu rỗi. Nhưng tôn giáo của một nhà thơ thì khác, nó giống như bầu khí quyển bao quanh quả Đất nơi ánh sáng và bóng tối chơi trò đuổi bắt...Nó không bao giờ dẫn bất kỳ ai tới bất kỳ đâu vĩnh cửu hay tới bất kỳ một kết luận tuyệt đối chắc chắn nào. Nó hé mở cho người ta những vầng sáng không bao giờ cạn kiệt và không có một bức tường nào có thể bao quanh nó hoàn toàn[2]. Qua những điều mà ông bày tỏ, chúng ta có thể thấy rằng Tagore có những quan điểm của riêng mình về vấn đề tôn giáo.
Tôn giáo không phải là sự ẩn dật
  Theo Tagore, tôn giáo không phải là cách để người ta lẩn trốn khỏi thế giới đời thường. Ông viết: “Một số người coi mục đích của tôn giáo là đi tìm một nơi mà người ta có thể thở ra một hơi thư giãn, tránh khỏi những bổn phận của cuộc sống. Đó chính là những thầy tu khổ hạnh. Điều đó thật là xa lạ đối với tôi[3].
Tagore không đả kích các thầy tu khổ hạnh, ông chỉ không tin rằng sự giải thoát có thể xảy ra với chính ông thông qua sự hành xác và hy sinh quên mình. “Sự giải thoát không đến với tôi dưới hình ảnh của sự hy sinh quên mình. Tôi cảm thấy vòng ôm của tự do trong hàng ngàn tia sáng... Không, tôi không bao giờ đóng chặt những cảm giác của mình. Niềm vui sướng tột cùng của việc ngắm nhìn, lắng nghe hay động chạm sẽ đem đến cho bạn niềm vui sống[4]. Đối với Tagore, con người cần phải thu được và cảm thấy sức thu hút của mọi vật và điều này chỉ có thể xảy ra khi anh ta hiến dâng toàn bộ sức lực của mình cho những bổn phận và trách nhiệm đối với thế giới này.
  Chính vì vậy mà đối với Tagore, tôn giáo cũng giống như thứ tình cảm khi người ta nhớ nhà. Người sùng đạo đang trên con đường thiêng liêng trở về ngôi nhà vĩnh cửu của mình, giống như bầy sếu nhớ nhà bay ngày bay đêm để trở về nơi quê hương yêu dấu.  Trong GitanjaliThơ Dâng, Tagore đã viết với tất cả sự nhiệt tình:
  “Không còn phải trôi từ bến này sang bến khác với chiếc thuyền tôi nay đã bão vùi gió dập...
  Giờ đây, tôi đang háo hức để chết trong sự bất tử”...

Thứ Năm, 1 tháng 5, 2014

XÔN XAO TRONG CÕI TA BÀ

                                                                               Xôn xao trong cõi ta bà 
                                                   Thịnh suy vinh nhục chỉ là sắc không
                                                                                                                     Sưu tầm   
        


Thứ Ba, 29 tháng 4, 2014

NHÌN VÀO CHÍNH MÌNH


    Năm 16 tuổi, Einstein thích chơi cùng những đứa trẻ ham chơi, không thích học hành. Vì thế mà việc học hành của cậu ngày càng kém, thậm chí còn phải thi lại.
    Một buổi sáng chủ nhật, Einstein chuẩn bị cầm cần câu đi câu với đám trẻ đó thì bị bố ngăn lại và nói:
...
  - Con trai, suốt ngày con chỉ biết ham chơi, vẫn còn vài môn phải thi lại. Bố mẹ rất lo cho tương lai của con.
Einstein thản nhiên đáp lại bố:
  - Chẳng có gì đáng lo cả. Bố thấy đấy, bọn nó cũng phải thi lại, chẳng phải vẫn suốt ngày đi chơi đó sao?
  Bố ân cần nói với Einstein:
  - Con trai, con không được nghĩ như thế. Bố kể cho con nghe 1 câu chuyện ngụ ngôn nhé. Có 2 chú mèo nhỏ chơi đùa cạnh ống khói. Vì không cẩn thận nên cả hai đều rơi xuống ống khói, khó khăn lắm mới bò ra ngoài được. Hai chú mèo nhìn nhau, 1 chú mèo nhem nhuốc bụi khói, còn chú mèo kia thì lại rất sạch sẽ. Chú mèo mặt sạch sẽ nhìn chú mèo mặt dính đầy bụi khói tưởng rằng mặt mình cũng bẩn nên vội vàng chạy đi rửa mặt. Còn chú mèo mặt dính đầy bụi kia tưởng mình cũng sạch nên chạy đến chỗ khác chơi. Những con vật khác nhìn thấy đều bỏ chạy tán loạn, tưởng rằng nhìn thấy yêu quái. Con trai, chúng ta không nên coi người khác là chiếc gương của mình, chỉ có mình mới là chiếc gương của chính mình mà thôi.
   Sau khi nghe bố kể câu chuyện, Einstein xấu hổ đặt cần câu xuống, quay về phòng đọc sách.
                                                                            (st)


Thứ Hai, 28 tháng 4, 2014

BUÔNG TAY - NẮNG MƯA


    Một cô nàng lên núi gặp nhà sư. Cô nói:
– Thưa Thầy, con muốn buông vài thứ mà không thể.
   Nhà sư đưa cô gái cầm 1 cái cốc rồi liên tục rót nước sôi vào đó....
   Khi nước nóng đầy cốc, tràn cả ra tay, cô gái thả ngay cốc nước xuống.
   Nhà sư từ tốn :
– Đau rồi tự khắc sẽ buông.
  Vấn đề là, buông rồi thì tay vẫn đau và vết bỏng vấn lên sẹo.
  Vậy tại sao con cứ phải chờ tổn thương thật sâu rồi mới buông?
  Bạn có thể có tình yêu nhưng đừng nên quá lệ thuộc và dính mắc vào nó vì hội ngộ và chia ly là bản chất, là lẽ tất nhiên của đời sống.
   Khi vui, bạn nên nghĩ rằng niềm vui này không miên viễn trường tồn.
   Khi đau khổ, bạn nên tự nhủ rằng nỗi đau này cũng không còn mãi.
  Giữa các phạm trù đối lập như được mất, buồn vui, bạn luôn tự nhắc mình như thế thì sẽ sống thanh thản giữa ” hai miền mưa nắng ” cuộc đời.

                                                                         Trích email của anh Alex041138@...

Chủ Nhật, 27 tháng 4, 2014

CÁT VÀ ĐÁ



    Có hai người bạn đang dạo bước trên sa mạc. Trong chuyến đi dài, hai người nói chuyện với nhau và đã có một cuộc tranh cãi gay gắt.
    Không giữ được bình tĩnh, một người đã tát người bạn của mình. Người kia rất đau nhưng không nói gì. Anh chỉ lặng lẽ viết lên cát rằng: "Hôm nay, bạn tốt nhất của tôi đã tát vào mặt tôi."
    Họ tiếp tục bước đi cho tới khi nhìn thấy một ốc đảo, nơi họ quyết định sẽ dừng chân và tắm mát.
    Người bạn vừa bị tát do sơ ý bị trượt chân xuống một bãi lầy và ngày càng lún sâu xuống. Nhưng người bạn kia đã kịp thời cứu anh.
    Ngay sau khi hồi phục, người bạn suýt chết đuối khắc lên tảng đá dòng chữ: "Hôm nay, bạn tốt nhất của tôi đã cứu sống tôi."
    Người bạn kia hết sức ngạc nhiên bèn hỏi: "Tại sao khi tớ làm cậu đau, cậu lại viết lên cát còn bây giờ lại là một tảng đá?"
    Và câu trả lời anh nhận được là: "Khi ai đó làm chúng ta đau đớn, chúng ta nên viết điều đó lên cát nơi những cơn gió của sự thứ tha sẽ xóa tan những nỗi trách hờn.
    Nhưng "Khi chúng ta nhận được điều tốt đẹp từ người khác, chúng ta phải ghi khắc chuyện ấy lên đá nơi không cơn gió nào có thể cuốn bay đi."
   Hãy học cách viết những nỗi đau lên cát và khắc tạc những niềm vui ,hạnh phúc bạn tận hưởng trong cuộc đời lên tảng đá để mãi không phai.

                                                                               Sưu tầm

Thứ Sáu, 25 tháng 4, 2014

MỘT HÌNH ẢNH THỰC CỦA CHÂN LÝ VÔ THUỞNG



Dưới đây là bản ghi lại cuộc nói chuyện của Bác sĩ Richard Teo (1972-2012), một triệu phú 40 tuổi, là một bác sĩ giải phẩu thẩm mỹ, bị ung thư phổi thời kỳ 4 đến chia sẻ với khóa nha D1 về kinh nghiệm sống của mình vào ngày 19/1/2012. Anh qua đời vào ngày 18/10/2012.
  Chào tất cả các em. Giọng tôi hơi bị khàn một chút, mong các em chịu khó nghẹ.  Tôi xin tự giới thiêu, tôi tên là Richard và là một bác sĩ.  Tôi sẽ chia sẻ vài suy nghĩ về cuộc sống của mình và rất hài lòng khi được các giáo sư mời đến đây.  Hy vọng sẽ giúp các em cách suy nghĩ khi bắt đầu theo ngành để trở thành nha sĩ giải phẫu cũng như suy nghĩ về những việc chung quanh. 
  Từ lúc trẻ, tôi là một sản phẩm đặc trưng của xã hội ngày nay, một sản phẩm khá thành công mà xã hội đòi hỏi.  Hồi nhỏ tôi lớn lên trong một gia đình có mức sống dưới mức trung bình.  Tôi được bảo ban bởi người chung quanh và môi trường rằng thành công thì hạnh phúc.  Thành công có nghĩa là giàu có.  Với suy nghĩ này, tôi trở nên cực kỳ ganh đua ngay từ nhỏ.
  Không những chỉ cần đi học ở trường giỏi, tôi cần phải thành công trong mọi lãnh vực - từ các hoạt động tập thể đến chạy đua, mọi điều.  Tôi cần phải đoạt được cúp, phải thành công, phải được giải, giải quốc gia, mọi thứ.  Tôi rất ganh đua.  Tôi vào trường y và trở thành bác sĩ.  Chắc một số em biết rằng trong ngành y, giải phẫu mắt là một trong những chuyên khoa khó vào nhất.  Tôi cũng vào được và được học bổng nghiên cứu của NUS phát triển tia laser để chữa bịnh mắt.
  Trong khi nghiên cứu tôi có hai bằng phát minh- một về dụng cụ y khoa và một về tia lasers. Nhưng các em có biết không, tất cả các thành tựu này không mang lại cho tôi sự giàu có.  Sau khi hoàn tất MOH, tôi quyết định rằng theo đuổi ngành phẫu thuật mắt mất quá nhiều thời gian trong khi ra ngoài làm tư kiếm được nhiều tiền hơn.  Nếu các em để ý, vài năm qua, ngành thẩm mỹ đang lên, kiếm được khối tiền.  Vi`vậy, tôi quyết định bỏ ngành giải phẫu mắt giữa chừng và nhảy qua mở trung tâm giải phẫu thẩm mỹ trong tỉnh.
  Các em có biết, rất mâu thuẫn, một người có thể không vui vẻ  khi trả $20 cho một bác sĩ tổng quát, nhưng cũng chính người đó không ngần ngại trả $10,000 để hút mỡ bụng, $15,000 cho sửa ngực, vv… và vv .  Không cần phải suy nghĩ nhiều, phải không?  Tại sao lại muốn thành bác sĩ tổng quát mà không là bác sĩ thẩm mỹ?  Do vậy, thay vì chữa bịnh, tôi quyết định trở thành người sửa sắc đẹp.  Công việc làm ăn rất khấm khá.  Bịnh nhân mới đầu chờ đợi một tuần, rồi 3 tuần, sau lên một tháng, 2 tháng, đến 3 tháng. Quá nhiều bịnh nhân.  Tôi choáng váng.   Tôi mướn một bác sĩ, hai bác sĩ, ba bác sĩ, rồi bốn bác sĩ.  Chỉ trong vòng năm thứ nhất, chúng tôi đã lên hàng triệu phú.  Nhưng chẳng thế nào là đủ vì tôi trở nên mê muội.  Tôi bắt đầu khuếch trương tới Nam Dương, thu hút các “tai-tais” những người muốn có cuộc giải phẫu trong chớp mắt. Cuộc sống thật lên hương.
  Tôi làm gì với mớ tiền dư thưà?  Cuối tuần tôi tiêu khiển ra sao?  Thông thường tôi đến tụ tập tại câu lạc bộ đua xẹ hơi.  Tôi sắm riêng cho tôi một chiếc xe đua.  Chúng tôi đến Sepang ở Mã Lai và đua xe.  Cuộc sống của tôi là thế đó.  Với mớ tiền măt, tôi sắm chiếc Ferrari.  Lúc đó chiếc 458 chưa ra, chỉ có chiếc 430.  Một người bạn học cũ của tôi làm ngân hàng.  Anh ta mua chiếc màu đỏ mà anh mong muốn từ lâu.  Tôi sắm chiếc màu bạc.
  Tôi làm gì sau khi có chiếc xe?  Đến lúc mua nhà, xây cửa.  Chúng tôi bắt đầu tìm kiếm đất để xây nhà nghỉ mát. Tôi đã sống cuộc đời như thế nào?  Chúng tôi nghĩ rằng phải cần hòa nhập với những người giàu có, nổi tiếng.  Chúng tôi bắt đầu giao tiếp với mỹ nhân, người giàu sang và danh tiếng, như hoa hậu thế giới hay người sáng lập mạng internet, ăn uống ở mọi nhà hàng kể cả nhà hàng nổi tiếng của đầu bếp Michelin.
  Tôi đã có được mọi thứ trong cuộc sống, đến tột đỉnh của sự nghiệp và tất cả.  Đó là tôi của một năm trước đây.  Lúc ở trong câu lạc bộ thể thao, tôi nghĩ tôi đã chế ngự được mọi chuyện và đạt đến đỉnh vinh quang. 

Thứ Tư, 23 tháng 4, 2014

THÊM BẰNG CHỨNG TỪ CUỘC NGHIÊN CỨU MỚI"CÂY TRỒNG NHÀ BẠN CÓ THỂ NGHĨ,TRÒ CHUYỆN,ĐỌC Ý NGHĨ"


Một cuộc nghiên cứu mới đây được tiến hành bởi nhóm các nhà Khoa học tại Đại học Western Australia (UWA) đã cho thấy thực vật có trí nhớ lâu dài. Điều này đã bổ sung thêm cho một cuộc nghiên cứu trước đó, nói rằng thực vật có hoạt động tư duy cao, gồm cả khả năng cảm quan – thấy sợ hãi hay vui mừng, khả năng giao tiếp, và thậm chí cả khả năng thấu hiểu ý nghĩ.



(Shutterstock*)
   Thái tử Charles từng nói rằng ông đã từng nói chuyện với cây và chúng trả lời. Cũng như một bài báo Kinh Tế về nghiên cứu trí nhớ của thực vật đã chỉ ra, Thái tử Charles cũng từng phải đối mặt với những lời nhạo báng sau lời tuyên bố của ông, nhưng có lẽ ông sẽ sớm được minh oan.
    Và đây là cái nhìn về trí thông minh của các loài cây.
    1. Cây Cối Có Trí Nhớ Lâu Dài: Nghiên Cứu Mới
  Tiến sĩ Monica Gagliano dẫn đầu cuộc nghiên cứu UWA, công trình được công bố trên tạp chí Oecologia.
  Bà và các đồng nghiệp đã cố tình để rơi một chậu cây Mimosa (cây xấu hổ) xuống tấm đệm bằng bọt biển từ một độ cao mà có thể gây sốc, nhưng vẫn không ảnh hưởng đến cây. Mimosa được lựa chọn bởi chính thuộc tính độc đáo của nó: cây cụp lá khi chúng sợ hãi, do đó rất dễ quan sát phản ứng của cây với các kích thích.
  Những điều mà các nhà nghiên cứu muốn thấy chính là liệu cây có khả năng học được rằng cú sốc sẽ không làm nó bị đau hay không. Họ cũng muốn xem liệu cây có thể nhớ được điều đó sau một độ dài thời gian nhất định.
  Cái cây đã ngừng phản ứng sau một vài lần rơi, điều này chỉ ra rằng chúng đã học được rằng tác động này hoàn toàn không nguy hại gì. Những nhà nghiên cứu cũng chắc chắn rằng điều đó không phải đơn giản chỉ là cây cối đã mệt mỏi và không còn phản ứng được nữa; họ đã áp dụng một kích thích khác và ngay lập tức cây có phản ứng đối với kích thích đó.
  Thí nghiệm này cũng được tiến hành trên rất nhiều cây khác qua nhiều khoảng thời gian khác nhau.
  Các nhà khoa học đã thử ngừng thí nghiệm trên một số chậu cây trong vòng 28 ngày sau lần thí nghiệm đầu tiên. Sau rất nhiều ngày như vậy, cây vẫn nhớ bài học lúc trước, và vẫn không hề phản ứng khi bị đánh rơi tiếp đó, mặc dù chúng vẫn tiếp tục phản ứng với những kích thích khác.
  Vậy, cây cối tư duy như thế nào khi không có não bộ?
  Mặc dù thực vật không có não bộ và hệ thần kinh như được quan sát ở các sinh vật có khả năng tư duy cao hơn, các nhà nghiên cứu bắt đầu đưa ra giả thuyết về hệ thống thay thế. Ví dụ, các nhà khoa học cho rằng, chúng có những con đường khác để truyền tải thông tin dưới dạng các sóng điện.
  2. Cây Cối Có Cảm Xúc
  Cleve Backster đã có một khám phá đáng ngạc nhiên vào năm 1966, cho thấy xu hướng con người nói chuyện với cây trồng trong nhà của họ.

Cleve Backster started his experiments with the plant Dracaena. (Courtesy of Cleve Backster)
   Backster từng là một chuyên gia dò nói dối của CIA, người đã phát triển các kỹ thuật phát hiện nói dối mà ngày nay vẫn đang sử dụng rộng rãi bởi quân đội Hoa Kỳ và các cơ quan chính phủ. Ông đã thực hiện một thí nghiệm trên chậu cây xương rồng, được mô tả chi tiết trong cuốn sách của ông “Đời Sống Bí Mật của Cây Cối”.
  Ông lấy 2 cây Dracaena và nối một trong chúng với một thiết bị dò nói dối. Và nhờ một người khác dẫm đạp lên cây còn lại. Khi hành động đó xảy ra, thiết bị dò nói dối chỉ rằng cái cây chứng kiến cảnh dẫm đạp đã cho thấy sự sợ hãi.
  Backster đi sâu hơn với những thí nghiệm của mình. Ông lại tiếp tục thử trên chính chiếc cây đã sợ hãi trước đó. Ông để rất nhiều người bước vào phòng nơi đặt chậu cây đó, và trong đó có cả người đã dẫm đạp chiếc cây kia. Máy dò nói dối không chỉ ra phản ứng với bất kỳ người nào khác, chỉ khi người đã dẫm đạp cái cây kia bước vào, kim dò nói dối lại lần nữa chỉ rằng cây đang sợ hãi. Dường như cây có khả năng nhận biết người đó.
  Cây cối cũng trải nghiệm cảm giác hạnh phúc khi được tưới nước, như Backster đã phát hiện, và thậm chí chúng còn có khả năng đọc được suy nghĩ con người.
  3. Cây Cối Có Thể Đọc Được Suy Nghĩ 
  Một lần, khi Backster đang nghĩ liệu ông nên thực hiện thí nghiệm gì tiếp theo, và khi ông mới chỉ nghĩ đến việc thử đốt lá cây xem sao, xem xem có phản ứng như thế nào, chỉ vừa mới chớm nghĩ như vậy, kim dò đã chỉ ra rằng cây đang run sợ.
Những phát hiện của Backster đã được nhiều người khác thực hiện lại, gồm có nhà khoa học Nga Alexander Dubrov và Marcel Vogel, người từng làm việc tại IBM trong thời gian ông thực hiện nghiên cứu.
  Epoch Times đã thực hiện một cuộc phỏng vấn chuyên sâu với Backster trước khi ông mất. Xin vui lòng xem sêri 2 tập: Nhận Thức Chính: Cái Nhìn Cận Cảnh Vào ‘Đời Sống Bí Mật của Cây Cối’
  4. Cây Cối Có Thể Nói Chuyện
  Giao tiếp của loài cây là một đề tài màu mỡ cho các cuộc nghiên cứu. Tiến sĩ Gagliano đã tiến hành một cuộc nghiên cứu gần đây về chủ đề này. Trong một bài nghiên cứu công bố trên tạp chí Oxford Journals năm 2012, Gagliano đã giải thích rằng từ lâu người ta đã biết rằng cây cối có thể tạo ra các sóng âm thanh.

Image of 
corn damaged by drought (Shutterstock)
   Rất nhiều người đã nghĩ những sóng âm thanh này là sản phẩm phụ được tạo ra một cách tình cờ khi cây phản ứng với việc thoát hơi nước, hơn là việc giao tiếp có chủ ý.   Nhưng Gagliano lại không chắc chắn như vậy.
  Bà đã quan sát các cách mà cây cối giao tiếp. Quá trình được biến đến rộng rãi rằng cây tạo ra các sóng thanh âm được gọi là xâm thực (“cavitation”). Quá trình này xảy ra khi cây thoát hơi nước và cột nước chịu áp lực. Gagliano nói rằng “Các tín hiệu thanh âm thoát ra từ cây là quá nhiều đến mức chúng dường như khó tin rằng mỗi sự kiện âm thanh là chỉ do quá trình xâm thực đó…. Và thực tế, những bằng chứng gần đây đã cho thấy rằng cây tạo ra âm thanh độc lập với quá trình thoát hơi nước và những quá trình liên quan đến xâm thực.
   Bà cũng trích dẫn nghiên cứu chỉ ra rằng một số sóng âm thanh có lẽ được tạo ra bởi hệ thống bong bóng ổn định của đường dẫn chất gỗ.
  “Mặc dù các cơ chế tương đối và cuối cùng sử dụng bởi động vật để cảm nhận môi trường và giao tiếp với nhau từ lâu đã là đề tài quan tâm nghiên cứu của giới khoa học, những cuộc nghiên cứu về giao tiếp của thực vật cũng tồn tại, nhưng vẫn chưa đủ tiến bộ và được công nhận”, Gagliano đã viết như vậy. “Đây đặc biệt là trường hợp âm học thực vật; và nó vẫn rất đáng ngạc nhiên, khi chúng ta cân nhắc rằng khả năng cảm nhận âm thanh và rung động là một phương thức giác quan cổ đằng sau tổ chức hành vi của tất cả cơ quan sống và mối quan hệ của chúng với môi trường”.

                                            Tác giả: Tara MacIsaac, Epoch Times
     Bài gốc
http://www.theepochtimes.com/n3/460659-your-houseplants-can-think-talk-read-your-mind-new-research-adds-evidence/