Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2016

NƯỚC CÀNG SÂU THÌ CHẢY CÀNG CHẬM, NGƯỜI CÀNG TRÍ HUỆ THÌ TÂM CÀNG TĨNH



(Ảnh minh họa)


“Nước càng sâu thì chảy càng chậm” là có ý nói rằng, nước sâu đều chảy phi thường thong thả. Trên mặt nước cho dù gió thổi làm sóng trào dâng cuồn cuộn nhưng những dòng nước ở bên dưới sâu vẫn luôn duy trì tốc độ chảy chậm rãi, thong dong. Làm người cũng như thế, gặp phải chuyện lo lắng, việc khó khăn thì đều phải bảo trì một tâm thái bình tĩnh và tường hòa.

“Động” và “tĩnh”, “nhanh” và “chậm” là thuộc về lý tương sinh tương khắc. “Động, tĩnh, nhanh, chậm”, trời đất vì có chúng mà trở nên cân bằng. “Động” sẽ khiến tiêu vong xảy ra nhanh hơn, “tĩnh” mới có thể lâu dài, cho nên người xưa mới giảng rằng “tĩnh lặng mới có thể đi xa”.

 Một người tu luyện chân chính, một người trí huệ cao, người có hàm dưỡng đạo đưc thì trong thái độ xử thế luôn chứa đựng sự từ bi. Họ có thể nhường nhịn, có thể chịu thiệt. Một khi gặp chuyện, họ có thể trầm tĩnh, tâm lượng mở ra rộng lớn hơn và dung nạp được nhiều hơn.

Lão Tử nói: “Bất cảm vi thiên hạ tiên” (Tạm dịch: Không dám đứng trước thiên hạ). Cái gì gọi là “không dám”? Đó chính là chỉ cái tâm “danh, lợi, tình” là không dám đứng đầu thiên hạ, không dám để cái tình của thế tục lôi kéo, không dám lưu giữ một ý một niệm bất hảo nào trong tâm…Bởi vì, người có đạo đức cao thường cho rằng, cái tâm của một người vừa máy động thì sẽ là tạo nghiệp, sẽ bị rơi rớt xuống tầng thứ thấp hơn và tu luyện sẽ không thành, không thể quay về thế giới của Phật, thế giới của Thần Tiên. 

 Nhưng người phàm trần lại dám làm hết thảy. Họ truy danh, truy lợi, tranh mạnh háo thắng, dám đánh dám mắng, thậm chí không việc ác nào không dám làm. Người như vậy, kỳ thực sống rất mệt, rất khổ, lo được lo mất, vì một chút lợi nhỏ mà ăn không ngon, ngủ không yên, khiến thân thể bị bệnh tật, trong tâm lo lắng, bất an. Chúng ta thử ngẫm xem, người như thế có thể không bị giảm phúc, giảm thọ sao?

Nói đến tu luyện thì người ta thường giảng đến tâm tính và “đức” của con người. “Đức” kỳ thực là một loại năng lượng có tồn tại thực sự của con người, chấp trước vào dục vọng càng nhiều thì năng lượng bị tổn hao càng lớn. Cho nên, cổ nhân luôn giảng: “Mệnh tùy tâm chuyể, tướng từ tâm sinh” hay “Tâm quyết định tính nên được gọi là tâm tính. Tính quyết định mệnh nên được gọi là tính mệnh. Mệnh quyết định vận nên gọi là vận mệnh. Vận quyết định khí nên gọi là vận khí.” Bệnh của một người là từ tâm người ấy mà sinh ra, mệnh cũng là từ tâm sinh ra. Tất cả các chính giáo trong lịch sử từ xưa đến nay, bao gồm cả Đạo giáo, Phật giáo, Cơ đốc giáo, Thiên Chúa giáo…đều là vì giảng con người phải tu thiện, làm người tố t mà được lưu truyền trong mấy ngàn năm nay.

  Không chỉ mệnh từ tâm sinh mà bệnh tật của một người cũng là từ tâm sinh ra. Tất cả bệnh tật của con người đều là được sinh ra bởi vì trong tâm có khuyết điểm, sai lầm, tạo nghiệp, nếu không thì con người không có khả năng phát sinh bệnh tật. Nhưng người mà nhận thức được điều này thì vô cùng ít ỏi.

Con người trong xã hội hiện đại, tâm là vô cùng mạnh mẽ, ham muốn hưởng lạc cũng phi thường mãnh liệt. Đối với công danh lợi lộc thì họ rất coi trọng, cho rằng lợi ích đạt được càng nhiều, quyền lợi càng lớn thì là càng giỏi, càng tốt. Vì thế, họ không từ một thủ đoạn nào đi làm thương tổn người khác, ức hiếp người khác, chiếm đoạt lợi ích người khác, cho rằng mình chính là người mạnh mẽ, là anh hùng. Kỳ thực, họ đều là đang tiêu hao “Đức” của bản thân mình.

“Đức” tiêu hao nhanh bao nhiêu thì phúc lộc thọ của con người cũng giảm nhanh bấy nhiêu. Đến lúc “Đức” hết sạch rồi thì sinh mệnh cũng đi đến chỗ diệt vong. Cho nên, cổ nhân thường giảng đạo lý: “Phải tích đức, tích đức, vì bản thân, vì con cháu, tích nhiều đức thì có nhiều phúc báo.”

  “Nhân quý tắc ngữ trì” ý nói rằng, người sang quý thì lời nói thường chậm rãi, hơn nữa còn không dễ dàng tỏ thái độ, không dễ dàng kết luận, thận trọng từ lời nói đến việc làm.

 Những người tu luyện chuyên nghiệp thời cổ đại đều coi trọng tu khẩu, họ thường ngậm miệng không nói gì vì sợ nói ra sẽ tạo nghiệp và phải hoàn trả. Bậc Thánh nhân, quân vương xưa cũng là ít nói, “miệng vàng lời ngọc”. Lời Hoàng Thượng nói ra là Thánh chỉ, lời nói vô tình có thể khiến đầu của người dân thường rơi xuống, vận mệnh của một người bị đảo lộn. Cho nên, bình thường, Hoàng Thượng đều tự xưng mình là “Quả nhân”, “Cô gia” (có ý nhún mình, tự nhận mình là có ít đức tốt). Ngay cả những người có trí tuệ trong dân gian, người có tu dưỡng, nói chuyện cũng rất chú ý, sợ nói lời ác làm đả thương người khác, thất đức, tổn đức, khó có tiếng nói trong dân chúng.

Khi chúng ta hiểu được đạo lý: “Tâm tính là nguồn gốc của mọi dưỡng sinh”, “tâm có thể sinh ra hết thảy, tâm có thể diệt hết thảy”  thì hãy coi trọng đạo đức, làm việc thiện, tích đức, tích phúc, như vậy tự nhiên cuộc đời của chúng ta mới có phúc lộc thọ, an khang, tâm linh của chúng ta nhất định có thể bước đến miền cực lạc tươi sáng.

                                                                                           Theo Secretchina
                                                                                          Mai Trà biên dịch

 

Thứ Năm, 3 tháng 11, 2016

SEN VÀ BÙN (Nguyễn Ngọc Luật)



                 SEN VÀ BÙN
Khi mê bùn chỉ là bùn
Ngộ rồi mới biết trong bùn có sen!
Khi mê chỉ thấy bùn đen
Ngộ rồi mới thấy đài sen sáng ngời!
                         Nguyễn Ngọc Luật

CHỈ LÀ CÁNH CHIM RONG (Tánh thiện)



CHỈ LÀ CÁNH CHIM RONG
 Kính dâng Thầy Lê Mạnh Thát

Tóc vẫn mọc mà tâm hồn vẫn sáng
Sáng như làn mây trắng mãi thong dong
Ta đến đây chỉ là cánh chim rong
Bay phất phới trên vòm trời sanh tử .

Cuộc đời ta đã từng kêu án tử
Mà vẫn cười như cả một trò chơi
Vẫn âm thầm lặng lẽ giữa sóng khơi
Lòng kham nhẫn trước cõi đời điên dại .
 
Ta đến đi trên bước đường tự tại
Đừng nhìn vào hình thức để phán suy
Mất thời giờ uổng phí chẳng ra chi
Ta tự biết con đường ta đã chọn .
                  Tánh Thiện
                  2-11-2016

Thứ Tư, 2 tháng 11, 2016

NĂNG LỰC PHÁT NGUYỆN



Kết quả hình ảnh cho Tôn giả Angulimala
Tôn giả Angulimala[1] trước khi gặp Phật, là một kẻ sát nhân. Sau khi xuất gia, tôn giả tinh tấn tu tập, lấy phép quán từ bi làm tâm điểm trong việc tu tập của mình. Tôn giả vẫn thường làm kệ:

Ai trước làm nghiệp ác
Nay lấy thiện chận lại
Chói sáng thế gian này
Như trăng thoát mây che

Một lần vào thành khất thực, Tôn giả gặp một phụ nữ đang chuyển dạ. Cô ta mong Tôn giả chỉ cho một pháp bình an.

Tôn giả không biết làm sao nên phải trở về bạch với Phật. Sau khi được Phật chỉ dạy, Tôn giả quay lại chỗ sản phụ và nói: “Tôi từ khi được Thánh sinh đến nay, chưa bao giờ cố ý giết hại mạng sống của chúng sinh. Mong rằng với sự thật ấy, bà được an toàn và sinh nở được an toàn. Sau lời chú nguyện, người phụ nữ vượt cạn an toàn.

Câu chuyện cho ta thấy tác dụng rất mạnh của lời nguyện. Nó giống như một lời thần chú giúp việc lợi tha được hoàn mãn mà không cần dùng đến pháp nào khác.

Vì sao lời nguyện của tôn giả lại mạnh như thế? Vì nó không phải là một lời mong muốn suông. “Từ khi thánh sinh đến nay”, là từ khi Tôn giả từ bỏ việc giết người, xuất gia tu hành, giữ giới và tu tập thiền định trí tuệ. “Chưa bao giờ cố ý giết hại mạng sống của chúng sinh” là từ tâm không giết hại. “Không cố ý” là không có chủ tâm muốn giết hại chúng sinh. Giết hại có hai. Hoặc là do cố ý. Hoặc là do vô tình. Đây Tôn giả khẳng định không cố ý. Nó thể hiện loại từ tâm mà ngài đang tu.

Giết hại đưa đến cái quả bất an, tai họa, yểu mệnh. Không giết hại sẽ tránh được các cái quả như thế. Người không giết hại sẽ nhận được cái quả an ổn, không có tai họa và trường thọ. 

Tôn giả dùng công đức có được từ việc từ bỏ sát sinh, không có tâm cố ý sát sinh đó, hồi hướng cho thai phụ, cũng có nghĩa là hồi hướng sự an bình, không tai họa cho sản phụ.

Và mọi việc được như ý.

Bài kinh trên cho ta thấy mấy điều sau:

1/ Có thể dùng công đức từ việc tu hành của mình hồi hướng cho tha nhân, giúp tha nhân bình an. Người hữu duyên sẽ nhận được sự trợ duyên này. Hữu duyên, là người có duyên với mình. Hữu duyên có hai loại. Một là thuận duyên. Hai là nghịch duyên. Thuận duyên, là người từng gieo duyên lành với mình. Nghịch duyên là người cũng từng gieo duyên với mình, nhưng không phải duyên lành mà là ác duyên. Vô duyên thì việc hồi hướng không có tác dụng. Còn đã có duyên, dù thuận hay nghịch, việc hồi hướng đều có tác dụng ít nhiều.  
  
Nếu thuận duyên thì mọi việc trở nên dễ dàng, kết quả dễ thấy.

Nếu là nghịch duyên, chúng ta phải biến cái nghịch duyên đó thành pháp trợ cho việc tu hành của mình. Tức chúng ta phải biến những nghịch duyên mà tha nhân mang lại cho mình thành pháp giúp mình tiến tu. Người ta gây oán trái cho mình, mình không sân hận mà chỉ thấy nhờ họ lực nhẫn của mình mạnh hơn, mình bất động được với các oán trái đó, nó sẽ tạo ra một loại công đức rất lớn, mà nghịch duyên chính là một trong các duyên trợ lực tạo ra công đức này. Đó là chúng ta biến nghịch duyên thành thuận duyên, rồi dùng đó hồi hướng cho người.

2/ Bất kể trước đó chúng ta thế nào, nhưng khi bắt đầu tu thì công đức liền xuất hiện. Chúng ta có thể dùng công đức đó để hồi hướng cho tha nhân. Tha nhân có thể là người không thân và người thân.

3/ Tùy nhân tùy duyên mà hồi hướng: Muốn hồi hướng cho người được bình an, tai qua nạn khỏi thì chúng ta dùng loại công đức tương ưng với đó mà hồi hướng.

- Đối với người phạm giới thì dùng công đức không phạm giới hồi hướng. Như không uống rượu hay trinh bạch thì dùng phước đức đó mà hồi hướng cho người không uống rượu và không trinh bạch.

- Đối với người bệnh hoạn, nạn tai thì dùng công đức có được từ việc không sát sinh hay phóng sinh mà hồi hướng.

Cứ tùy nhân tùy duyên tương ưng mà hồi hướng

4/ Kết quả tùy thuộc vào công đức tu hành của người hồi hướng và phước lành của người được hồi hướng

Nếu người hồi hướng có công đức lớn. Tức gồm đủ ba loại:

1.   Công đức phát tâm bồ-đề : Trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sinh.
2.   Công đức tu hành của bản thân : Hàng phục tham sân si.
3.   Công đức có được từ việc lợi tha : Giúp người.

Gồm đủ ba loại đó thì nguyện lực hồi hướng mạnh, dễ có kết quả mau chóng.
Dù đủ ba phần đó rồi, nhưng tùy năng lực tu hành, việc lợi ích tha nhân nhiều hay ít mà kết quả mau chậm cũng có sai khác.

Nếu người được hồi hướng có phước đức của bản thân thì kết quả nhận được sẽ mau chóng hơn là người không có phước đức.

Đó là lý do vì sao cùng một việc phát nguyện mà ta thấy có kết quả sai khác trong các trường hợp.

Lợi ích cho người bằng cách hồi hướng công đức từ bản thân, đa phần đều mang lại kết quả hữu dụng tốt đẹp, hơn là chạy theo những hình thức lợi ích bên ngoài mà năng lực tu hành không có. Thiếu trí tuệ thì có khi thứ mình nghĩ lợi ích cho người chính là hại người…


[1] Kinh trung Bộ tập 2. Kinh Angulimala

                                                                                         Chân Hiền Tâm


NHỮNG THỰC PHẨM GÂY CHẾT NGƯỜI NẾU CHẾ BIẾN KHÔNG ĐÚNG CÁCH


Nếu bạn gặp một loại thực phẩm lạ hãy đối chiếu ngay với danh sách những thực phẩm gây chết người sau đây khi không được chế biến đúng cách.


 Măng là phần búp của cây tre và có thể ăn được nhưng trước khi ăn cần cắt bỏ lớp ngoài và luộc chín. Măng sống chứa một loại chất độc sản sinh ra xyanua trong ruột và có thể gây chết người. 




Mặc dù là loại carbs được ăn nhiều nhất trên thế giới nhưng củ sắn là thực phẩm gây chết người. Củ sắn sống có chứa cyanogenic glucosides và làm sản sinh ra HCN (hydrogen cyanide) – một chất độc. Để bảo đảm an toàn cần ngâm củ sắn trong nước khoảng 1 ngày rồi mới nấu. Tuy nhiên có một số loại sắn có chứa ít cyanogenic glucosides hơn nên không cần ngâm mà chỉ cần luộc chín là ăn được.  




Trong số những thực phẩm không khác gì chất độc nếu không được nấu chín thì thịt gà không đứng đầu danh sách, nhưng loại thịt giàu protein này có có thể gây nguy hiểm nếu không được nấu ở nhiệt độ tối thiểu 74oC. Thịt gà rất dễ bị nhiễm khuẩn salmonella gây tiêu chảy nặng, đau bụng, chóng mặt, nôn mửa. Mặc dù không đe dọa tính mạng nhưng ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến phụ nữ mang thai, trẻ em hoặc bất kỳ ai có hệ miễn dịch yếu. 




 Đậu lima trông không có vẻ gì là nguy hiểm nhưng có thể trở thành thủ phạm giết người nếu ăn sống. Có tên gọi khác là đậu bơ, đậu lima chứa một lượng lớn xyanua và Mỹ kiểm soát loại đậu này rất chặt chẽ. Khi nấu đậu lima không được đậy vung để khí xyanua có thể bay ra ngoài. 




 Trong số rất nhiều loại hải sản ngon lành thì không hiểu sao người ta vẫn sẵn sàng trả nhiều tiền để ăn một loại hải sản có độc là cá nóc. Cá nóc có nhiều loại nhưng bất kỳ phần nào – nhất là gan – cũng có chứa tetrodotoxin – một chất độc gây chết người nguy hiểm gấp 1.200 lần so với xyanua. Để có thể chế biến cá nóc, đầu bếp Nhật phải theo học một lớp chế biến kéo dài 3 năm. Mặc dù vậy từ năm 2000-2009 cũng có tới 23 trường hợp tử vong vì ăn cá nóc tại Nhật. 




Đậu tây đỏ hay còn gọi là đậu thận là nguyên liệu lý tưởng cho các món hầm. Nhưng nếu chế biến không đúng cách thì gây nguy hiểm. Loại đậu đỏ này cần được nấu tối thiểu 30 phút thì phytohemagglutinin – một loại protein – trong đậu mới bị phá hủy. Chất này khi ăn quá nhiều cũng trở thành chất độc. Lưu ý nếu nấu đậu đỏ trong nồi hầm thì cũng không đạt nhiệt độ cần thiết để giết chết các độc tố. 


 Lá cải đại hoàng có chứa một lượng lớn axit oxalic, một chất ăn mòn. Chỉ cần một lá cải đại hoàng cũng đủ để giết chết một con chuột và nếu một người ăn khoảng 11 lá thì sẽ thực sự gặp nguy hiểm. Tuy nhiên phần cuống lá lại chứa ít axit oxalic hơn và hoàn toàn không gây hại gì cho sức khỏe. (Nguồn ảnh: Dailymeal)

                                                                                       Trang Anh (theo Foxnews)


Thứ Ba, 1 tháng 11, 2016

CHÂN NGUYÊN (Tánh Thiện)




                                               CHÂN NGUYÊN
                                  Xin cảm ơn pháp hữu Như Hùng gởi hình Thầy Nguyên Tạng ở thiền viện Chân Nguyên

                                        Chuông chùa vang tiếng gọi
                                        Thức tỉnh khách đường xa
                                        Bao tháng ngày say đắm
                                        Chẳng nhớ lại lòng ta


                                        Cơn vui nào không dứt
                                        Nỗi buồn nào chẳng qua
                                        Nắng mưa thường bất chợt
                                        Vô thường mỗi sát na


                                        Nay ta nhờ pháp Phật
                                        Rõ bước đường Chân Nguyên
                                        Nhìn sâu vào tâm tánh
                                        Nét đẹp thoáng hương thiền


                                       Ôi ! tiếng chuông huyền diệu
                                       Vang gởi khắp trần gian
                                       Khách phong trần quay lại
                                       Dù lỡ bước sang ngang .


                                                                   Tánh Thiện
                                                                     21-9-2016


                                                                                       http://quangduc.com/

QUA SÔNG

                                                                       
                                                                                      
                                                            QUA SÔNG


Gió cuốn mây về trước cửa sông,
Lăn tăn sóng nước cảnh mênh mông.
Thuyền neo bến đợi chờ người tới,
Khách đến đò đưa thỏa kẻ mong.
Vạn dặm đường xa luôn vững dạ,
Ngàn phương lối nhỏ mãi an lòng.
Dòng đời khúc khuỷu bền tâm chí,
Cập mạn bờ kia hết ngóng trông.

 Ngóng trông thành quả vững dày công,
Những bước chân qua thỏa tấm lòng.
Nhớ chúng Thầy chờ bên bến vắng,
Ghi lời con nguyện cạnh bờ thông.
Gian nan thử thách mong đời sáng,
Khổ cực duy trì giữ đạo trong,
Bát Nhã soi đường nơi chín cõi,
Nguồn chơn hiển hiện cảnh thong dong.

                                        Minh Đạo

CHÁNH NIỆM LÀ GÌ


Kết quả hình ảnh cho tượng phật cỗ



Có lẽ cách hay nhất để hiểu chánh niệm (mindfulness) là gì, theo quan điểm truyền thống Phật giáo, là nhận ra những gì không phải là chánh niệm.

Những gì không phải là chánh niệm? 

     Chánh niệm không có nghĩa chỉ là nhận biết hay là có ý thức, bởi vì một người thì lúc nào cũng có ý thức, trừ khi là trong hôn mê hoặc chết đi. Ý thức là một đặc tính rất cơ bản của tâm, và nó được hiểu như là một sự kiện xảy ra, thay vì là một cái gì đó hiện hữu. Vì vậy cho nên, ý thức luôn luôn có mặt khi có bất cứ một kinh nghiệm nào đó khởi lên. Và nếu như chánh niệm có nghĩa là có ý thức, thì chúng ta lúc nào cũng có chánh niệm hết, một cách tự động, trong mọi hoàn cảnh.
    Chánh niệm không chỉ có nghĩa là sự chú ý, bởi vì ta lúc nào cũng chú ý. Chú ý là một tâm hành gom tụ những tâm hành khác lại với nhau, và cùng hướng về một đối tượng. Nó giúp mang lại sự nhất quán và tập trung trong mỗi giây phút. Sự chú ý của ta có thể lang thang từ một đối tượng này sang đối tượng khác, không giữ yên được trên một đối tượng nào lâu dài, nhưng nó lúc nào cũng hướng về một nơi nào đó.

    Chánh niệm cũng không có nghĩa là chú tâm vào giờ phút hiện tại, vì tất cả bất cứ một tâm hành nào cũng chỉ có thể khởi lên trong giờ phút hiện tại này mà thôi. Làm sao nó có thể khác hơn được? Ta không thể nào thấy, nghe, ngửi, nếm, hay xúc chạm một đối tượng nào đó, trừ khi trong ngay chính giây phút này. Những đối tượng của tâm thức, ví dụ như tư tưởng, có thể lấy nội dung từ quá khứ (ký ức) hay tương lai (tưởng tượng), nhưng cái tiến trình suy nghĩ về quá khứ và tương lai ấy, luôn luôn chỉ có thể có mặt trong giờ phút hiện tại này mà thôi. Khi người ta nói về có ý thức trong giờ phút hiện tại, thật ra họ chỉ muốn nhắc nhở chúng ta buông bỏ đi sự suy nghĩ và hãy cảm nhận trực tiếp qua các giác quan, hay là ý thức được tiến trình suy nghĩ mà không bị vướng mắc vào nội dung của những tư tưởng ấy.

    Và ta cũng không thể nào định nghĩa chánh niệm cho xác đáng rằng đó là một sự chú ý có chủ đích, hay nói một cách khác, là ý thức một cách có ý thức. Sự khác biệt giữa cái biết có ý thức và cái biết vô ý thức là sự có mặt của hai tâm hành “tầm” (applied thought) và “tứ” (sustained thought). Tầm giúp tâm ta hướng về một đối tượng nào đó mà ta có tác ý muốn chọn lựa. Và tứ giúp ta duy trì được sự chú ý của mình trên đối tượng mà mình chọn đó. Những phương pháp thiền tập thường sử dụng hai yếu tố tầm (hướng sự chú ý) và tứ (duy trì sự chú ý) này qua nhiều cách khác nhau, nó giúp làm tăng trưởng định lực, nhưng không phải phương pháp thiền tập nào cũng là thiền chánh niệm.
    Điều quan trọng ta cần ghi nhận là những tâm thức mà ta vừa nêu ra bên trên đều có tính cách trung hòa, không xấu cũng không tốt, và chúng có thể được dùng trong những việc thiện hoặc bất thiện. Rất nhiều những hành động bất thiện của ta đều có sự chú ý, có chủ tâm, và sự tập trung. Và cùng những chức năng này cũng có mặt trong những việc làm thiện lành của ta nữa.

Chánh niệm là gì?
Bây giờ ta hãy xem chánh niệm là gì theo quan điểm truyền thống đạo Phật. 

    Mỗi giây phút của ý thức luôn luôn được đi kèm theo cùng với một phản ứng cảm xúc, và đây chính là nơi mà chánh niệm thật sự có mặt trong tấm bản đồ kinh nghiệm của đạo Phật. Chánh niệm là một phẩm chất của phản ứng cảm xúc (emotional response), một thái độ và phản ứng có chủ ý đối với một đối tượng kinh nghiệm nào đó, nó định hướng và kết cấu cho sự trải nghiệm trong tâm của ta sẽ như thế nào.

    Chánh niệm tự nó là một tâm hành thiện và tốt lành, cho nên nó không thể nào biểu hiện được nếu như tâm thức đang bị ảnh hưởng bởi tham và sân, cho dù trong những trạng thái rất nhẹ như là ưa chuộng hoặc là chống đối một việc gì đó. Bất cứ khi nào ta muốn hay không muốn sự việc xảy ra theo một lối nào đó, là tâm ta không có chánh niệm.
    Chánh niệm đòi hỏi một sự bình thản và buông xả toàn vẹn. Điều này không có nghĩa là ta trở nên dững dưng hoặc lạnh lùng đối với những gì đang xảy ra. Nhưng là khi tâm ta trở nên quân bình và có ý thức trọn vẹn được sự việc như chúng đang thật sự là, và không hề có ý muốn thay đổi vì ưa thích cái này hoặc ghét bỏ cái kia.

    Chánh niệm là một tâm thức tiếp cận với đối tượng của sự chú ý. Nhưng sự tiếp cận này không hề bị vướng mắc trong sự ham muốn. Ta thở với chánh niệm, nhưng không hề muốn hơi thở được dài hay ngắn, mà chỉ cảm nhận hơi thở như nó là. Ta bước đi trong chánh niệm, tới lui, mà không hề có ý định phải đi đến một nơi nào đó, chỉ đơn giản ghi nhận cái sắc thái, kết cấu của những cảm xúc trong thân, khởi lên rồi diệt đi tự nhiên.
    Vì vậy, chánh niệm cũng là hết tất cả những yếu tố vừa kể ra đó – ý thức, chú tâm, trong giờ phút hiện tại, có chủ đích – và thêm một điều quan trọng này: là với một thái độ bình thản và buông xả không dính mắc.

                                                                         Andrew Olendzki
                                                                      Nguyễn Duy Nhiên chuyển ngữ

VỀ NGUỒN


image





                    VỀ NGUỒN

 Lang thang lữ khách tạm dừng chân,
Quán trọ bao năm đón cố nhân.
Vẫn mãi loanh quanh đời lãng tử,
Nên còn luẩn quẩn kiếp phong trần.
Ba đường theo sóng tình lăn lộn,
Sáu nẻo xuôi bè nỗi tảo tần.
Khổ hải trầm luân mong dứt sạch,
Nhà xưa về lại sáng trong ngần.

                                         Minh Đạo