Breath Meditation Condensed
Méditation sur le souffle condensée
Upasika Kee Nanayon | Hoang Phong chuyển ngữ
Lời giới thiệu của người dịch
Thiền định dựa vào hơi thở là một kỹ thuật luyện tập giúp người hành thiền phát huy một sự chú tâm cao độ mang lại sự tĩnh lặng và thăng bằng cho tâm thức giúp mình trở về với chính mình hầu tìm hiểu tâm thức và con người của chính mình. Kỹ thuật đặc biệt này được áp dụng trong phép thiền định thật căn bản của Phật giáo Theravada là Vipassana.
Vipassana là một từ ghép, tiền ngữ "vi" có nguồn gốc từ chữ visepa có nghĩa là cao siêu hay chuyên biệt; hậu ngữ "passana" có nguồn gốc từ chữ pasyana có nghĩa là trông thấy hay quán thấy, do đó có thể xem Vipassana là một phép thiền định giúp mang lại một "Sự quán thấy sâu xa", các kinh sách gốc Hán ngữ gọi là "Thiền Minh Sát" hay "Minh Sát Tuệ".
Phép Thiền định về sự quán thấy sâu xa trên đây thường được ghép chung hay đi đôi với một phép thiền định khác là Samatha ("Định"), hoặc là chỉ mang ra luyện tập sau khi đã thực hiện được phép thiền định Samatha, bởi vì phép thiền định này chỉ có thể tạo ra một thể dạng thăng bằng và tĩnh lặng cho tâm thức, nhưng không mang lại một sự quán thấy về bản chất đích thật của mọi hiện tượng gọi là prajna (dịch âm là "bát-nhã" và cũng có nghĩa là "trí tuệ"). Chỉ có phép thiền định Vipassana mới thực hiện được sự quán thấy siêu việt là Samadhi ("Quán"), hầu mang lại sự Giác Ngộ. Chữ "cô đọng" trong tựa của bài giảng có thể hiểu như là một sự "thu gọn" hay "rút ngắn" của phép thiền định này, và đây cũng là một ý kiến độc đáo chứng tỏ sự thấu triệt sâu xa thâu thập từ các kinh nghiệm bản thân của người thuyết giảng.
Thật ra không riêng gì Phật giáo Theravada mà hầu hết tất cả các học phái và tông phái Phật giáo khác đều thực thi phép thiền định Vipassana, bởi vì đây là phương tiện căn bản và chủ yếu nhất trong việc tu tập của toàn bộ Phật giáo nói chung, tuy rằng nội dung và phương pháp giữa các học phái và tông phái về phép thiền định này không hoàn toàn thống nhất với nhau. Các học phái xưa như Sravaka và Pratyekabudddha xem phép thiền định Vipassana hay "Sự quán thấy xâu xa" là một phương tiện giúp tìm hiểu bản chất của Bốn Sự Thật Cao Quý (Tứ Diệu Đế) và một khái niệm vô cùng căn bản khác là quy luật Tương liên, tương kết và tương tạo giữa mọi hiện tượng (Paticcasamuppada/ Pratityasamutpada/ Lý Duyên Khởi).
Đối với Đại Thừa nói chung thì phép thiền định Vipassana là một phương tiện giúp quán thấy vững chắc và tối thượng về bản chất vô thực thể của mọi sự vật tức là Tánh Không của chúng. Đối với Kim Cương Thừa (Vajrayana) thì phép thiền định Vipassana là một lợi khí giúp tìm hiểu tâm thức là nguồn gốc của hạnh phúc cũng như mọi thứ khổ đau. Sự hiểu biết sâu sắc đó sẽ đưa đến sự nhận thức vững chắc và minh bạch về sự phi hiện hữu của cái "ngã" hay "cái tôi", nói cách khác là bản chất "vô thực thể" của chính mình.
Theo Phật giáo Theravada - tức là trong khuôn khổ của bài giảng này - thì phép thiền định Vipassana là phương tiện duy nhất có thể mang lại sự Giải Thoát. Đó là một phép luyện tập nhất thiết dựa vào hơi thở nhằm phát huy một sự chú tâm thật mạnh (satipatthana/sự tỉnh giác, tỉnh thức) hướng vào bốn đối tượng hay lãnh vực thiền định là: thân xác, giác cảm, các thể dạng của tâm thức và các sự tạo tác của nó. Tất cả những sự hiểu biết này sẽ đưa đến sự quán thấy minh bạch và trong sáng về vô thường, khổ đau và vô ngã của một cá thể cũng như của tất cả mọi hiện tượng. Phương pháp thiền định Vipassana theo Phật giáo Theravada cũng được giải thích chi tiết trong tập Visuddhimagga (Thanh Tịnh Đạo) của Buddhaghosa (Phật Âm) trong Tạng Luận, nhưng chủ yếu là được rút tỉa từ một bài kinh do chính Đức Phật giảng là Satipatthana-sutta (MN 10), còn gọi là Kinh Niệm Xứ hay Kinh Tứ Niệm Xứ.
Bà Upasika Kee Nanayon, tác giả bài giảng là một cư sĩ Thái Lan và cũng là một vị thiền sư vô cùng lỗi lạc và uyên bác. Bản dịch dưới đây được dựa vào hai bản dịch khác nhau: một bằng tiếng Anh của nhà sư Thanissaro Bhikkhu và một bằng tiếng Pháp của bà Jeanne Schut. Cách dịch của nhà sư Thanissaro Bhikkhu có vẻ rất từ chương, trái lại cách dịch của bà Jeanne Schut rất thoáng và mở rộng. Hơn nữa một bài giảng ở thể "văn nói" luôn khác với một bài viết với một thể văn "cân nhắc" hơn. Việc dịch thuật nói chung phải dung hòa tất cả các khía cạnh trên đây hầu mang lại sự mạch lạc và dễ hiểu cho người đọc, tuy nhiên cũng phải tôn trọng cách diễn đạt cũng như nội dung của bản gốc. Ngoài ra cũng còn một số các khó khăn khác không phải nhỏ, là các thuật ngữ và cách diễn đạt tư tưởng đôi khi rất khác biệt giữa các ngôn ngữ và các nền văn hóa khác nhau, điều này rất khó vượt qua, nhất là đối với các vấn đề khúc triết trong giáo lý vô cùng sâu sắc của Phật giáo. Bài dịch dưới đây luôn cố gắng tôn trọng tinh thần đó, tuy không sao tránh khỏi ít nhiều sai sót.
PHÉP THIỀN ĐỊNH CÔ ĐỌNG DỰA VÀO HƠI THỞ
Upasika Kee Nanayon
Upasika Kee Nanayon
Nhiều người khi phải thú nhận những sự lầm lẫn của mình thì lấy làm xấu hổ, thế nhưng họ sẽ không ngượng nghịu tí nào khi nói đến các khuyết điểm của kẻ khác. Số người thẳng thắn sẵn sàng nhận chịu lỗi lầm của mình - tức những sự u mê tâm thần của mình - bao giờ cũng rất ít ỏi. Do đó các căn bệnh ô nhiễm tâm thần thường bị che đậy và dấu kín, vì thế nên chúng ta không sao biết được là chúng trầm trọng và gây ra tác hại lớn lao đến mức độ nào. Tất cả chúng ta đều khổ đau vì các thứ bệnh ấy thế nhưng chẳng có ai hé môi thổ lộ. Chẳng có ai chịu khó tự chẩn bệnh hầu phát hiện các thứ ô nhiễm tâm thần ấy của chính mình.
Chính vì vậy nên chúng ta phải tìm ra một chiến lược thật khéo léo hầu giúp mình chữa trị các chứng bệnh này, đó là cách phải nhìn thằng vào chúng, tức là không tránh né những sự khiếm khuyết của mình, dù là thô thiển hay thật tinh tế cũng vậy, hầu mổ xẻ và tìm hiểu chúng từng chi tiết một. Chỉ có cách đó mới mang lại được sự thăng tiến trong việc luyện tập của mình. Nếu chỉ nhìn vào con người mình một cách hời hợt thì mình có thể sẽ nghĩ rằng tình trạng sức khỏe của mình trong lúc này đang còn rất tốt, và sự hiểu biết của mình cũng đã thừa đủ, chẳng cần phải học hỏi thêm gì nữa. Thế nhưng mỗi khi các thứ ô nhiễm tâm thần (kilesa/các xúc cảm bấn loạn trong tâm thức) bùng lên với tất cả sức mạnh của chúng, chẳng hạn như các sự giận dữ và bấn loạn (lo âu, bám víu, ghét bỏ...), thì mình vẫn cứ xem đấy là chuyện bình thường. Thật ra thì đấy là cách mà các thứ ô nhiễm tâm thần tạo ra cho mình tình trạng bệnh hoạn mà mình không hề hay biết, và các chứng bệnh đó thì rất khó nắm bắt và chẩn đoán.
Do đó chúng ta phải cương quyết đương đầu với các thứ ô nhiễm tâm thần, các sự bám víu và ảo giác. Chúng ta phải can đảm đọ sức với chúng hầu khắc phục chúng. Khi đã chế ngự được chúng thì chúng ta sẽ thu phục được chúng dễ dàng hơn. Nếu không thì chúng sẽ điều khiển mình, nắm mũi mình mà lôi đi. Chúng sẽ xúi dục mình thèm khát mọi thứ, và khiến mình bị kiệt lực bằng đủ mọi mánh khóe.
Vậy chúng ta có nên cam phận làm thân trâu ngựa hay không? Có phải chúng ta là những con vật khuân vác, trên lưng chất đầy các thứ ô nhiễm tâm thần hay không? Có phải là các thứ ô nhiễm đó đã luồn vào mũi mình một sợi dây thừng để kéo đi hay không? Dầu sao thì đến một lúc nào đó mình cũng sẽ không còn đủ sức để kham nổi nữa và đành phải dừng lại - dừng lại có nghĩa để theo dõi xem những thứ ô nhiễm ấy hiện ra như thế nào, muốn gì, ngấu nghiến những gì, ham thích những gì. Các bạn nên xem việc luyện tập này như là một thú tiêu khiển mà mình ưa thích nhất: đấy là cách nhìn vào các thứ ô nhiễm tâm thần để theo dõi xem chúng diễn biến ra sao, nhưng không được phép nuôi dưỡng chúng mà phải bỏ đói chúng, tương tự như một người tìm cách loại bỏ các thói quen nghiện ngập của mình. Hãy chú ý xem chúng thèm ăn đến mức độ nào? Phải quyết tâm không cho chúng ăn. Dù bất cứ gì xảy ra thì nhất định cũng không chiều chuộng chúng bằng cách cho chúng các thứ ma túy mà chúng nghiện ngập. Dầu sao thì cũng có rất nhiều các loại thức ăn khác (roi vọt chẳng hạn). Chúng ta phải cứng rắn với chúng, có nghĩa là cứng rắn với "cái tôi" đang đòi hỏi đủ mọi thứ. "Mi đói lắm à? Vậy thì cứ đói! Mi sắp chết à? Tốt lắm! Mi cứ chết". Nếu giữ vững được thái độ đó thì các bạn sẽ loại bỏ được mọi thói quen nghiện ngập và các thứ ô nhiễm tâm thần của mình, có nghĩa là các bạn sẽ không còn nô lệ cho các sự thèm khát, không còn dung dưỡng những thứ ham muốn vật chất nữa. Đây cũng là lúc thuận tiện nhất để các bạn dừng lại, không nên tiếp tục nuôi dưỡng các thói quen của mình nữa. Nếu chúng có tàn lụi và chết thì cứ để cho chúng chết! Tại sao lại phải nuôi dưỡng và vỗ béo chúng làm gì?
Dầu sao đi nữa các bạn cũng phải đè nén các sự thèm khát và các thứ ô nhiễm tâm thần của mình cho đến khi nào chúng yếu dần và tan biến hết. Không nên để chúng ngóc đầu lên, phải luôn kềm giữ chúng. Đấy là một phép luyện tập mang tính cách trực tiếp mà các bạn nên mang ra thực hành. Nếu phấn đấu và kiên trì luyện tập cho đến khi nào tất cả mọi thứ ô nhiễm tan biến hết thì đấy sẽ là một vinh quang tuyệt vời nhất; không có một vinh quang nào có thể sánh được với vinh quang mang lại từ sự chiến thắng các thứ thèm khát và ô nhiễm bên trong tâm thức và con tim mình (chiến thắng chính mình rất khó nhưng cũng cao cả và tuyệt vời nhất, so với bất cứ chiến thắng nào khác trong thế giới này - thí dụ một ứng cử viên có thể chinh phục được hằng triệu người nhưng không đè nén được các thứ ô nhiễm của bản năng truyền giống thúc đẩy bên trong chính mình).









