Thứ Tư, 12 tháng 5, 2021

CỤ ÔNG CÂM ĐIẾC BÁN VÉ SỐ DẠO TỪ CHỐI 75 TRIỆU: ‘HÃY ĐỂ TIỀN CHO NGƯỜI KHÓ KHĂN HƠN TÔI’

 Những ngày qua, câu chuyện của cụ ông câm điếc bán vé số trả lại số tiền hỗ trợ 75 triệu đồng khiến nhiều người xúc động. Đằng sau đó là bài học đáng suy ngẫm về “biết đủ là hạnh phúc”.

Cụ ông bán vé số dạo Sài gòn và câu chuyện từ chối 75 triệu đồng khiến cộng đồng mạng xúc động và nể phục. (Ảnh qua MUC News)

Không nhận tiền để nhường cho những người khó khăn hơn

Hằng ngày, cụ ông Vũ Văn Sơn (63 tuổi) cùng với chiếc xe đạp của mình rong ruổi bán vé số trên khắp các nẻo đường Sài Gòn. Trước xe của ông có tấm biển ghi dòng chữ “Tôi bị câm điếc xin cô bác làm ơn giúp đỡ”

Thương cảm trước hoàn cảnh của ông, cô gái Nguyễn Đỗ Trúc Phương đã đứng ra kêu gọi sự giúp đỡ của những nhà hảo tâm. Sau khi kêu gọi, số tiền 75 triệu đồng được Trúc Phương liên hệ gửi tặng đến cụ ông. Tuy nhiên, ông lại từ chối không nhận. Phải đến khi gặp lại lần hai và “năn nỉ” thì cụ ông mới chịu nhận lấy 5 triệu và ra hiệu dành tặng số tiền còn lại cho những người có hoàn cảnh khó khăn hơn. 

Điều này khiến Trúc Phương không khỏi bất ngờ vì đây là lần đầu tiên cô gặp một người được kêu gọi giúp đỡ lại không nhận tiền, đặc biệt là một số tiền lớn như vậy. Từ việc này cô học được một bài học rằng khi biết đủ, tự lòng mình sẽ thấy an nhiên.

Chiếc xe đạp được ông Sơn mua với giá 200.000 đồng từ tiền tích góp bán vé số. (Ảnh qua Thanh Niên)

Khi được hỏi tại sao ông lại không nhận hết số tiền người ta giúp. Ngay cả việc mua xe đạp mới ông cũng từ chối. Cụ ông viết vào giấy rằng: “Tôi bảo số còn lại nên giúp ai đó có hoàn cảnh khó khăn hơn tôi. Tôi tuy khổ nhưng còn đi kiếm tiền được, còn nhiều người có hoàn cảnh còn khó khăn hơn nên mình cần chia sẻ.”

“Xe đạp cũ mới gì cũng vậy, khi mình đã có tức là ngày hôm nay mình diễm phúc, bởi những gì đòi hỏi nó mang tính chất nhu cầu, mà nhu cầu thì không biết bao nhiêu mới đủ. Không ai bằng lòng với hiện tại cả. Xe này từ tiền bán vé số dành dụm, mua lại người ta giá 200.000 đồng”.

Có tình thương của mọi người là hạnh phúc rồi

Cụ ông Vũ Văn Sơn quê ở Long An. Ông cho biết mình có 2 người con gái đã lập gia đình, mỗi người có 2 em bé nên ông có 4 cháu ngoại. Còn vợ ông thì vẫn ở dưới quê đi làm cỏ, làm rẫy mướn cho người ta, có người thuê thì có ăn, không thì chờ thời.

Cụ ông ng nắn nót viết từng chữ đáp lại khi được hỏi. (Ảnh qua Thanh Niên)

Về phần mình, ông Sơn kể, do ngày xưa bị pháo rơi ngay hầm cá nhân, ông bị ra máu lỗ tai; họng, đầu bị miểng nhỏ văng vào sau đó tai không nghe được rồi dần dần không nói được.

Tính đến nay ông đã lên Sài Gòn mưu sinh được 2 năm nay. Hiện, ông được một người chủ lo cho chỗ ăn ngủ, lấy vé số không vốn để đi bán kiếm tiền. Một ngày của ông bắt đầu từ 5h30 sáng. Ông thường ngồi ở đường Trần Hưng Đạo (Q.1, TP.HCM) đến 7h hơn thì di chuyển. Buổi tối ông Sơn sẽ đến ngã tư Điện Biên Phủ – Hai Bà Trưng (Q.3, TP.HCM) bán tiếp vé số. Tầm 21 giờ, ông lại đạp xe ra vòng xoay Hàng Xanh (Q.Bình Thạnh) bán đến hơn 23 giờ mới về.

Ông Sơn cho biết mỗi ngày ông đi mỗi hướng khác nhau và lý giải: “Mình phải đổi đường chứ ngày nào người ta cũng thấy mình rồi cứ mua như họ “nợ” mình vậy”.

Cụ ông câm điếc bán vé số từ chối 75 triệu đồng tiền ủng hộ gây xúc động. (Ảnh qua Dân Trí)

Khi được hỏi về mong muốn của mình thì ông lại trầm ngâm viết lên trang giấy rằng: “Có tình thương của mọi người dành cho tôi là tôi hạnh phúc lắm rồi, có tiền nhiều mà không có tình thương của mọi người, không có tình thương của mấy cháu thì nó giống như cây khô thiếu nước vậy. Tôi chỉ mong sao vợ, các con cháu luôn mạnh khỏe và tôi không còn bệnh huyết áp nữa là tôi vui rồi, chỉ mong vậy thôi”.

Khi đọc được những chia sẻ trên, nhiều người không khỏi xúc động và nể phục cụ ông. Nể phục không chỉ về việc “biết đủ” mà còn là về tấm lòng thiện lượng của cụ ông. Chúng ta thường nghĩ rằng, chỉ khi mình có mới có thể cho đi nhưng ngay cả khi cuộc sống vẫn còn nhiều khó khăn vất vả, cụ ông đã nghĩ đến việc san sẻ với những người có hoàn cảnh khó khăn hơn.

Yên Yên (t/h)


Thứ Ba, 11 tháng 5, 2021

PHẬT DẠY: GIỮA CHA MẸ VÀ CON CÁI LUÔN CÓ MỐI DUYÊN NỢ NGÀN NĂM

 


Phật dạy rằng con cái đến với cha mẹ kiếp này là có duyên nợ, nếu không có nợ nhất định không gặp được nhau.

Phật có dạy rằng, con cái phải có duyên mới cha mẹ thì mới đến nhà. Đứa con trai ở kiếp này, là chủ nợ của bạn ở kiếp trước, để đòi món nợ chưa trả. Đứa con gái ở kiếp này, là người tình ở kiếp trước, tới vì tình cảm chưa dứt. Đây không phải là mê tín mà là nhân quả luân hồi, là số kiếp. Phật thường nói rằng nếu không nợ nhau thì làm sao gặp gỡ”.

Hãy cùng đọc câu chuyện sau:

Ở một ngôi làng kia, có một cặp vợ chồng nông dân. Hai vợ chồng họ mãi mới sinh được một cô con gái. Nhưng con gái họ vừa chào đời đã có nhiều bệnh tật, thường xuyên ốm yếu. Cũng chính vì có một đứa con mà con lại ốm yếu nên hai vợ chồng họ rất yêu thương đứa con này, đứa trẻ muốn gì được đấy.

Vì để chữa bệnh cho con gái, tiền của và tài sản trong nhà họ lần lượt ra đi. Vào năm con gái họ tròn 18 tuổi, tài sản trong nhà chỉ còn lại 1 con ngựa duy nhất. Một ngày, con gái họ lại chỉ vào con ngựa này và nói: “Con muốn ăn thịt ngựa, cha mẹ hãy làm thịt con ngựa này đi.”

Hai vợ chồng người nông dân nhìn con ngựa khỏe mạnh, là tài sản duy nhất trong nhà, giúp làm việc đồng áng nên không nỡ lòng giết nó. Nhưng nhìn cô con gái duy nhất đang nằm trên giường thoi thóp thì trong lòng lại thấy đáng thương.

Trong lúc hai người họ còn đang phân vân thì cô con gái kia lại nhắc lại một lần nữa: “Con đang rất muốn ăn thịt ngựa. Cha mẹ không giết thịt con ngựa này đi thì con sẽ chết mất.”

Hai vợ chồng họ thấy con gái nói như vậy liền vô cùng luống cuống hoảng loạn liền mang con ngựa ra giết thịt. Sau khi làm thịt con ngựa, vợ chồng họ làm món hầm cho con gái ăn. Nhưng thật không ngờ, chỉ nửa canh giờ sau khi ăn, con gái họ nằm trên giường mà chết.

Hai vợ chồng người nông dân gào khóc thảm thiết. Hàng xóm láng giềng đến an ủi động viên nhưng cũng không thể làm vơi đi nỗi đau mất con trong lòng họ.

Con gái chết đi là một sự đả kích rất lớn đối với họ. Mặc dù họ biết rằng, từ khi con gái ra đời đều là mang đến vô cùng nhiều họa nạn, đến mức mà ngay cả tiền làm tang chôn cất cũng không còn. Nhưng vì thương con, vợ chồng họ cũng không còn thiết sống, cả ngày thẫn thờ.

Thấy thương cho tình cảnh của hai vợ chồng họ, một người đàn ông trong làng đã tìm đến nhà nói với họ rằng: “Ở ngôi chùa ở phía nam của ngọn núi kia có một lão hòa thượng. Ông ấy có thể giải phá được rất nhiều chuyện ly kỳ. Hai người thử lên núi tìm gặp lão hòa thượng để hỏi về chuyện của con gái hai người xem.”

Thế là, hai vợ chồng người nông dân này trèo đèo lội suối tìm đến gặp lão hòa thượng để thỉnh giáo. Sau khi kể hết sự tình về con gái từ khi ra đời đến lúc mất đi, người chồng cất lời hỏi: “Thưa thầy, không biết nhân duyên kiếp trước của vợ chồng con và đứa con gái này là như thế nào ạ?” Vị lão hòa thượng nghe xong không nói gì mà nhắm mắt lại ngồi thiền nửa ngày. Sau đó, ông chậm rãi nói: “Ở kiếp trước, thí chủ còn nợ con của thí chủ một khoản nợ nên kiếp này phải hoàn trả. Hai người có muốn biết kỹ càng về khoản nợ này không?”

Hai vợ chồng họ phủ phục trước mặt lão hòa thượng rồi nói: “Chúng con muốn biết nguyên nhân thực sự là gì? Xin lão phương trượng nói chi tiết ạ!”

Lão hòa thượng vừa nhắm mắt lại vừa chậm chạp nói: “Ở kiếp trước, con gái của hai người là thiên kim tiểu thư của một gia đình giàu có. Vào năm thiên kim tiểu thư này 18 tuổi, cha mẹ họ cùng cô con gái của mình đi thăm người thân. Không ngờ giữa đường lại gặp một toán cướp. Thủ lĩnh của toán cướp đó chính là con ngựa của nhà thí chủ ở kiếp này, còn hai thí chủ khi đó là đám thuộc hạ của nó. Ba tên cướp này đã cướp sạch tài sản của nhà họ, giết chết cha mẹ cô gái, đánh đuổi người nhà họ, tên thủ lĩnh còn cưỡng hiếp cô ấy.

Cuối cùng, vị tiểu thư này đứng trên vách núi thề rằng: “Kiếp sau nhất định ta phải lấy đầu tên thủ lĩnh này để trả mối hận trong lòng mình.” Nói xong, vị tiểu thư này nhảy xuống núi tự vẫn. Về sau, tên thủ lĩnh vì cướp bóc quá nhiều chết bị đầu thai thành súc sinh, còn hai thí chủ về sau có làm việc thiện nên vẫn được đầu thai làm người nhưng phải hoàn trả khoản nợ kia. Vị tiểu thư kia chuyển sinh làm con gái của hai người chính là để đòi nợ kiếp trước.”

Theo lời của Đức Phật, có 4 loại nhân duyên giữa cha mẹ và con cái

Loại thứ nhất là báo ân: Trong quá khứ đôi bên có ân huệ với nhau, kiếp này một người sẽ về làm con để báo đáp ân tình xưa.

Loại thứ hai là báo oán: Kiếp trước bạn kết hận với họ, vì thế kiếp này họ tìm đến làm còn để báo thù, kiểu con này là dạng phá gia chi tử, ương bướng, khó bảo.

Loại thứ ba là đòi nợ: Cha mẹ thiếu nợ chúng nó, chúng nó đến đòi nợ. Nếu thiếu nợ ít, nuôi hai, ba năm, con bèn chết. Nếu thiếu nợ nhiều, đại khái là nuôi đến khi tốt nghiệp đại học, sắp có thể làm việc bèn chết mất. Nợ đã đòi xong, nó bèn ra đi.

Loại thứ tư là trả nợ: Con cái thiếu nợ cha mẹ quá khứ (hay đời quá khứ) hiện tai hay đời này gặp gỡ, nó phải trả nợ. Nó phải nỗ lực làm lụng để nuôi nấng cha mẹ. Nếu nó thiếu nợ cha mẹ rất nhiều, nó cung phụng cha mẹ vật chất rất trọng hậu. Nếu thiếu nợ rất ít, nó lo cho cuộc sống của cha mẹ rất tệ bạc, miễn sao quý vị chẳng chết đói là được rồi. Hạng người này tuy có thể phụng dưỡng cha mẹ, nhưng thiếu lòng cung kính, chẳng có tâm hiếu thuận.

* Thông tin chỉ mang tính chất tham khảo, chiêm nghiệm!

 Theo Khỏe & Đẹp

 


Thứ Hai, 10 tháng 5, 2021

SUỐT ĐỜI PHỤNG TRÌ PHẬT PHÁP (Thơ Xướng hoạ)

 




Suốt đời phụng trì phật pháp

Kính tưởng niệm Lão Cư Sĩ An Hiển Nguyễn Minh Hiển 
Thành tâm phân ưu Cư Sĩ Nguyễn Minh Tiến cùng toàn gia tang quyến..

Phật Pháp phụng trì cũng bởi duyên
Đường tu tuy gián vẫn thanh hiền
Thiếu thời bình ổn duy trì đạo
Lớn tuổi loạn ly chuyển khắp miền
Quảng Ngãi nơi sinh tu học tốt
Sông Xoài cư ngụ chữ xưng tuyên
Gia đình Phật hóa truyền lưu mãi
Thanh thản vãng sanh thật phước điền.

Nam Mô A Di Đà Phật
Chùa Pháp Hoa, Adelaide, Nam Úc, 09/05/2021 (28/3/Tân Sửu)
TK, Thích Viên Thành
 
Tuỳ Thời Minh Hiển Hạnh 

Kính Tưởng Niệm Lão Cư Sĩ Nguyễn Minh Hiển
Kính họa bài:” Suốt Đời Phụng Sự Đạo Pháp” của Thầy Thích Viên Thành.
Thành Kính phân ưu cùng cư sĩ Nguyên Minh-Nguyễn Minh Tiến và gia quyến.
Kính nguyện hương linh lão cư sĩ Minh Hiễn sớm tiêu diêu nơi miền Phật Quốc.


Sanh thời Phật Pháp kết lương duyên 
Học đạo xuất gia thoả chí nguyền
Báo Quốc nghiên tầm kinh bối diệp
An Nam khảo cứu pháp hương nguyên
Trần đời lắm chướng ngăn đường đạo
Thế sự đa đoan cản lối thiền
Dẫu vậy tuỳ thời Minh Hiển hạnh
Ngày về cõi Phật ngát hương liên...!

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật 
California, 4:00 am, 06-05-2021
Trúc Nguyên-Thích Chúc Hiền (kính họa)

Suốt đời phụng trì phật pháp
 
Kính tưởng niệm Lão Cư Sĩ An Hiển Nguyễn Minh Hiển
Thành tâm phân ưu Cư Sĩ Nguyễn Minh Tiến cùng toàn gia tang quyến..

Nương đời học Phật bởi do duyên,
Hạnh nguyện trùng kinh sáng đạo hiền.
Thảy sự cùng thời vun vạn phúc,
Nhiêu thu dịch sách cảm bao miền.
Chua phần Hán tự dày công tập…
Chú giải điển từ rạng nghĩa tuyên.
Khắp chúng thầm gương, tên xướng mãi,
Vãng sanh cõi tịnh thấm ân điền.
 
Nam Mô A Di Đà Phật
Việt Nam, 10/5/2021
PT. Minh Đạo (kính hoạ)

Thứ Bảy, 8 tháng 5, 2021

CẦN HIỂU ĐÚNG VỀ NHÂN QUẢ NGHIỆP BÁO

 


Nhân quả nghiệp báo được hình thành trên cơ sở tuệ giác của Đức Phật. Trí tuệ giác ngộ thấy biết rõ nguyên lý của vũ trụ vạn hữu, chân tướng của sự vật hiện tượng, con đường vận hành của các pháp, bản chất của đời sống. Giúp lý giải những nghi vấn mà con người chưa tìm ra lời giải đáp.


Nhân quả nghiệp báo là gì?


Trích dẫn Kinh Trung bộ Đức Phật truyền rằng: “Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhiên, vượt tri kiến phàm tục. Ta thấy cách chúng hữu tình sinh tử như thế nào. Ta thấy rõ cao quý hay hạ liệt, thông minh hay ngu si. Mỗi chúng sinh được tái sinh cõi lành hay cõi dữ tùy theo hạnh nghiệp của mình, và ta biết rõ. Những ai đã tạo ác nghiệp về thân, khẩu, ý. Sau khi thân hoại mạng chung sẽ tái sinh vào khổ cảnh, vào đọa xứ, địa ngục. Song những ai tạo thiện nghiệp về thân, khẩu, ý sẽ được tái sinh vào cõi lành, lên thiên giới”. 

Ở một bài kinh khác, khi có người hỏi: “Do nguyên nhân nào mà trên cõi thế gian có người yểu mạng, có người thọ mạng; Có người bệnh hoạn, có người khỏe mạnh; Có người xấu xí, có người đẹp đẽ. Do nguyên nhân nào có người nghèo khổ, có người giàu sang; Có người sinh ra trong gia đình bần tiện, có người sinh ra trong dòng dõi cao sang; Có người ngu mê tăm tối, có người thông minh tài trí?”.

Đức Phật đáp rằng: “Tất cả chúng sinh đều mang theo cái nghiệp của chính mình như một di sản, như vật di truyền, như người chí thân, như chỗ nương tựa. Chính vì cái nghiệp riêng của mỗi chúng sinh mỗi khác nên mới có cảnh dị đồng giữa các chúng sinh” (trích Trung A-hàm, kinh Anh vũ, 170; Trung bộ, kinh Tiểu nghiệp phân biệt, 135). Và trong kinh Tăng chi bộ, Đức Phật đã khẳng định rằng: “Ta là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự nghiệp. Nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào sẽ tạo, thiện hay ác. Ta sẽ thừa tự nghiệp ấy” (chương 10 pháp, phẩm Thân do nghiệp sanh).

Như vậy, ta có thể thấy rằng Nghiệp là hành vi của thân, khẩu, ý (suy nghĩ, ý muốn, ý định, nói năng, hành động, thói quen). Hay còn gọi là “hành động có tác ý” trong ngôn ngữ nhà Phật. Nghiệp tạo tác đến con người bằng cách tạo ra đặc điểm, tính cách,thân phận… mỗi con người. Tạo ra hạnh phúc hay khổ đau mà con người phải gánh chịu. Dẫn con người tái sinh từ cảnh giới này sang cảnh giới khác.

Tất cả những gì được tạo ra từ Nghiệp được gọi chung là Nghiệp quả. Nghiệp gồm có nghiệp cũ và nghiệp mới, có biệt nghiệp và cộng nghiệp.

Nghiệp cũ là những nghiệp được tạo ra từ kiếp trước; Nghiệp mới nghiệp được tạo ra trong kiếp này.

Biệt nghiệp là nghiệp của do cá nhân mình tạo ra; Cộng nghiệp là do những biệt nghiệp giống nhau gộp thành, từ cộng đồng, xã hội, quốc gia…

Nghiệp nhân tức nguyên nhân tạo ra nghiệp sẽ dẫn đến nghiệp quả (kết quả nhận lấy khi tạo tác nghiệp). Nhưng thời gian đưa đến nghiệp quả tùy thuộc vào nhiều yếu tố. Có thể là mức độ (sức ảnh hưởng, mắc nghiêm trọng), là năng lực gánh chịu và tác nhân duyên gộp thành khác. Chứ không phải ai cũng có thể nhận nghiệp như nhau trong cùng một khoảng thời gian như nhau.

Người ở kiếp này sẽ không thể nhớ hết (và có khi chẳng nhớ hết) những gì mình đã tạo tác nghiệp từ kiếp trước. Nhân quả – Nghiệp báo trong ba thời (quá khứ, hiện tại, tương lai) không ai có thể tường tận được. Bởi nghiệp của kiếp trước ta không rõ nguyên nhân, hành động của kiếp này ta không rõ kết quả của kiếp sau. Tuy nhiên không vì thế mà nghĩ rằng nghiệp là bất biến.

Kiếp trước sống ác nhân ác đức thì kiếp này sẽ nhận lấy nghiệp báo. Nếu hành thiện tích đức, tích cực hóa giải nghiệp báo thì những phiền não, tai ương sẽ thuyên giảm phần nào. Điều này sẽ được giải thích chi tiết trong phần dưới đây.

Hiểu nhân quả nghiệp báo như thế nào cho đúng?

Do nghiệp mà một người không thông minh. Nên người đó phải chấp nhận, không cần phải học tập, trau dồi trí tuệ. Do nghiệp mà một người phải sống trong cảnh nghèo hèn khốn khó. Người đó phải cam chịu, dù cố gắng phấn đấu cũng không ích gì.

Do nghiệp mà người có tính hung dữ, tham lam ích kỷ, có tính đố kỵ… Người đó phải chấp nhận, người khác cũng phải chấp nhận, không thể nào sửa đổi cho tốt hơn, không thể nào trau dồi nhân cách để trở thành người có đạo đức.

Cho rằng phàm phu vẫn mãi là phàm phu. Phàm phu không thể trở thành bậc Thánh. Vì cái nghiệp đã định như thế nên không cần phải nỗ lực tu tập… Đó đều là những quan niệm tiêu cực, là nhận thức sai lầm về Nhân quả nghiệp báo.

Có thể trong quá khứ gần hoặc lâu xa, người nọ tạo những nghiệp nhân như thế nào đó (nghiệp cũ) mà hiện tại họ phải mang thân tật nguyền, nghèo khó (quả báo, nghiệp quả). Nhưng nếu trong hiện tại người ấy biết tạo nghiệp nhân (nghiệp mới) tốt, có tính chất tích cực thì họ vẫn sống vui vẻ hạnh phúc.

Đời này họ không còn nghèo khổ khốn khó hoặc đời sau họ sinh làm người giàu sang. Mọi trường hợp khác cũng thế! Con người có thể thay đổi hoàn cảnh, thay đổi bản thân nhờ sự chuyển hóa nghiệp. Vậy làm thế nào?

Hãy bắt đầu từ thay đổi quan niệm sống, thay đổi tư duy, hành động, thái độ sống. Chẳng hạn như biết nỗ lực học tập, trau dồi nhân phẩm đạo đức, rèn luyện bản thân, làm nhiều việc tốt, khéo sống, biết tu tập.

Nếu cho rằng Nghiệp định sẵn điều kiện bản thân, hoàn cảnh sống của con người. Và con người không thể thay đổi, con người phải chấp nhận “trả nghiệp”, gánh lấy hậu quả của tất cả nghiệp nhân đã tạo trong những đời trước và quá khứ của đời này thì không đúng.     

Có nhiều người quan niệm sai lầm, tiêu cực về Nghiệp: Hiện tại tôi phải cố gắng cam chịu sự bất công, oan ức, nghèo khó hoặc bệnh hoạn, tật nguyền, các nỗi bất hạnh để “trả cho hết nghiệp”… Vì tôi đã tạo nghiệp xấu, ác, bất thiện trong quá khứ (đời này hoặc các đời trước). Phải trả hết nghiệp, nhận chịu đủ quả báo của những nghiệp quá khứ rồi tôi mới có thể thọ hưởng sự an lạc, hạnh phúc, những quả báo tốt đẹp của những nghiệp nhân hiện tại.

Còn mọi cố gắng nỗ lực trong hiện tại là để mười năm, hai mươi, ba mươi năm… hay nhiều hơn nữa (hoặc đến đời sau), sau khi đã trả hết nghiệp cũ thì mới có thể thọ hưởng kết quả của nghiệp mới, mới có thể hết khổ, mới được giàu sang, sung sướng, hạnh phúc. Đó là quan niệm sai lầm về Nghiệp.

Nhân quả nghiệp báo thực hành như thế nào cho đúng?

Như Đức Phật đã dạy, con người là chủ nhân của Nghiệp. Trong hiện tại, con người có thể tạo những nghiệp mang lại an lạc, hạnh phúc cho mình cho dù mình đang sống trong hoàn cảnh nào. Dang phải nhận chịu quả báo của những nghiệp trong quá khứ đời này hay đời trước.

Con người có thể tạo ra những nghiệp mới theo chiều hướng tích cực để khắc phục hậu quả của những nghiệp đã tạo trong quá khứ. Con người có thể chuyển nghiệp ngay trong hiện tại và hoàn toàn đạt được an lạc hạnh phúc. Giải thoát khỏi phiền não khổ đau ngay trong hiện tại. Cuộc đời Đức Phật, các vị Thánh đệ tử, chư Tổ, các vị thiền sư… đã chứng minh điều này.

Ngay cả những người tu tập Phật pháp, dù chưa đạt đến cảnh giới giác ngộ giải thoát cũng có được an lạc hạnh phúc khi biết chuyển nghiệp. Và không chỉ người tu hành, những ai có quyết tâm cải thiện bản thân. Thay đổi tư duy, hành động, lối sống của mình theo chiều hướng tích cực cũng đều có được an vui, hạnh phúc ngay trong hiện tại.

Trong vô lượng kiếp sống quá khứ, con người đã tạo biết bao nhiêu nghiệp nhân thiện (tốt, tích cực) và bất thiện (xấu, tiêu cực). Nếu phải nhận lãnh quả báo của tất cả những gì đã tạo. Và những gì đã làm trong hiện tại là vô nghĩa thì thật là điều vô lý.

Tại sao nghiệp nhân quá khứ có nghiệp quả. Mà nghiệp nhân trong hiện tại mới tạo ra đây lại không đưa đến nghiệp quả? Như thế thì con người không thể thay đổi bản thân, không thể làm cho đời sống của mình tốt hơn, không thể thay đổi xã hội hay sao? Nghiệp cũng như các pháp hữu vi khác đều là duyên sinh, bất định, vì thế khi nghiệp quả chưa hình thành thì con người vẫn có cơ hội làm thay đổi nghiệp. Quá trình thay đổi nghiệp, trong đạo Phật gọi là chuyển nghiệp, chuyển hóa nghiệp.

Chính vì có thể chuyển nghiệp, làm thay đổi Nhân quả nghiệp báo. Nên con người có thể cải thiện đời sống, hoàn thiện bản thân. Có thể tu tập để giác ngộ, giải thoát. Cũng cần hiểu rằng, nghiệp của kiếp trước là do những hành động trong kiếp ấy thực hiện. Nếu kiếp này có phải gánh chịu hậu quả. Thì không có nghĩa vì thế mà ta thôi hành thiện tích đức. Bởi lẽ ta còn muôn vàn kiếp sau nữa.

Theo: Thienvien.vn

Thứ Sáu, 7 tháng 5, 2021

DUYÊN KHỞI LUẬN CỦA PHẬT GIÁO

 


Duyên khởi pháp đầy đủ, không - giả - trung còn gọi là Tam đế. Duyên khởi vô tự tính cho nên gọi là không, không tức là tự tính không, cũng tức là vô ngã, cho nên nói do duyên khởi pháp sinh diệt vô thường, không phải thực hữu, không chấp không cũng không chấp có tức là thực tướng.

“Nhân tính bình đẳng” cho đến “chúng sinh bình đẳng” là tư tưởng cốt lõi của giáo dục Phật Đà, giá trị của Phật Pháp chính là để hết thảy chúng sinh được ly khổ đắc lạc, đạt cứu cánh Niết Bàn tịch tĩnh. Do đó Phật Thích Ca dùng phương pháp giáo dục chỉ dạy chúng sinh liễu tri Phật pháp, rồi dùng Phật Pháp giác ngộ tha nhân; vì thế mà đề xướng chúng sinh bình đẳng “mọi chúng sinh đều có Phật tánh, đều có thể thành Phật”, đó là chân lí thiên cổ không bao giờ mất đi giá trị. 

Phật Giáo cho rằng vũ trụ vạn vật cho đến hết thảy hiện tượng trên thế gian đều do “duyên khởi tính không, nhân duyên hòa hợp” mà tồn tại. Kinh Kim Cang nói : “nếu thế giới thực có, tức là nói nhất hợp tướng, nhất hợp tướng tức là bất khả thuyết” chỉ do kẻ phàm phu còn lòng tham chấp. Lý luận này cũng là điểm khác biệt của Phật Giáo so với các tôn giáo khác, ở chỗ phủ định Thần Tạo Luận (do thần thánh tạo ra thế giới) mà công nhận chân lý “duyên khởi thuyết” và “hòa hợp luận”, đó là những quan điểm cho thấy sự khác biệt của Phật giáo. Phật pháp cho rằng vạn vật đều nương tựa bổ trợ lẫn nhau, tác động lẫn nhau mà hình thành và tồn tại, nhân quả luận cái này sinh dẫn đến cái khác sinh, chủ trương vạn vật duyên sinh tương hỗ mà thành, không phải là do thần tạo.

Thuyết duyên khởi của đạo Phật

Bà La Môn giáo cho rằng vũ trụ vạn vật đều do đấng Phạm Thiên (Brahma) tạo ra, là chuyển hóa của “thần ngã”, từ một loại nhân chung gốc chuyển biến thành vạn tượng sự vật, gọi là “chuyển biến thuyết”. Luận thuyết “thần tạo luận” này cũng là bản ý đầu tiên hình thành nhiều tôn giáo khác trên thế giới. Phật Thích Ca cũng phủ định “lục sư” ngoại đạo thời bấy giờ nhấn mạnh rằng vạn vật vũ trụ là do nhiều loại nguyên tố tập hợp mà thành, cũng tức nói nhiều loại phần tử bằng những hình thức khác nhau cấu thành vạn tượng phức tạp, cũng tức là nói thuyết tích tụ “nhất nhân” chỉ có nhân quả một chiều.

Phật Thích Ca Mâu Ni đề xuất thuyết “duyên khởi”, cho rằng mọi sự vật đều dựa vào nhau mà tồn tại, tác động lẫn nhau, sự tồn tại của tất cả mọi thứ đều lấy sự tồn tại của những thứ khác làm điều kiện chung, vì thế nói “cái này có làm cho cái khác có, cái này sinh làm cho cái khác sinh”. Quan điểm vạn vật dựa vào nhau tồn tại, làm điều kiện cho nhau tồn tại mà Thuyết Duyên Khởi thể hiện đã phủ định “chuyển biến thuyết” của Bà La Môn và thuyết “nhất nhân” một chiều của Lục sư ngoại đạo; cũng tức là phủ định thần tạo luận, mà chủ trương vạn vật duyên sinh phi thần luận.

Phật Giáo giảng “duyên khởi”, do đó có nhiều nhân duyên sinh ra pháp, từ đó sinh ra nhiều vấn đề kéo theo, vì thế chú trọng hiện tượng nghiệp lực sinh ra trong quá trình sinh sống của con người, hiện tượng này không phải điều diễn biến bên ngoài sự vật mà ngay trong quá trình sinh tồn. Sự kiến lập của lý luận này bắt nguồn từ sự quán chiếu toàn bộ quá trình nhân sinh, chứ không chỉ riêng là quan sát hiện tượng vũ trụ; vì thế  Phật Thích Ca chia đời người ra làm năm phần, chín phần, mười phần, mười hai phần. Về sau thuyết 12 phần của Phật giáo Đại Thừa trở thành cách nói thống nhất, tức thuyết thập nhị nhân duyên. Duyên khởi mà Phật Học giảng giải chính là bắt nguồn từ thuyết thập nhị nhân duyên. Như “Lữ Trừng Cư sĩ” trong “Duyên khởi và thực tướng” làm rõ ba loại duyên khởi, càng làm cho học thuyết duyên khởi thêm hệ thống và sâu sắc.

Covid-19 dưới góc nhìn lý duyên khởi

Loại thứ nhất “nghiệp hoặc duyên khởi” là thuyết Duyên khởi căn bản và nguyên sơ nhất, còn gọi là “phân biệt ái phi ái duyên khởi”, hay “thập nhị nhân duyên còn gọi là thập nhị hữu chi”. Thập nhị chi gồm có: Vô Minh, Hành, Thức, Danh Sắc, Lục Nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu, Sinh, Lão Tử. Thập nhị hữu chi lấy Vô Minh làm đầu, lấy Lão Tử làm điểm cuối để miêu tả quá trình hiện tượng nhân sinh; bởi vì có sinh nên có già chết, đó chính là gốc nguồn đau khổ của cuộc đời; vì vậy Phật giáo chủ trương nếu không có chết thì chỉ có một con đường đó là không sinh ra.

Loại thứ hai là “thọ dụng duyên khởi”, được tạo ra trên cơ sở của “nghiệp hoặc duyên khởi”. Thọ dụng duyên khởi chủ yếu làm rõ sự đan xen lẫn nhau của hai phương diện hiện tượng chủ quan và khách quan, từ đó hình thành các hiện tượng nhân sinh với những quan hệ nhân quả nội tại. Nội dung của thọ dụng duyên khởi là ba loại pháp môn gồm uẩn, giới, xứ; trong đó “Ngũ uẩn” có thể cho thấy rõ đặc trưng của duyên khởi này hơn cả. Uẩn “Sắc” trong ngũ uẩn thuộc về hiện tượng khách quan, uẩn “Thức” thuộc về hiện tượng chủ quan; thọ, tưởng, hành nằm giữa hai loại này nhưng thiên về hiện tượng chủ quan nhiều hơn. Sự tiếp xúc giữa Thức và Sắc buộc phải bắt đầu từ cảm thọ, sau đó từ Thọ tới Tưởng, từ Tưởng tới Hành, từ Hành tới Thức; do khác biệt trong cảm thọ khổ lạc mà sinh tâm tư yêu ghét, dẫn đến khác biệt trong hành động. Do đó Thọ có vai trò quyết định, nên gọi là “thọ dụng duyên khởi”. Duyên khởi quán của “Không Tông” chính là y theo ba loại hòa hợp giả Uẩn - Xứ - Giới của hữu tình tương tục nương nhau giả để hình thành nghiệp cảm duyên khởi, chứ thực chất không có một thực thể thật sự để thọ sinh cảm quả.

Loại thứ ba là “phân biệt tự tính duyên khởi”, tức là thuyết duyên khởi sinh ra sau cùng thời hậu kỳ Phật giáo Ấn Độ; bởi Phật Giáo tiếp nhận tư tưởng thần mật của ngoại đạo Bà La Môn dần dần xuống dốc hình thành hệ thống Mật tông thần mật của Phật giáo Ấn Độ hậu kỳ; do đó mất đi tư tưởng thuần túy và giải phóng truyền thống vốn có của Phật Giáo nguyên thủy. Phân biệt tự tính duyên khởi có thể xem như sự mở rộng một bước của Thọ dụng duyên khởi, đề cập đến cả vũ trụ nhân sinh, từ đó đắc được nhận thức về thực tướng. Phật Giáo Đại Thừa cũng nhấn mạnh vai trò của “cộng nghiệp”, để tiêu trừ ảnh hưởng của cộng nghiệp, sự giải thoát của con người chỉ có thể do cả nhân loại chứ không có cá nhân giải thoát hoàn toàn, như vậy có thể khiến cho phạm vi của duyên khởi mở rộng đến cả vũ trụ nhân sinh.

Hiểu biết về duyên khởi và nhân quả

Các tính của chư pháp bất đồng, thể hiện qua sự lí giải khái niệm “danh tưởng”. Danh tưởng không chỉ hạn chế ở ngôn thuyết, nó còn bao quát cả quan niệm biểu tượng trong tâm lí. Nhận thức về danh tưởng sau khi phát sinh và hoàn thành thì không hoàn toàn mất đi mà vẫn còn dư âm lưu lại làm căn cứ nhận thức lần sau, gọi là “tập khí” hay “huân tập”. Từ đó có thể phát sinh ý nghĩa nhận thức lần sau gọi là “công năng” hoặc “chủng tử”. Tập khí này khi lưu lại trong tâm lí sẽ còn bị ảnh hưởng từ các danh tưởng khác; từ đó phát sinh chuyển biến một cách không tự hay biết, tăng gia thế dụng, sức mạnh, đến khi phát triển tới một mức độ nhất định sẽ bộc phát thành một lần nhận thức nữa; quá trình diễn biến như vậy gọi là “chuyển biến sai biệt”. Tác dụng nhận thức biểu tượng cũng là sự tự chiếu của bản thân ý thức mà không có thực tại khách quan; thuộc về phạm trù trên mặt hiện tượng thể nhận thực tướng của Duy Thức phân biệt tự tính duyên khởi; muốn xem biểu tượng và bản chất có phù hợp hay không thì dùng Tam tính để biểu thị.

“Tam tính” tức: biến kế sở chấp tính, y tha khởi tính, viên thành thực tính. Khi nhận thức chưa hoàn mãn, sẽ bị ảnh hưởng bởi nhân ngã chấp và sẽ bị can nhiễu bởi ngã chấp; nên đối với sự vật chỉ có thể miễn cưỡng nhận thức bằng tưởng tượng, cho nên cái chúng ta nhận thức được chỉ là tự tướng được hình thành bởi sự phác họa của danh và tưởng chứ không phải bản chất của sự vật hiện tượng; thậm chí còn phủ lên nó một lớp mờ che đậy khác nữa, cho nên gọi đó là “biến kế tính” (biến: tức khắp thảy; kế: tức cộng dồn). Y cứ trên nó mà tiến hành những hành vi trong thực tiễn thì sẽ càng gia tăng đau khổ, biết rõ biến kế hư vọng nên cần phải gia tăng sự uốn nắn, giảm trừ chấp trước nhân pháp nhị ngã thì sẽ không bị sự chi phối của danh và tưởng, nhờ đó có thể hiểu rõ được bản chất của sự vật. Trước biết rõ sự nương dựa hỗ tương của hiện tượng duyên khởi, biết rõ biểu hiện cố định nhưng không phải là một tự thể độc lập nên càng nhận thức rõ hơn được y tha tính của sự vật hiện tượng, hiểu rõ được không có mối liên hệ giữa y tha tính và danh tưởng thì sẽ rời bỏ được sự buộc ràng của danh tưởng mà nhận thức rõ tính thực tại của nó, còn gọi là “ly ngôn tự tánh”.

Lý duyên khởi và bài học sâu sắc về cuộc sống

Bản chất của sự vật là không có nhận thức tự tính nên có thể tiêu trừ được sự chấp trước của nhân pháp nhị ngã, xa rời được năng sở nhị thủ, như vậy có thể từ tạp nhiễm chuyển hướng đến thanh tịnh, từ hữu lậu chuyển hướng đến viên mãn, thông qua thực tiễn để cuối cùng đạt đến thực tướng cứu cánh chính là “viên thành tính”. Thực tướng của tam tính lấy viên thành làm y chỉ; biến kế và y tha có thể đầy đủ ý nghĩa tương đối của thực tướng, thảy đều do trình tự của viên thành. Vũ trụ quan của Phật Giáo lấy duyên khởi làm căn bản, y nơi duyên mà nói thực tướng, hiểu biết nhận thức về thực tướng tức là nhận thức về bản chất của duyên khởi, cũng là không thể tách rời khỏi sự tu tập trong thực tiễn, thông qua sự tu tập trong thực tiễn để tịnh hóa tự ngã, thay đổi xã hội, cải thiện môi trường đều là căn bản của tự giác trong mỗi con người. Tự giác của mỗi người không ngừng hướng thượng, lấy việc thực hiện tự lợi lợi tha đạt đến điểm cuối cùng chính là giải thoát. Thực tiễn của việc tu tập là lấy việc tu hành giải thoát làm mục tiêu tối thượng.

“Trung Quán” nhấn mạnh, bất luận là nghị luận hay thực hành thì điều quan trọng là thể hiện được việc tu tập trong thực tiễn. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đầu tiên cũng lấy việc tu tập khổ hạnh rồi sau đó thể nhập chân lý tu hành trung đạo quán phi khổ phi lạc. Y cứ vào trung quán để thể nghiệm và quán sát thực tướng của chư pháp cần phải xa rời hết thảy sự phân biệt của danh và tưởng, biên kiến thiên kiến, không thể biểu rõ được thực tướng của sự vật, chỉ có tiêu trừ sự thiên chấp cực đoan, xa rời biên kiến thì mới có thể nghiệm và quán sát được bản chất của sự vật, vì thế sự tương ứng của trung và chân chính là trung đạo, cũng là sự thể hiện của tư tưởng Trung quán.

Tư tưởng Trung quán Đại Thừa của Bồ Tát Long Thọ xuất pháp từ lập trường của pháp môn bất nhị, nhấn mạnh bất sinh bất diệt, bất thường bất đoạn, bất nhất bất dị, bất lai bất khứ; “bát bất” này phá trừ phân biệt hư vọng, hiện thực ly rời hết thảy tri kiến, cũng gọi là “không quán”. Trung Luận chỉ rõ, “chúng nhân duyên sinh pháp, ngã thuyết tức thị không, diệc vi thị giả danh, diệc thị trung đạo nghĩa”. Duyên khởi pháp đầy đủ, không - giả - trung còn gọi là Tam đế. Duyên khởi vô tự tính cho nên gọi là không, không tức là tự tính không, cũng tức là vô ngã, cho nên nói do duyên khởi pháp sinh diệt vô thường, không phải thực hữu, không chấp không cũng không chấp có tức là thực tướng. Nhận thức của thực tướng đối với sự buông bỏ chấp ngã chính là thật nghĩa của vô ngã, càng chính là tính không của duyên khởi, chân thực tính của nhân duyên hòa hợp.

Thích Giải Hiền

KHÓI SÓNG (Thơ)

 


Mây chùng khói sóng khựng chân lê, (*)

Tuổi mộng xa rồi lắng thạch khê…

Dấu nỗi đời chênh ràng chốn ở,

Ghìm duyên phận mỏi ngại nơi về.

Hương tràn thức kẻ nghiêng bờ trúc,

Ruộng vẫy ươm tình rộn nẻo quê.

“ Thấy gốc phần “ theo từng kỷ niệm, (**)

Bên dòng xưa ấy chạnh lòng tê…

 

6/9/2018

Minh Đạo

--------------------------

 

( * ) “Nhật mộ hương quan hà xứ thị,

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

Hoàng Hạc Lâu (thơ Thôi Hiệu)

Quê hương khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai )

                         Tn Đà dch

 

(**)"Rộng thương còn mảnh hồng quần
Hoa tàn được thấy gốc phần là may".

        "Thấy gốc phần" - ao ước tội nghiệp của nàng Kiều nghĩa là gì? Chính là quê hương xuất xứ từ điển tích Hán Cao Tổ trong sách Hán Thư ghi "Cao Tổ đảo phong Phần Du xã" nghĩa là vua Hán Cao Tổ làm lễ đảo phong ở xã Phần Du. Phần Du là tên xã, tên quê hương Lưu Bang sau này là Hán Cao Tổ. Từ đó "phần du" hay theo cách nói người Việt "gốc phần" cũng là nói về tình quê, về quê hương.



 

Thứ Năm, 6 tháng 5, 2021

DỄ QUÊN QUÁ KHỨ CHÍNH LÀ MỘT LOẠI HẠNH PHÚC TRONG ĐỜI NGƯỜI

 


(Ảnh: Dazijia)

Trong cuộc đời của mỗi con người, sẽ có những ký ức tốt đẹp cùng với những ký ức không tốt đẹp. Ký ức tốt đẹp sẽ làm cho người ta nhớ mãi về nó, ký ức không tốt đẹp kia sẽ làm cho con người ta thống khổ mãi không thôi…

Sở dĩ có rất nhiều người luôn phiền não, thống khổ, chính bởi bản thân họ là một người có trí nhớ cực tốt, đối với những người và sự việc trước đây không buông bỏ xuống được, không quên được.

Liệu có cần làm cho bản thân mình mệt mỏi đến như vậy? Vì sao không thể làm một người dễ quên, sống cuộc đời vui vẻ thảnh thơi?

Quên mất mình đã cho người khác ân đức

Từ xưa có câu nói rất hay rằng: “Thi ân đừng mong báo đáp, mong báo đáp đừng thi ân”. Nhưng trong cuộc sống, có một số người sau khi đưa tay cứu trợ người khác liền cảm thấy đối phương thiếu mình cái ân tình, luôn để tâm rằng người khác phải biết ơn mình, phải biết hồi báo lại cho mình. Khi ở trước mặt người cũng thường cố ý bày ra thái độ cao ngạo, không tôn trọng đối phương.

Một hai lần còn chấp nhận, nhiều lần như thế cũng sẽ khiến những người đã từng nhận ân huệ to lớn của họ rất khó chịu. Như vậy, trong tâm người này lại càng thêm không thoải mái, cho rằng đối phương là người vong ân phụ nghĩa, cảm thấy chính mình lãng phí lòng tốt, trở nên thất vọng, tức tối thậm chí trở nên oán hận, vừa phiền não vừa thống khổ.

Giúp đỡ người khác vốn là một việc làm tốt, nhưng bởi vì luôn để ý, luôn nhớ rõ ở trong lòng cho nên trở thành gánh nặng, làm cho chính bản thân mình sống không thể vui vẻ, thoải mái.

Ai rồi cũng có lúc sẽ cần người khác đưa tay ra giúp đỡ, vì vậy hãy ghi nhớ sự giúp đỡ của người khác nhiều một chút, bớt nhớ cái ân giúp đỡ người khác của mình, thì cuộc sống của mình sẽ nhẹ nhõm đi rất nhiều.

Từ bỏ oán hận người khác cùng với những việc không như ý trước đây

Làm người ở đời sẽ gặp được rất nhiều người, trải qua rất nhiều sự việc, trong đó có thể có rất nhiều người khiến chúng ta tức đến phát điên, hận đến nghiến răng nghiến lợi, có thể có rất nhiều việc khiến chúng ta bị trói buộc, thậm chí ăn không ngon ngủ không yên.

Khi một người khoác lên tâm mình những oán hận thì chính là lúc đem lòng mình đi giam cầm vào trong tù ngục. Ánh mắt của họ lúc nào cũng nhìn chằm chằm vào cái người bị oán hận kia, rồi họ sẽ làm những việc không ý thức được với người kia, dần dần cuộc sống của họ càng lúc càng không như chính mình.

Mà không thoải mái cũng giống như một vết sẹo đau đớn, mỗi một lần nhớ đến thì nó sẽ phát tác đau đớn một lần; càng bám riết nhớ lấy nó, nó càng khó có thể lành lại.

Cho nên trong cuộc đời con người đừng ngại hãy dễ quên một chút, quên trước đây oán hận cùng với tức giận đối với người khác. Buông là sự giải thoát tốt nhất. Khi có một ngày chúng ta vứt bỏ được những việc này, chúng ta sẽ phát hiện rằng ánh mặt trời ấm áp kia đã lâu không thấy nay cuối cùng cũng xuyên qua bóng đêm chiếu rạng rỡ trên người mình.

Không nên luôn đắm chìm với hào quang quá khứ

Có người nói, đắm chìm với quá khứ huy hoàng là tảng đá trở ngại lớn nhất cho tương lai. Mỗi người đều có quá khứ, đều có thời xuân phong đắc ý, nhưng dù sao đó cũng là quá khứ. Mà trong cuộc sống có rất nhiều người không hiểu điều này, cứ lấy quá khứ đi định nghĩa cuộc sống hiện tại của mình.

Thấy cuộc sống người khác trong quá khứ không bằng mình, nhưng hiện nay những người đó lại tốt hơn mình rất nhiều, trong tâm lại không muốn cố gắng để theo kịp, lại cảm thấy thật không công bằng: Dựa vào cái gì hắn trước đây là một người nghèo khó mà hiện tại lại tốt như vậy?

Khi người khác từng bước đi lên phía trước thì họ lại “sống bám vào quá khứ”, còn tự cho là mình thông minh, cứ thế cùng người khác chênh lệch ngày càng lớn, cuộc sống càng lúc càng đình trệ.

Những người đắm chìm vào quá khứ huy hoàng không chịu rời bỏ kia, sẽ tự nhận thấy rằng mình là người có thực tài nhưng không gặp thời, là do cuộc sống cố ý gây trở ngại khó khăn cho mình, thế là trong tâm phẫn hận bất bình, nhìn xem cái gì cũng không thuận mắt.

Ngày hôm qua không thể ở lại, quá khứ huy hoàng cũng vậy. Nếu chẳng để ý huy hoàng của quá khứ, thì cũng sẽ không dừng bước tiến lên, sẽ không sinh lòng bất mãn đối với cuộc sống, thì cuộc sống này từng bước tiến lên thật tốt đẹp.

Đời người quá ngắn, xin hãy làm một người dễ quên

Hãy nhìn xem những người xung quanh chúng ta đi, ta sẽ phát hiện ra rằng những người có trí nhớ tốt thì thường thường có cuộc sống không thoải mái. Những người này trong tâm họ luôn chất chứa rất nhiều người và sự việc, không chịu buông xuống, cho nên tự vây khốn chính mình, luôn tìm mọi cách vùng vẫy trong thống khổ.

Cuộc đời này chính là quá ngắn ngủi, không có nhiều thời gian để cho đau khổ cùng lãng phí, sao không làm một người có trí nhớ kém một chút. Không cần để cho người, việc đã qua thành vật trói buộc lòng mình. Cuộc sống cần phải đi lên phía trước, bỏ qua người khác, bỏ qua quá khứ, cũng bỏ qua chính mình.

Đức Hạnh biên dịch

ĐỐI KHÁCH DẠ ẨM 對客夜飲 • LÊ THÁNH TÔNG

 


  




 Đối khách dạ ẩm

Tử quy chi thượng dạ tam canh,
Anh vũ bôi trung cảm khái tình.
Nghĩa sĩ duy hoài thiên lý chí,
Vĩnh bình bất tất lập công danh.

Lê Thánh Tông


Đêm uống rượu với khách
 
Kề nhánh đỗ quyên lúc nửa đêm,
Bên ly anh vũ cảm tình thêm.
Nghĩa sỹ chí ôm ngoài vạn dặm,
Công danh khó lập lúc thời yên.
 
Minh Đạo (Phỏng dịch)