Thứ Năm, 4 tháng 8, 2016

ĐI CHÂN KHÔNG



Điều “kỳ lạ” gì sẽ xảy ra nếu bạn đi chân trần 5 phút mỗi ngày?
Liệu pháp đi chân trần trên đường sỏi đá đặc biệt có lợi cho những người cao tuổi, từ 60 trở lên.
 1.   Câu chuyện làm các nhà khoa học kinh ngạc
Nhà nghiên cứu Mỹ, giáo sư Giôn Phise và các đồng nghiệp của ông thuộc Viện nghiên cứu Oregon khi đến Trung Cộng đã chứng kiến 1 cảnh tượng kỳ lạ. Đó là cảnh nhiều người đi tới đi lui, nhảy múa trên 1 đoạn đường rải đá.
 Không hiểu được ý nghĩa của điều này, các nhà khoa học Mỹ khi trở về đã triển khai 1 cuộc nghiên cứu thực nghiệm bao gồm 108 người tham gia đi chân trần trên đường sỏi, một nửa đi chân không hoàn toàn, một nửa đi tất. Mỗi ngày họ đi bộ nửa giờ trên đường sỏi.
 Sau 16 tuần thí nghiệm, sức khỏe của các thành viên đều tốt lên song chỉ số y học tốt nhất thuộc về nhóm đi chân trần.
  Giáo sư Giôn cho biêt là đối tượng này mỗi năm nên đi mỗi ngày 30 phút chân đất trên sỏi đá trong thời gian tối thiểu 4 tháng và phải đi trên đường sỏi chứ không phải là đường bê tông như ở các thành phố. Đi bộ trên đường bê tông hoặc nền gạch đá hoa không đem lại nhiều kết quả.
 2. Vì sao đi chân trần lại tốt cho sức khỏe?
 Theo Đông y, lòng bàn chân là nơi tập trung rất nhiều huyệt vị phản chiếu tương ứng toàn bộ các cơ quan quan trọng bên trong cơ thể như tim, phổi, gan, thận.
 Bàn chân trái ứng với nửa thân bên trái phản ánh tình trạng sức khỏe của tim, lá lách, hậu môn, trĩ…
  Bàn chân phải ứng với nửa thân bên phải phản ánh gan, mật, ruột thừa.
 Do đó, đi chân đất sẽ khiến lòng bàn chân được chà xát mạnh, kích thích các huyệt vị này, nhờ đó nâng cao sức khỏe của các hệ cơ quan trong cơ thể.
Các nhà nghiên cứu khuyên chúng ta nên đi chân trần trên bề mặt như cỏ, trên cát, gỗ hoặc sỏi để tăng sự nhạy cảm của chân và giúp cơ chân chắc khỏe.
 Đồng thời lòng bàn chân được tiếp xúc trực tiếp với các vật trên sẽ có tác dụng massage hữu hiệu giúp lưu thông máu, tốt cho mạch máu và các mô liên kết gân và dây chằng.
 3. Tác dụng của việc đi chân trần:
 Theo tờ Sức khỏe gia đình, việc đi chân trần mỗi ngày sẽ đem lại những tác dụng sau:
 - Ngay trong vòng 1 giây: Giúp giải tỏa sự căng thẳng ngay lập tức, giảm bớt sự căng cơ và sóng não có sự dịch chuyển.
 - Mỗi ngày 5 phút đi chân trần:
 + Nội tạng của bạn sẽ thay đổi tích cực
+ Độ đặc máu giảm đi, tương tự như hiệu ứng của aspirin
+ Hệ tuần hoàn được cải thiện
+ Tăng lượng ôxy trong máu
+ Huyết áp được cân bằng
+ Đường máu ổn định
 - Mỗi ngày 8 giờ đi chân trần (trong những trường hợp cần trị liệu):
 + Các dấu hiệu loãng xương giảm rõ rệt
+ Chức năng tuyến giáp được cân bằng
+ Mức cortisol (căng thẳng) giảm xuống
 
- Đi bộ bằng chân đất trong nhiều ngày
 + Dễ dàng thích nghi với sự thăng trầm trong cuộc sống
+ Các loại viêm và các loại bệnh liên quan tới viêm ít phát triển
+ Cơ thể phục hồi nhanh hơn từ căng thẳng thần kinh và chấn thương.
  Điều “kỳ lạ” gì sẽ xảy ra nếu bạn đi chân trần 5 phút mỗi ngày?
Liệu pháp đi chân trần trên đường sỏi đá đặc biệt có lợi cho những người cao tuổi, từ 60 trở lên.
 1. Câu chuyện làm các nhà khoa học kinh ngạc
Nhà nghiên cứu Mỹ, giáo sư Giôn Phise và các đồng nghiệp của ông thuộc Viện nghiên cứu Oregon khi đến Trung Cộng đã chứng kiến 1 cảnh tượng kỳ lạ. Đó là cảnh nhiều người đi tới đi lui, nhảy múa trên 1 đoạn đường rải đá.


Không hiểu được ý nghĩa của điều này, các nhà khoa học Mỹ khi trở về đã triển khai 1 cuộc nghiên cứu thực nghiệm bao gồm 108 người tham gia đi chân trần trên đường sỏi, một nửa đi chân không hoàn toàn, một nửa đi tất. Mỗi ngày họ đi bộ nửa giờ trên đường sỏi.

 Sau 16 tuần thí nghiệm, sức khỏe của các thành viên đều tốt lên song chỉ số y học tốt nhất thuộc về nhóm đi chân trần.




Giáo sư Giôn cho biêt là đối tượng này mỗi năm nên đi mỗi ngày 30 phút chân đất trên sỏi đá trong thời gian tối thiểu 4 tháng và phải đi trên đường sỏi chứ không phải là đường bê tông như ở các thành phố. Đi bộ trên đường bê tông hoặc nền gạch đá hoa không đem lại nhiều kết quả.

2. Vì sao đi chân trần lại tốt cho sức khỏe?

 Theo Đông y, lòng bàn chân là nơi tập trung rất nhiều huyệt vị phản chiếu tương ứng toàn bộ các cơ quan quan trọng bên trong cơ thể như tim, phổi, gan, thận.

Bàn chân trái ứng với nửa thân bên trái phản ánh tình trạng sức khỏe của tim, lá lách, hậu môn, trĩ…

 Bàn chân phải ứng với nửa thân bên phải phản ánh gan, mật, ruột thừa.

Do đó, đi chân đất sẽ khiến lòng bàn chân được chà xát mạnh, kích thích các huyệt vị này, nhờ đó nâng cao sức khỏe của các hệ cơ quan trong cơ thể.

Các nhà nghiên cứu khuyên chúng ta nên đi chân trần trên bề mặt như cỏ, trên cát, gỗ hoặc sỏi để tăng sự nhạy cảm của chân và giúp cơ chân chắc khỏe.

 Đồng thời lòng bàn chân được tiếp xúc trực tiếp với các vật trên sẽ có tác dụng massage hữu hiệu giúp lưu thông máu, tốt cho mạch máu và các mô liên kết gân và dây chằng.

3. Tác dụng của việc đi chân trần:

 Theo tờ Sức khỏe gia đình, việc đi chân trần mỗi ngày sẽ đem lại những tác dụng sau:

- Ngay trong vòng 1 giây: Giúp giải tỏa sự căng thẳng ngay lập tức, giảm bớt sự căng cơ và sóng não có sự dịch chuyển.

- Mỗi ngày 5 phút đi chân trần:

+ Nội tạng của bạn sẽ thay đổi tích cực

+ Độ đặc máu giảm đi, tương tự như hiệu ứng của aspirin

+ Hệ tuần hoàn được cải thiện

+ Tăng lượng ôxy trong máu

+ Huyết áp được cân bằng

+ Đường máu ổn định

- Mỗi ngày 8 giờ đi chân trần (trong những trường hợp cần trị liệu):

+ Các dấu hiệu loãng xương giảm rõ rệt

+ Chức năng tuyến giáp được cân bằng

+ Mức cortisol (căng thẳng) giảm xuống

- Đi bộ bằng chân đất trong nhiều ngày

+ Dễ dàng thích nghi với sự thăng trầm trong cuộc sống

+ Các loại viêm và các loại bệnh liên quan tới viêm ít phát triển

+ Cơ thể phục hồi nhanh hơn từ căng thẳng thần kinh và chấn thương.

                                                                                     Nguồn internet

 
 
 

Thứ Ba, 2 tháng 8, 2016

THU VỀ



                THU VỀ

Trời xanh những bóng mây,
Gió lay nhẹ hàng cây,
Đóa hoa vàng thức giấc,
Thu về em có hay…

Cuối phương trời xa xôi,
Thấp thoáng khi mờ tỏ,
Nhạn trắng đã tìm về,
Lượn quanh ngoài đầu ngõ.

Bao nhiêu lần em hỏi:
Hạ thu mãi vờn nhau,
Như chưa hề mệt mỏi,
Tuần hoàn chuyện trước sau?

Thức giấc giữa đêm thâu,
Em vẫn lần xâu chuổi,
Ngăn tháng ngày rong ruổi,
Sám hối và nguyện cầu.

Vạn vật vốn đổi thay,
Đến đi cùng sinh diệt,
Bất an cùng khắc nghiệt,
Diễn ra khắp cõi này.

Với tia sáng nhiệm mầu,
Em hướng về nguồn cội,
Dù khó khăn trôi nổi,
Nguyện qua cảnh bể dâu…

                  Minh Đạo


SỐNG Ở ĐỜI, 45 ĐỘ LÀM NGƯỜI, 90 ĐỘ LÀM VIỆC, 180 ĐỘ ĐỐI NHÂN XỬ THẾ…



Con người khi đối mặt với các sự việc trên đời, cần phải bảo trì một tâm thái khiêm nhường, hòa ái. Hơn nữa, trước những sự tình khác nhau, cũng cần thêm vào một chút ‘lực độ’.

Đối mặt với các mối quan hệ xã hội phức tạp và nhân tình thế sự thay đổi từng thời từng khắc, rất nhiều người cảm thán rằng sống thật quá mệt mỏi.
Kỳ thực, chỉ khi chúng ta luôn hòa ái, không tị nạnh so đo với những được mất trong đời, luôn bảo trì được tâm thái hàm ơn, như vậy chúng ta sẽ sống một cách thỏa mái tự tại, từ đó sẽ phát huy được hết những điều tinh túy, những tố chất ưu việt của mình!

45 độ làm người

Sống ở đời, phải biết cúi đầu xuống, khiêm nhường để nhìn con đường phía trước, dùng thái độ khiêm tốn, vững vàng để tiến lên phía trước.
Không vì thành công tức thời mà tự đại, cũng đừng vì một lúc thất bại mà gục ngã. Con người, ai cũng có mặt ưu việt riêng của mình, đều rất xứng đáng để cho chúng ta học hỏi.http://tinhhoa.net/wpcontent/uploads/2014/08/BcKCN8.jpg

90 độ làm việc

90 độ là đường thẳng đứng, đòi hòi chúng ra khi làm việc phải công chính vô tư, quang minh lỗi lạc, một đời làm việc thẳng thắn thành khẩn, một đời làm chính nhân quân tử.

180 độ đối nhân xử thế

180 độ là đường nằm ngang, đòi hỏi chúng ta phải thẳng thắn bộc trực, không nên úp mở, không sống dối trá hư vinh, chân thành đối đãi với mọi người.http://tinhhoa.net/wpcontent/uploads/2014/08/BcKCN8.jpg

360 độ xử lý công việc

360 độ là một đường tròn, đại biểu cho sự hoàn mỹ, tròn trịa, thành công. Yêu cầu chúng ta phải hết sức chu đáo, cẩn thận, hoàn thành trọn vẹn từng công việc mình đảm nhận, để rồi tiếp tục hỗ trợ những người xung quanh.
Dùng sự chân thành và tự tin của mình, giành lấy sự tín nhiệm và thấu hiểu của người khác, cuối cùng đạt đến một cảnh giới lý tưởng và hoàn mỹ.
Cổ ngữ có câu: “Giàu không học, chỉ giàu một đời! Nghèo không học, sẽ nghèo 3 đời!”.

Học được những điều này, cuộc sống của bạn sẽ không có gì phải lo ngại nữa!

                                                                Lê Hiếu, dịch từ Cmoney.tw


Thứ Hai, 1 tháng 8, 2016

LÀM GÌ KHI BỊ CHOLESTEROL CAO


Bạn nên ăn nhiều chất xơ hơn, ăn cá, hoặc lựa chọn nguồn protein từ đậu nành như đậu hũ... nếu bị cholesterol cao.Cholesterol cao không có biểu hiện rõ ràng nhưng lại ảnh hưởng nghiêm trọng đến cơ thể. Nhìn chung quá nhiều cholesterol có thể dẫn đến sự tích tụ các mảng bám trong động mạch, được gọi là xơ vữa động mạch. Các mảng bám này gây tắc nghẽn mạch máu dẫn đến đau tim, đột quỵ. Tin tốt là bạn dễ dàng phát hiện khi cholesterol cao và có nhiều cách để hạ.
Xét nghiệm kiểm tra cholesterol
Những người từ 20 tuổi trở lên nên đi kiểm tra cholesterol định kỳ ít nhất 4-6 năm một lần. Đây là một xét nghiệm máu đơn giản. Kết quả sẽ cho bạn biết mức độ cholesterol “xấu”, cholesterol “tốt” và cả triglycerid.
Cholesterol “xấu” hay LDL
LDL kết hợp với các chất khác làm tắc nghẽn động mạch. Một chế độ ăn giàu chất béo bão hòa và chất béo chuyển hóa dạng trans có xu hướng làm tăng mức cholesterol xấu trong máu. Với hầu hết mọi người, mức LDL dưới 100 là tốt, với những người có bệnh tim thì yêu cầu thấp hơn.
[Caption]
Cholesterol “tốt” hay HDL
Nó giúp loại bỏ cholesterol “xấu” và ngăn ngừa việc hình thành các mảng bám trong động mạch. Mức cholesterol “tốt” càng cao càng có lợi cho sức khỏe. Những người có lượng HDL quá thấp rất dễ bị bệnh tim mạch hơn. Chế độ ăn với các chất béo có lợi như dầu ô liu giúp tăng cường các cholesterol "tốt" này.
Triglycerid
Cơ thể chuyển hóa năng lượng dư thừa, đường và rượu thành triglyceride hay còn gọi là mỡ máu. Những người quá cân, ít hoạt động, hút thuốc hoặc nghiện rượu thường có mức triglyceride cao. Nếu lượng triglyceride cao hơn 150 bạn có nguy cơ mắc các bệnh chuyển hóa như tiểu đường và bệnh tim.
Cholesterol toàn phần
Chỉ số này là sự kết hợp của LDL, HDL và VLDL trong máu. VLDL là tiền chất của LDL - cholesterol "xấu". Mức bình thường chỉ số này phải ở mức dưới 200. Những người có mức cholesterol toàn phần cao hơn thường có nguy cơ bị bệnh tim mạch.
Cholesterol trong thực phẩm
Những thực phẩm giàu cholesterol như trứng, tôm và tôm hùm không hoàn toàn bị cấm ăn tuyệt đối. Các nghiên cứu chỉ ra rằng lượng cholesterol từ thực phẩm chỉ ảnh hưởng rất nhỏ đến lượng cholesterol trong máu. Thay vì đó, bạn nên lo lắng đến các chất béo bão hòa và chất béo chuyển hóa.
Cholesterol và tiền sử gia đình
Cholesterol đến từ hai nguồn cơ thể và thức ăn, hoặc chỉ một yếu tố cũng khiến cholesterol tăng cao. Một vài người có thể kế thừa gene khiến cơ thể sản sinh ra quá nhiều cholesterol. Với những người khác, chế độ ăn uống mới là yếu tố quyết định. Chất béo bão hòa và lượng cholesterol có sẵn trong thực phẩm gồm thịt, trứng và các sản phẩm từ sữa.
Điều gì làm tăng nguy cơ?
Có một vài yếu tố khiến bạn dễ tăng cholesterol như:
- Chế độ ăn giàu chất béo bão hòa và cholesterol.
- Tiền sử gia đình bị cholesterol cao.
- Người thừa cân, béo phì.
- Người già.
Làm gì khi bị cholesterol cao
- Ăn nhiều chất xơ hơn:
Thay đổi chế độ ăn đóng vai trò quan trọng khi bạn bị cao cholesterol. Chất xơ hòa tan có trong nhiều thực phẩm giúp giảm cholesterol “xấu”. Bạn có thể lựa chọn các loại thực phẩm như ngũ cốc, bánh mì làm từ ngũ cốc, trái cây, bột yến mạch, hoa quả sấy khô, rau và các loại đậu.
- Lựa chọn nguồn đạm phù hợp:
Thịt và các sản phẩm từ sữa cung cấp rất nhiều protein nhưng chúng cũng có cholesterol. Bạn có thể giảm lượng cholesterol “xấu” bằng cách lựa chọn nguồn protein từ đậu nành như đậu hũ trong một số bữa ăn. Cá là một lựa chọn tuyệt vời. Một số loại như cá hồi rất giàu omega- 3, có tác dụng cải thiện cholesterol trong cơ thể. Hội Tim mạch Mỹ khuyến cáo người dân nên ăn cá ít nhất 2 lần mỗi tuần.
- Giảm cân:
Nếu bị thừa cân, béo phì bạn nên tham vấn bác sĩ để bắt đầu chế độ giảm cân, giúp giảm triglycerid, cholesterol “xấu” và lượng cholesterol toàn phần. Ngoài ra giảm cân cũng giúp tăng lượng cholesterol “tốt”.
- Bỏ thuốc:
Bỏ thuốc lá rất khó nhưng bạn nên làm điều này. Một khi ngừng hút thuốc, lượng cholesterol “tốt” tăng lên khoảng 10%. Để thành công, bạn nên có kế hoạch cụ thể, thậm chí tìm lời khuyên từ bác sĩ.
- Luyện tập thể dục:
Nếu khỏe nhưng không phải là người năng động thì bạn hãy bắt đầu tập aerobic để tăng lượng cholesterol tốt lên 5% trong 2 tháng đầu tiên. Tập thể dục đều đặn cũng giúp giảm cholesterol “xấu”. Bạn nên chọn các vận động tốt cho tim như chạy, bơi hoặc đi bộ nhanh với mục tiêu ít nhất 30 phút mỗi ngày trong tuần. 
Phương Trang

Thứ Bảy, 30 tháng 7, 2016

CHÈ XANH




               CHÈ XANH

 Bên tách chè thơm với khóm hoa,
Lâng lâng vị chát tiếp ngày qua.
Cố nhân mấy thuở luôn đằm thắm,
Tri kỷ bao năm chẳng nhạt nhòa.
Khơi dậy tâm sâu tìm chỗ đến,
Xua tan lối tắc nhận đường ra.
Đạo đời xen lẫn nơi trần thế,
Sáng tối đi về mãi bạn ta.

 Sớm tối đi về mãi bạn ta,
Động viên tỉnh giấc chặng đường qua.
Hương nồng đánh thức phai tình lụy,
Vị đắng chan hòa loãng lệ sa.
Hạ đến bên trời tô sắc lá,
Xuân vơi cùng cảnh điểm màu hoa,
Kề nhau thầm lặng nương bao lúc,
Để ngắm đời vui sáng sáng ra.

                                       Minh Đạo

                    
 

 

Thứ Bảy, 23 tháng 7, 2016

CẢNH ĐỜI





                   CẢNH ĐỜI

Xe đến tàu qua cảnh rộn ràng,
Cà phê gác nhỏ phút miên man.
Hàng rao lanh lảnh lời xuyên phố,
Nhạc trỗi du dương quán cách đàng.
Khấp khểnh đôi đường người sướng khổ,
Chông chênh vạn lối kẻ hèn sang.
Chiều mưa sáng nắng luôn thay đổi,
Phúc họa nghiệp duyên có phủ phàng?

                                   Minh Đạo

Thứ Năm, 21 tháng 7, 2016

NHẬN THỨC VỀ CHÂN LÝ TRONG PHẬT GIÁO


tuong but.jpg

Ảnh: Đinh Quang Trung


NSGN - Nhận thức Phật giáo về chân lý có lẽ là một trong những mối quan tâm hàng đầu với những ai đang nghiên cứu hoặc tìm hiểu đạo Phật. Thực sự, đây là vấn đề bận tâm nhất của Phật. Trong kinh điển, chúng ta thường thấy xuất hiện nhiều từ ngữ như sacca, yathābhūtam, bhūtaṃ, tacchaṃ atthasaṃhitaṃ, tatva, tathatā, dharmatā... là để nói về chân lý, hay sự thật, hay những gì phù hợp với thực tế.

Ngoài ra, Đức Phật còn cho thấy Ngài đã vận dụng rất nhiều phương cách (phương tiện, cách nói) nhằm diễn đạt chân lý. Ngài từng nói rằng chân lý mà Ngài chứng ngộ là rất vi diệu, cao siêu, tịch tịnh, khó thấy, khó hiểu, chỉ có bậc Thánh mới thấu hiểu.1 Do vậy, Đức Phật từng do dự trong việc thuyết giảng giáo pháp sau khi chứng ngộ và có ý định nhập Niết-bàn vì nhận thấy rằng không có ai đủ khả năng lĩnh hội chân lý đó. Ngài nói rằng những vị đạo sư từng hướng dẫn cho Ngài trước đó có thể lĩnh hội được thì đều đã qua đời.

Tuy nhiên, sau khoảng thời gian do dự, Ngài dùng tuệ nhãn để quan sát và nhận thấy rằng có những chúng sanh có trí tuệ, ít phiền não nghiệp chướng có thể lĩnh hội giáo lý đó, nhưng phải bằng phương tiện khéo léo giảng nói họ mới có thể hiểu được. Liền sau đó Đức Phật đã quyết định giảng dạy chân lý mà Ngài đã chứng ngộ sau nhiều lần thỉnh cầu của Phạm thiên. Sự kiện này được nêu rõ trong nhiều kinh điển từ Nguyên thủy cho đến Đại thừa.
Theo đó, chân lý mà Đức Phật giảng dạy là như thế nào và liệu người đời sau có hiểu sai hay giải thích sai lời dạy của Ngài hay không? Đây là vấn đề đã tạo ra rất nhiều thắc mắc cho người nghiên cứu. Nhiều người khi mới tìm hiểu đạo Phật đã vội vã cho rằng kinh điển đạo Phật thật là rối rắm, khó hiểu, nhiều mâu thuẫn, thiếu nhất quán... Bởi lẽ, có khi Đức Phật nói có nhân có ngã, khi lại nói là vô nhân vô ngã; khi thì nói các pháp hiện hữu, khi lại dạy là không hiện hữu v.v... Điều đó đã tạo ra rất nhiều nhầm lẫn cho người học Phật vì họ không hiểu được mục đích sử dụng giáo pháp của Phật. Thật ra, Đức Phật đã tùy vào khả năng của từng đối tượng nghe pháp để giảng dạy cho phù hợp.
Chính vì lẽ đó mà trong kinh chúng ta thường thấy Đức Phật dùng nhiều ngôn từ, thí dụ, ẩn dụ, so sánh, đối chiếu, quy nạp, loại suy, hoặc là các trạng thái tâm giải thoát khác nhau để giải thích về chân lý. Tuy vậy, chính Đức Phật đã nói trong kinh Tập rằng chân lý chỉ có một và chánh kiến là phương tiện để nhận biết về chân lý đó. Tuy nhiên, ở nơi khác, ta lại thấy Ngài nói chân lý có hai (Nhị đế), có bốn (Tứ đế), rồi các trường phái nói có ba (Duy thức, Trung quán), cho đến nhiều chân lý (như 10 chân lý trong Bồ-tát địa luận của ngài Vô Trước)2.

Như vậy làm sao để hiểu được chân lý như được giải thích theo nhiều cách thức như thế? Thực sự, vấn đề nhận thức chân lý trong đạo Phật là một trong những vấn đề phức tạp nhất, bởi vì giáo lý đạo Phật không phải là nền tảng giáo điều đóng khung cái nhận thức của chúng ta, cũng không phải là sự cứng nhắc trong cách lý giải. Bởi lẽ, không có một chân lý cố định nào để giải thích cho các vấn đề thế gian vốn vô thường, giả tạm, sai biệt và không thật!
Tuy vậy, vẫn có những cơ sở, những tiêu chuẩn để nhận thức của chúng ta có thể thấu hiểu được mà thực hành tu tập cho phù hợp với những lời dạy thiết thực của Phật để chứng đạt chân lý giác ngộ. Sau đây là những nhận thức căn bản cho vấn đề nhận thức chân lý.

Thứ Ba, 19 tháng 7, 2016

MƯA MÓC



                   MƯA MÓC

Trăng rằm tỏa sáng khắp muôn nơi,
Ẩn hiện linh thiêng nhuốm đất trời.
Vạn vật mừng vui mầu sắc mới,
Quần sanh rạng rỡ ánh ngời tươi.
Mang theo khoáng đạt qua trần thế,
Xua hết u thâm tận cõi đời.
Hiểu thấu nguồn chơn đem phúc lạc,
Thiên cơ diệu pháp tựa trùng khơi.

                                   Minh Đạo


CÂU CHUYỆN HÀI ĐÁNG SUY NGẪM: NIỆM PHẬT KHÔNG BẰNG TU TÂM TÍNH



          

Ngày xưa, có một đôi vợ chồng trẻ, người chồng hàng ngày đều chăm chú đọc sách, người vợ một lòng hướng Phật nên ngày ngày đều ngồi trong phòng tụng kinh niệm Phật rất lâu.
Một hôm, người chồng để ý thấy người vợ ngồi trong Phật đường không ngừng niệm: “Nam mô a di đà phật! Nam mô a di đà phật!”Người vợ cứ chăm chú niệm câu này mãi, niệm đi niệm lại trong một khoảng thời gian rất lâu. Người chồng thấy vậy liền nghĩ cách đùa người vợ một chút.
Anh ta  bèn đi vào phòng bên cạnh phòng mà người vợ đang niệm rồi bất ngờ gọi tên người vợ. Người vợ nghe thấy tiếng chồng gọi mình liền ngừng niệm và quay đầu sang phía người chồng hỏi: “Có việc gì vậy?”
Người chồng cười cười rồi nói: “Không có gì, không có gì!”
Người vợ lại tiếp tục quay lại vừa gõ vừa niệm. Một lát sau, người chồng lại gọi tên người vợ. Người vợ lại nhịn không được liền quay đầu ra hỏi chồng: “Rốt cuộc là anh có chuyện gì mà cứ gọi như vậy?”
 Người chồng lại cười cười rồi nói: “Không có gì, không có gì cả.”
Người vợ lại tiếp tục niệm Phật. Nhưng chẳng được bao lâu người chồng lại gọi tên người vợ. Người vợ lúc này có vẻ rất bực tức quay sang nói với người chồng: “Anh rốt cuộc là có chuyện gì mà cứ gọi mãi như thế? Anh cứ gọi như thế khiến em không thể tập trung tụng kinh niệm Phật được.”
Người chồng lúc này mới đứng lên đi đến bên người vợ và nói:“Vợ ơi! Anh mới gọi tên em có ba lần mà em đã thấy mệt mỏi và bực tức rồi. Thế mà, em ngày nào cũng niệm A di đà phật trong một thời gian lâu như vậy, không biết liệu ngài có thấy phiền toái không?”
Chúng ta muốn thông qua hình thức tụng kinh niệm Phật để cho Thần Phật biết rõ lòng thành kính của chúng ta đối với ngài. Nhưng mà chúng ta lại không chú ý tu luyện tâm tính của mình cho tốt mà chỉ thể hiện ở hình thức bên ngoài. Như vậy, có khác nào trong lòng chúng ta không thực sự thành kính Thần Phật? Như thế, thử hỏi Thần Phật có thể tiếp nhận hình thức “tụng kinh niệm Phật” của chúng ta không?
                                                                      Theo Secretchina
                                                                       Mai Trà biên dịch



Chủ Nhật, 17 tháng 7, 2016

MÙA SANG



        MÙA SANG

Ngoài sân gió lay nhẹ,
Nhụy xinh khóm cúc vàng.
Đôi chim cùng thỏ thẻ,
Vạn vật đợi mùa sang.

Trên bầu trời nắng sáng,
Nhẹ nhàng cánh én bay.
Mới cũ xen từng ngày,
Chóng qua cùng năm tháng.

Trải qua một kiếp người,
Đôi mươi rồi già cả,
Xen lẫn giữa khóc cười.
Bình minh rồi bóng ngã.

Không lọc lừa dối trá,
Chân thành và thiết tha,
Sống vui cùng hòa nhã,
Cuộc đời trổ đầy hoa.

Tận hưởng những ngày qua,
Nhìn vô thường được mất,
Giữa dòng đời tất bật,
Cố nhận đâu là nhà…

                        Minh Đạo


Thứ Bảy, 16 tháng 7, 2016

CÁCH XƯNG HÔ TRONG PHẬT GIÁO




Ngôn ngữ, danh từ chỉ là phương tiện tạm dùng giữa con người với nhau, trong đạo cũng như ngoài đời, có thể thay đổi theo thời gian và không gian, cho nên cách xưng hô trong đạo Phật tùy duyên, không có nguyên tắc cố định, tùy theo thời đại, hoàn cảnh, địa phương, tông phái, hay tùy theo quan hệ giữa hai bên. Đó là phần tu tướng.
Trong khóa nghiên tu an cư mùa hạ năm 2005, tại Tổ đình Từ Quang Montréal, Canada, các thắc mắc sau đây được nêu lên trong phần tham luận:
1) Khi nào gọi các vị xuất gia bằng Thầy, khi nào gọi bằng Đại Đức, Thượng Tọa hay Hòa Thượng?
2) Khi nào gọi các vị nữ xuất gia bằng Ni cô, Sư cô, Ni sư hay Sư Bà? Có bao giờ gọi là Đại Đức Ni, Thượng Tọa Ni hay Hòa Thượng Ni chăng?
3) Khi ông bà cha mẹ gọi một vị sư là Thầy hay Sư phụ, người con hay cháu phải gọi là Sư ông, hay cũng gọi là Thầy?  Như vậy con cháu bất kính, coi như ngang hàng với bậc bề trên trong gia đình chăng?
4) Một vị xuất gia còn ít tuổi đời (dưới 30 chẳng hạn) có thể nào gọi một vị tại gia nhiều tuổi (trên 70 chẳng hạn) bằng “con” được chăng, dù rằng vị tại gia cao niên đó xưng là “con” với vị xuất gia?
5) Sau khi xuất gia, một vị tăng hay ni xưng hô như thế nào với người thân trong gia đình?
* * *
Trước khi đi vào phần giải đáp các thắc mắc trên, cần thông qua các điểm sau đây:
*1)  Chư Tổ có dạy: “Phật pháp tại thế gian”.  Nghĩa là: việc đạo không thể tách rời việc đời.  Nói một cách khác, đạo ở tại đời, người nào cũng đi từ đời vào đạo, nương đời để ngộ đạo, tu tập để độ người, hành đạo để giúp đời.  Chư Tổ cũng có dạy: “Hằng thuận chúng sanh”.  Nghĩa là: nếu phát tâm tu theo Phật, dù tại gia hay xuất gia, đều nên luôn luôn thuận theo việc dùng tứ nhiếp pháp (bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự) để đem an lạc cho chúng sanh, tức là cho mọi người trong đời, bao gồm những người đang tu trong đạo.
*2) Từ đó, chúng ta chia cách xưng hô trong đạo Phật ra hai trường hợp:
Một là, cách xưng hô chung trước đại chúng nhiều người, có tính cách chính thức, trong các buổi lễ, cũng như trên các văn thư, giấy tờ hành chánh.  Hai là, cách xưng hô riêng giữa hai người, tại gia hay xuất gia, mà thôi.  Người chưa rõ cách xưng hô trong đạo không nhứt thiết là người chưa hiểu đạo, chớ nên kết luận như vậy.  Cho nên, việc tìm hiểu và giải thích là bổn phận của mọi người, dù tại gia hay xuất gia.
*3) Có hai loại tuổi được đề cập đến, đó là: tuổi đời và tuổi đạo.  Tuổi đời là tuổi tính theo đời, kể từ năm sinh ra.  Tuổi đạo là tuổi thường được nhiều người tính từ ngày xuất gia tu đạo. Nhưng đúng ra, tuổi đạo phải được tính từ năm thụ cụ túc giới và hằng năm phải tùng hạ tu học theo chúng và đạt tiêu chuẩn, mỗi năm như vậy được tính một tuổi hạ. Nghĩa là tuổi đạo còn được gọi là tuổi hạ (hay hạ lạp).  Trong nhà đạo, tất cả mọi việc, kể cả cách xưng hô, chỉ tính tuổi đạo, bất luận tuổi đời.  Ở đây không bàn đến việc những vị chạy ra chạy vào, quá trình tu tập trong đạo không liên tục.
* * *
Bây giờ, chúng ta bắt đầu từ việc một người tuổi đời dưới 20 phát tâm xuất gia, hay do gia đình đem gửi gắm vào cửa chùa, thường được gọi là chú tiểu, hay điệu. Đó là các vị đồng chơn nhập đạo. Tùy theo số tuổi, vị này được giao việc làm trong chùa và học tập kinh kệ, nghi lễ.  Thời gian sau, vị này được thụ 10 giới, gọi là Sa di (nam) hay Sa di ni (nữ), hoặc Chú (nam) hay Ni cô (nữ). Khi tuổi đời dưới 14, vị này được giao việc đuổi các con quạ quấy rầy khu vực tu thiền định của các vị tu sĩ lớn tuổi hơn, cho nên gọi là “khu ô sa di” (sa di đuổi quạ).
Đến năm được ít nhất là 20 tuổi đời, và chứng tỏ khả năng tu học, đủ điều kiện về tu tánh cũng như tu tướng, vị này được thụ giới cụ túc, tức là 250 giới tỳ kheo (nam) hay 348 giới tỳ kheo ni (nữ) và được gọi là Thầy (nam) hay Sư cô (nữ).  Trên giấy tờ thì ghi là Tỳ Kheo (nam) hay Tỳ Kheo Ni (nữ) trước pháp danh của vị xuất gia. 
Ở đây xin nhắc thêm, trước khi thụ giới tỳ kheo ni, vị sa di ni (hoặc thiếu nữ 18 tuổi đời xuất gia và chưa thụ giới sa di ni) được thụ 6 chúng học giới trong thời gian 2 năm, được gọi là Thức xoa ma na ni. Cấp này chỉ có bên ni, bên tăng không có.  Tuy nhiên trong tạng luật, có đến 100 chúng học giới chung cho cả tăng và ni.  Cũng cần nói thêm, danh từ tỳ kheo có nơi còn gọi là tỷ kheo, hay tỳ khưu, tỷ khưu. Bên nam tông, tỷ kheo có 227 giới, tỷ kheo ni có 311 giới.  Giới cụ túc (tỳ kheo hay tỳ kheo ni) là giới đầy đủ, viên mãn, cao nhất trong đạo Phật để từng vị xuất gia tu tập cho đến lúc mãn đời (thường gọi là viên tịch, không nên lạm dụng từ vãng sanh), không phải thụ giới nào cao hơn.  Việc thụ bồ tát giới (tại gia hay xuất gia) là do sự phát tâm riêng của từng vị theo bắc tông, nam tông không có giới này. 
Ở đây, xin nói thêm rằng: Bắc tông (hay bắc truyền, phát triển) là danh từ chỉ các tông phái tu theo sự truyền thừa về phương bắc của xứ Ấn Độ, qua các xứ Tây Tạng, Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật bổn và Việt Nam. Nam tông (hay nam truyền, nguyên thủy) là danh từ chỉ các tông phái tu theo sự truyền thừa về phương nam của xứ Ấn Độ, qua các xứ Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Lào, Cao Miên và Việt Nam.
Trong lúc hành đạo, tức là làm việc đạo trong đời, đem đạo độ đời, nói chung sự sinh hoạt của Phật giáo cần phải thiết lập tôn ti trật tự (cấp bậc) có danh xưng theo hiến chương của Giáo Hội Phật Giáo như sau:
1) Năm 20 tuổi đời, vị xuất gia thụ giới tỳ kheo được gọi là Đại Đức.
2) Năm 40 tuổi đời, vị tỳ kheo được 20 tuổi đạo, được gọi là Thượng Tọa.
3) Năm 60 tuổi đời, vị tỳ kheo được 40 tuổi đạo, được gọi là Hòa Thượng.
Còn đối với bên nữ (ni bộ):
4) Năm 20 tuổi đời, vị nữ xuất gia thụ giới tỳ kheo ni được gọi là Sư cô (hiện nay ở Canada, có giáo hội gọi các vị tỳ kheo ni này là Đại Đức).
5) Năm 40 tuổi đời, vị tỳ kheo ni được 20 tuổi đạo, được gọi là Ni sư.
6) Năm 60 tuổi đời, vị tỳ kheo ni được 40 tuổi đạo, được gọi là Sư bà (bây giờ gọi là Ni trưởng).
Đó là các danh xưng chính thức theo tuổi đời và tuổi đạo (hạ lạp), được dùng trong việc điều hành Phật sự, trong hệ thống tổ chức của Giáo Hội Phật Giáo, không được lạm dụng tự xưng, tự phong, tự thăng cấp, mà phải được xét duyệt và chấp thuận bởi một hội đồng giáo phẩm có thẩm quyền, và được cấp giáo chỉ tấn phong, nhân dịp Đại Lễ hay Đại Hội Phật Giáo, trong các Giới Đàn, hay trong mùa an cư kết hạ hằng năm.
Như trên, chúng ta có thể hiểu rằng: Sư cô nghĩa là Đại đức bên ni bộ.  Ni sư nghĩa là Thượng tọa bên ni bộ.  Sư bà (hay Ni trưởng) nghĩa là Hòa thượng bên ni bộ.  Bởi vậy cho nên, các buổi lễ hay văn thư chính thức, thường nêu lên là: “Kính bạch chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức, Tăng Ni”, chính là nghĩa đó vậy. Tuy vậy, trên thực tế, chưa thấy có nơi nào chính thức dùng các danh xưng: Đại đức ni, Thượng tọa ni, hay Hòa thượng ni.  Nếu có nơi nào đã dùng, chỉ là cục bộ, chưa chính thức phổ biến, nghe không quen tai nhưng không phải là sai. Đối với các bậc Hòa Thượng mang trọng trách điều hành các cơ sở Giáo Hội Phật Giáo trung ương cũng như địa phương, hay các Đại Tùng Lâm, Phật Học Viện, Tu Viện, thường là các vị trên 80 tuổi đời, được tôn xưng là Đại Lão Hòa Thượng hay Trưởng Lão Hòa Thượng. Các vị thuộc hàng giáo phẩm này thường được cung thỉnh vào các hội đồng trưởng lão, hoặc hội đồng chứng minh tối cao của các Giáo Hội Phật Giáo. Tuy nhiên, khi ký các thông bạch, văn thư chính thức, chư tôn đức vẫn xưng đơn giản là Tỳ kheo, hay Sa môn (có nghĩa là: thầy tu).

Đến đây, chúng ta nói về cách xưng hô giữa các vị xuất gia với nhau và giữa các vị cư sĩ Phật tử tại gia và tu sĩ xuất gia trong đạo Phật.
1)* Giữa các vị xuất gia, thường xưng con (hay xưng pháp danh, pháp hiệu) và gọi vị kia là Thầy (hoặc gọi cấp bậc hay chức vụ vị đó đảm trách).  Bên tăng cũng như bên ni, đều gọi sư phụ bằng Thầy, (hay Sư phụ, Tôn sư, Ân sư). Các vị xuất gia cùng tông môn, cùng sư phụ, thường gọi nhau là Sư huynh, Sư đệ, Sư tỷ, Sư muội, và gọi các vị ngang vai vế với Sư phụ là Sư thúc, Sư bá. Có nơi dịch ra tiếng Việt, gọi nhau bằng Sư anh, Sư chị, Sư em. Ngoài đời có các danh xưng: bạn hữu, hiền hữu, thân hữu, hội hữu, chiến hữu. Trong đạo Phật có các danh xưng: đạo hữu (bạn cùng theo đạo), pháp hữu (bạn cùng tu theo giáo pháp). Các danh xưng: tín hữu (bạn cùng tín ngưỡng, cùng đức tin), tâm hữu (bạn cùng tâm, đồng lòng) không thấy được dùng trong đạo Phật.
2)*  Khi tiếp xúc với chư tăng ni, quí vị cư sĩ Phật Tử tại gia (kể cả thân quyến của chư tăng ni) thường đơn giản gọi bằng Thầy, hay Cô, (nếu như không biết rõ hay không muốn gọi phẩm trật của vị tăng ni có tính cách xã giao), và thường xưng là con (trong tinh thần Phật pháp, người thụ ít giới bổn tôn kính người thụ nhiều giới bổn hơn, chứ không phải tính tuổi tác người con theo nghĩa thế gian) để tỏ lòng khiêm cung, kính Phật trọng tăng, cố gắng tu tập, dẹp bỏ bản ngã, dẹp bỏ tự ái, cống cao ngã mạn, mong đạt trạng thái: niết bàn vô ngã, theo lời Phật dạy.  Có những vị cao tuổi xưng tôi hay chúng tôi với vị tăng ni trẻ để tránh ngại ngùng cho cả hai bên. Khi qui y Tam Bảo thụ ngũ giới (tam qui ngũ giới), mỗi vị cư sĩ Phật Tử tại gia có một vị Thầy (Tăng bảo) truyền giới cho mình. Vị ấy được gọi là Thầy Bổn sư. Cả gia đình có thể cùng chung một vị Thầy Bổn sư, tất cả các thế hệ cùng gọi vị ấy bằng Thầy. Theo giáo phái khất sĩ, nam tu sĩ được gọi chung là và nữ tu sĩ được gọi chung là Ni. Còn nam tông chỉ có Sư, không có hay chưa có Ni. Việc tâng bốc, xưng hô không đúng phẩm vị của tăng ni, xưng hô khác biệt trước mặt và sau lưng, tất cả đều nên tránh, bởi vì không ích lợi cho việc tu tâm dưỡng tánh.
3)*  Khi tiếp xúc với quí vị cư sĩ Phật Tử tại gia, kể cả người thân trong gia quyến, chư tăng ni thường xưng là tôi hay chúng tôi (hay xưng pháp danh, pháp hiệu, hoặc bần tăng, bần ni), cũng có khi chư tăng ni xưng là Thầy, hay Cô, và gọi quí vị là đạo hữu, hay quí đạo hữu. Cũng có khi chư tăng ni gọi quí vị tại gia bằng pháp danh, có kèm theo (hay không kèm theo) tiếng xưng hô của thế gian. Cũng có khi chư tăng ni gọi quí vị tại gia là “Quí Phật Tử”. Chỗ này không sai, nhưng có chút không ổn, bởi vì xuất gia hay tại gia đều cùng là Phật Tử, chứ không riêng tại gia là Phật Tử mà thôi.  Việc một Phật Tử xuất gia (tăng ni) ít tuổi gọi một Phật Tử tại gia nhiều tuổi bằng “con” thực là không thích đáng, không nên. Không nên gọi như vậy, tránh sự tổn đức. Không nên bất bình, khi nghe như vậy, tránh bị loạn tâm. Biết rằng mọi chuyện trên đời: ngôi thứ, cấp bậc, đều có thể thay đổi, nhưng giá trị tuổi đời không đổi, cứ theo thời gian tăng lên. Theo truyền thống đông phương, tuổi tác (tuổi đời) rất được kính trọng trong xã hội, dù tại gia hay xuất gia.
4)*  Trong các trường hợp tiếp xúc riêng, tùy thuận theo đời, không có tính cách chính thức, không có tính cách thuyết giảng, chư tăng ni có thể gọi các vị cư sĩ Phật Tử tại gia, kể cả người thân trong gia quyến, một cách trân trọng, tùy theo tuổi tác, quan hệ, như cách xưng hô xã giao người đời thường dùng hằng ngày. Danh xưng Cư sĩ hay Nữ Cư sĩ thường dùng cho quí Phật Tử tại gia, qui y Tam bảo, thụ 5 giới, phát tâm tu tập và góp phần hoằng pháp.  Còn được gọi là Ưu bà tắc (Thiện nam, Cận sự nam) hay Ưu bà di  (Tín nữ, Cận sự nữ).
5)*  Chúng ta thử bàn qua một chút về ý nghĩa của tiếng xưng “con” trong đạo Phật qua hình ảnh của ngài La Hầu La. Ngài là con của đức Phật theo cả hai nghĩa: đời và đạo. Ngài sớm được tu tập trong giới pháp, công phu và thiền định khi tuổi đời hãy còn thơ. Ngài không ngừng tu tập, cuối cùng đạt được mục đích tối thượng. Ngài thực sự thừa hưởng gia tài siêu thế của đức Phật, nhờ diễm phúc được làm “con” của bậc đã chứng ngộ chân lý. Ngài là tấm gương sáng cho các thế hệ Phật tử tại gia (đời) cũng như xuất gia (đạo), bất luận tuổi tác, tự biết mình có phước báo nhiều kiếp, hoan hỷ được xưng “con” trong giáo pháp của đức Phật.
6)*  Đối với các vị bán thế xuất gia, nghĩa là đã lập gia đình trước khi vào đạo, vẫn phải trải qua các thời gian tu tập và thụ giới như trên, cho nên cách xưng hô cũng không khác. Tuy nhiên để tránh việc gọi một người đứng tuổi xuất gia (trên 40, 50) là chú tiểu, giống như gọi các vị trẻ tuổi, có nơi gọi các vị bán thế xuất gia này là Sư chú, hay Sư bác. Hai từ ngữ này có nơi mang ý nghĩa khác. Việc truyền giới cụ túc, hay tấn phong, có khi không đợi đủ thời gian như trên đây, vì nhu cầu Phật sự của giáo hội, hay nhu cầu hoằng pháp của địa phương, nhất là đối với các vị bán thế xuất gia có khả năng hoằng pháp, từng đảm nhận trọng trách, hay nghiên cứu tu tập trước khi vào đạo.
7)*  Vài xưng hô khác trong đạo như: Sư Ông, Sư Cụ thường dành gọi vị sư phụ của sư phụ mình, hoặc gọi chư tôn đức có hạ lạp cao, thu nhận nhiều thế hệ đệ tử tại gia và xuất gia. Một danh xưng nữa là Pháp Sư, dành cho các vị xuất gia tăng hay ni (sư) có khả năng và hạnh nguyện thuyết pháp (pháp) độ sanh. Ngoại đạo lạm dụng danh xưng này chỉ các ông bà thầy pháp, thầy cúng.
8)*  Danh xưng Sư Tổ được dành cho chư tôn đức lãnh đạo các tông phái còn tại thế, và danh xưng Tổ Sư được dành cho chư tôn đức đã viên tịch, được hậu thế truy phong vì có công lao trọng đại đối với nền đạo. Đối với các bậc cao tăng thạc đức thường trụ ở một tự viện, người trong đạo thường dùng tên của ngôi già lam đó để gọi quí ngài, tránh gọi bằng pháp danh hay pháp hiệu của quí ngài, để tỏ lòng tôn kính.
9)*  Ngày xưa khi đức Phật còn tại thế, các vị tỳ kheo thường dùng tiếng Ðại Ðức (bậc thầy đức độ lớn lao, phúc tuệ lưỡng toàn) để xưng tán Ngài, mỗi khi có việc cần thưa thỉnh.  Các vị đệ tử lớn của đức Phật cũng được gọi là Ðại Ðức.  Trong các giới đàn ngày nay, các giới tử cũng xưng tán vị giới sư là Đại Đức. 
10)*  Nói chung, cách xưng hô trong đạo Phật nên thể hiện lòng tôn kính lẫn nhau, noi theo Bồ tát Thường bất khinh, bất tùy phân biệt, bất luận tuổi tác, dù tại gia hay xuất gia, nhằm ngăn ngừa tư tưởng luyến ái của thế tục, nhắm thẳng hướng giác ngộ chân lý, giải thoát sinh tử khổ đau, vượt khỏi vòng luân hồi loanh quanh luẩn quẩn. Nhất giả lễ kính chư Phật. Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh.  Cho nên đơn giản nhất là: “xưng con gọi Thầy”.
Theo các bộ luật bắc tông và nam tông còn có nhiều chi tiết hơn.
                                                                         * * *
Tóm lại, ngôn ngữ, danh từ chỉ là phương tiện tạm dùng giữa con người với nhau, trong đạo cũng như ngoài đời, có thể thay đổi theo thời gian và không gian, cho nên cách xưng hô trong đạo Phật tùy duyên, không có nguyên tắc cố định, tùy theo thời đại, hoàn cảnh, địa phương, tông phái, hay tùy theo quan hệ giữa hai bên. Đó là phần tu tướng.

Các vị phát tâm xuất gia tu hành, các vị phát tâm tu tập tại gia, đã coi thường mọi thứ danh lợi, địa vị của thế gian thì quan trọng gì chuyện xưng hô, tranh hơn thua chi lời nói, quan tâm chi chuyện ăn trên ngồi trước, đi trước đứng sau, tranh chấp danh tiếng, tranh cãi lợi dưỡng, tranh giành địa vị, đòi hỏi chức vụ, nếu có, trong nhà đạo.  Đồng quan điểm hay không, được cung kính hay không, xưng hô đúng phẩm vị hay không, chẳng đáng quan tâm, tránh sự tranh cãi.  Nơi đây không bàn đến cách xưng hô của những người không thực sự phát tâm tu tập, hý ngôn hý luận, náo loạn thiền môn, dù tại gia cũng như xuất gia.  Nhất niệm sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai. Nhất niệm sân tâm khởi, thiêu vạn công đức lâm, chính là nghĩa như vậy.
Cách xưng hô nên làm cho mọi người, trong đạo cũng như ngoài đời, cảm thấy an lạc, thoải mái, hợp với tâm mình, không trái lòng người, không quá câu nệ chấp nhứt, thế thôi!  Đó là phần tu tâm.
Trong đạo Phật, cách xưng hô có thể biến đổi nhưng có một điều quan trọng bất biến, không biến đổi, đó là phẩm hạnh, phẩm chất, đức độ, sự nổ lực, cố gắng  tu tâm dưỡng tánh không ngừng, cho đến ngày đạt mục đích cứu cánh: giác ngộ và giải thoát, đối với Phật Tử tại gia cũng như xuất gia. 
Đó chính là một phần ý nghĩa của “tùy duyên bất biến” trong đạo Phật vậy.[]

Tỳ-Khưu Thích-Chân-Tuệ
 PHẬT-HỌC TỊNH-QUANG CANADA


Thứ Sáu, 15 tháng 7, 2016

RÂU NGÔ / RÂU BẮP




Khi ăn ngô, rất nhiều người vứt đi bộ phận chứa chất quý này.

Trong râu ngô có chứa vitamin K là một loại vitamin rất tốt cho sức khỏe mà rất ít loại thực phẩm có được.
Mỗi khi ăn ngô, chúng ta thường chỉ sử dụng bắp mà vứt đi những chùm râu ngô óng mượt. Đơn giản bởi chúng ta không biết rằng râu ngô cũng có giá trị dinh dưỡng.
Từ nhiều thế kỷ nay, râu ngô đã được sử dụng như một phương thuốc dân gian. Nó chứa vitamin K và nhiều chất dinh dưỡng khác.
Chúng ta có thể ăn râu ngô trực tiếp hoặc cũng có thể đun sôi râu ngô để lấy nước, sau đó rắc một vài giọt nước cốt chanh là có thể uống được luôn.
Tuy rất tốt nhưng không phải ai cũng có thể sử dụng được râu ngô. Theo khuyến cáo của bác sĩ, phụ nữ mang thai, trẻ em và những người đang mắc bất kỳ căn bệnh nào cũng nên sử dụng thảo dược này.
Dưới đây là những lợi ích không ngờ tới của râu ngô đối với sức khỏe con người.

- Râu ngô được sử dụng như một bài thuốc dân gian giúp ngăn ngừa sỏi thận. Uống trà râu ngô đều đặn giúp giảm nguy cơ hình thành sỏi thận bởi nó làm tăng lưu lượng nước tiểu, từ đó làm sạch cặn bã.
- Hàm lượng vitamin K có trong râu ngô giúp làm nhanh quá trình máu đông, làm tăng số lượng tiểu cầu, trở thành một loại thuốc cầm máu hiệu quả, đặc biệt là sau một chấn thương.
- Nó cũng có thể giữ lượng đường trong máu ở mức kiểm soát. Mỗi ngày dùng 40 - 50g râu ngô sắc lấy nước uống. Nếu bị tiểu đường, bạn có thể tham khảo ý kiến của bác sĩ trước khi thực hiện.

- Râu ngô cũng hiệu quả trong việc kiểm soát nồng độ cholesterol xấu trong cơ thể. Vì vậy, loại thảo dược này rất tốt cho sức khỏe tim mạch.
- Râu ngô có công dụng lợi tiếu nên giúp đào thải các chất cặn bã ra khỏi cơ thể.
- Những ai bị béo phì hoặc mắc các vấn đề như hội chứng tiền kinh nguyệt (PMS) cũng có thể dùng 10-20 râu ngô tươi đun sôi với 200-300 ml nước uống trong một ngày.
- Uống nước râu ngô cũng có thể ngăn ngừa viêm tuyến tiền liệt và bảo vệ hệ thống tiết niệu. 

                                                               Theo Trí thức trẻ