Thứ Tư, 28 tháng 12, 2016

XIN CẢM ƠN (Tánh Thiện)



  XIN CẢM ƠN

Xin cảm ơn đời suốt năm qua
Nhờ Thầy hướng dẫn bước đường qua
Vui buồn như khói mây làn gió
Tự nhủ lòng mình đức vị tha .

Xin cảm ơn người biết bao nhiêu
Âm thanh còn lại tiếng chuông chiều
Bên hiên chùa cũ sương khuya đọng
Giải thoát đường về lập trí siêu.

Xin cảm ơn trời đất nở hoa
Từ duyên sanh diệt cõi ta bà
Như hoa đốm giữa vùng hư ảo
Nhìn lại chính mình nhẹ cái ta .

Xin cảm ơn em cả nụ cười
Bao năm tu học đẹp cuộc đời
Phước duyên theo hướng lời Phật dạy
Hạnh nguyện  muôn đời chẳng thể vơi .

                    Tánh Thiện
                    28-12-2016

Thứ Ba, 27 tháng 12, 2016

ĐÀN ĐÊM




 

                  ĐÀN ĐÊM
 
Lất phất mưa bay thấy dạ mềm,
Đàn ai trỗi khúc lướt tàn đêm.
Lều thưa thu đến lay trong gió,
Vách trống đông qua ngủ cạnh rèm.
Điệu lắng mộng mơ thời dỗi mãi,
Cung buông tình lụy cảnh hờn thêm.
Theo nhau ký ức niềm hương lửa,
Lật sổ trang đời cố lãng quên…

                                 Minh Đạo

http://www.daophatngaynay.com/vn/van-hoc/tho/22856-djan-djem.html
http://hoavouu.com/p41a42478/dan-dem

 

 

Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2016

Ý NGHĨA TÙY DUYÊN

Kết quả hình ảnh cho hoa sen

                                            
                                            Ý NGHĨA TÙY DUYÊN 

                                                HT. Thích Thanh Từ



Hôm nay chúng tôi sẽ nói chuyện với quí Phật tử về đề tài "Ý nghĩa tùy duyên". Ý nghĩa này rất sâu xa không phải tầm thường, và lâu nay nó cũng đã bị lạm dụng nhiều.

Về ý nghĩa tùy duyên, thì đây là một chỗ sống, không phải là chỗ lý luận hay chỗ bắt chước, bởi vì khi chúng ta bắt chước thì nó không còn là tùy duyên nữa, bởi khi bắt chước là nó có cái khuôn rồi. Cho nên ý nghĩa này rất quan trọng mà lâu nay nhiều người lại hiểu lầm rồi cũng dễ lạm dụng nó nữa.

Như vậy muốn tùy duyên thì thế nào là biết tùy duyên cho đúng ý nghĩa ?

1- Thứ nhất là phải thấy đúng lý mới tùy duyên được, còn chưa thấy đúng lý mà nói tùy duyên thì chỉ là lạm dụng, là hiểu lầm vậy thôi. Nghe nói tùy duyên, rồi mặc tình buông thả theo duyên thì tùy duyên kiểu đó là chạy theo cảnh chớ không phải tùy duyên, đó là bị duyên nó cuốn, nó lôi đi. Tùy duyên theo kiểu đó gọi là "tùy duyên tiêu sự nghiệp", tiêu tan sự nghiệp hết, rất nguy hiểm !

Cho nên muốn sống, muốn thấy được đúng ý nghĩa tùy duyên thì phải thấy đúng lý. Trong cái thấy đúng lý này, thứ nhất là cần rõ lý Tánh không của Bát-nhã.

Tánh không là sao? Bát-nhã dạy tất cả các pháp trên đời này "không có một pháp gì là thật cố định", nghĩa là từ bản thân của mình cho đến sự vật bên ngoài đều là duyên khởi. Duyên khởi tạm có cho nên gọi là Tánh không, là không có tánh cố định, không có Thể thật của nó. Chính vì Tánh không mới tùy duyên mà hiện khởi tất cả được, chớ nó cố định thì đâu còn tùy duyên. Ví dụ cố định là một khối cứng thì đâu thể tùy duyên mà biến thành các vật khác được.

Cũng giống như cái gương, nó không có một hình gì trong đó, cho nên nó có thể hiện đủ tất cả mọi hình bóng, nếu nó có một cái hình gì cố định bên trong, thí dụ hình tròn, thì nó không thể hiện được hình vuông, mà vuông tròn đẹp xấu gì cũng hiện được hết, là vì nó không có một cái gì trong đó, không cố định là cái gì.

Hoặc như hư không, hư không không phải là cái gì hết, cho nên nó cũng hiện được đủ mọi thứ.

Rồi gần nhất là cái gì? - Tâm của mình. Tâm mình không là một cái gì hết, cho nên nó mới nghĩ được đủ tất cả, nếu nó cố định là một cái gì rồi, chắc chắn nó không thể nghĩ tất cả được. Mà nó nghĩ đủ hết, cái gì nó cũng nghĩ tới, kể cả những cái gọi là không có, nó cũng nghĩ ra được nữa bởi vì nó không có gì hết.

Qua điểm nữa là, ngay thân mình là thân năm uẩn thì Tâm kinh Bát-nhã nói “ngũ uẩn giai không”, năm uẩn đều Tánh không, không thật, cho nên nó mới tùy duyên hiện được lớn được nhỏ, được tốt được xấu, mập ốm vui buồn, trời người nó cũng hiện được đủ hết, chính vì nó Tánh không, không cố định là gì. Nếu nó cố định, thí dụ năm uẩn này cố định là người rồi, tức nhiên nó không thể hiện thành trời được, cũng như nó cố định là mập rồi thì không thể hiện ốm được. Do nó không cố định gì, nên nó hiện được tất cả. Bởi vậy Bồ-tát Quán Thế Âm có ba mươi hai Ứng thân, có khi hiện nam hiện nữ, rồi hiện Tỳ-kheo, hiện Tỳ-kheo ni, hiện vua hiện quan, hiện đủ hết, làm sao hiện được như vậy ?

Do đó xét cho kỹ, rõ ràng không có một cái gì cố định, vậy thì mình bám chặt một chỗ, một cái làm gì để chịu khổ ? Như vậy cho thấy, hiểu được tùy duyên thì phải thấy lý Tánh không. Rõ được Tánh không của các pháp rồi thì tùy duyên, lúc đó luôn luôn có ánh sáng Bát-nhã đi theo, nên tùy duyên mà không có lầm lẫn. Còn nhắm mắt tùy duyên là đi xuống hố, mình phải thấy rõ cái ý nghĩa đó, thí dụ như người mù nhắm mắt đi bừa là phải lọt hố thôi.

Nhớ lại câu chuyện của ngài Tăng Triệu khi bị án tử hình, Ngài xin phép hoãn lại bảy bữa để viết cho xong bộ Luận Bảo Tạng rồi Ngài sẽ chết. Thử hỏi tới lúc đó còn tâm hồn gì ngồi để mà viết luận! Nhưng mà Ngài thấy chuyện đó như là chuyện chơi thôi, và đến trước khi chết Ngài còn đọc bài kệ :


                   Ngũ ấm nguyên phi hữu

                   Tứ đại bản lai không
                   Tương đầu lâm bạch nhẫn
                   Nhất tự trảm xuân phong.
Tức là:
                    Năm ấm nguyên chẳng có
                    Bốn đại xưa nay không
                    Đem đầu đến dao bén
                    Giống hệt chém gió xuân.

Có ai bị chém bị chết trong đó đâu? Cho nên Ngài thản nhiên coi như không có chuyện gì. Nếu mình thì lúc đó rụng rời tay chân, còn tâm hồn đâu mà ngồi viết sách, huống nữa là tới khi sắp chết còn nói kệ nữa! Như vậy đó mới thật sự là biết tùy duyên. Và tùy duyên kiểu đó dễ bắt chước không ?

Bởi vì Ngài thấy rõ năm uẩn bốn đại đều là không, đều là vô ngã hết, không có cái ta thật, thì trong đó cái gì chết, cái gì bị chém? Không thấy có cái gì bị chém thì đâu có gì mà khổ ? Còn mình vì thấy có “cái ta” bị chém bị chết, cho nên mới có khổ.

Do Ngài thấy rõ không có gì thật hết, bởi vậy hễ còn duyên thì làm Phật sự tiếp, hết duyên thì thôi ra đi, chớ không cố ghì lại một chỗ để chịu khổ. Còn mình vì thấy có cái ta trong đó cho nên cố ghì lại để sống, ghì không được thì phải kiếm cái ta mới ráp vào, chính cái ta mới đó lại đi trong sanh tử. Hiểu như vậy, thấy được cái lý như vậy thì mới khéo biết tùy duyên. Đó là điểm thứ nhất là phải thấy rõ được Tánh không.

2- Thứ hai, tiến bước nữa là nhận ra Bản tánh chân thật của mình, nghĩa là thấy được, nhận rõ được Bản tánh chân thật luôn luôn hiện hữu nơi mình, cho nên mình tùy duyên là để chi? - Tùy duyên là để sống trở về Bản tánh chân thật đó chớ không sanh những niệm, những tâm hoặc lấy hoặc bỏ, chỉ thuận với tánh để sống, làm sao không để mất nó, đó là chỗ sống của mình rồi.

Như bài kệ của vua Trần Nhân Tông, nhiều người nghe quen quá thành ra xem thường:


                    Ở đời vui đạo hãy tùy duyên

                    Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền
                    Trong nhà có báu thôi tìm kiếm
                    Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền.

Nghĩa là sao ? Nghĩa là ở đây nhận ra Bản tánh chân thật của mình hay của báu sẵn có trong mình rồi, thì khỏi cần phải chạy, phải tìm kiếm đeo đuổi cái gì bên ngoài nữa, nghĩa là không để cho cảnh nó lôi mình, nó làm mất mình. Như vậy mình sống ngay trong lòng đời này, ở giữa thế gian này mà vẫn vui với đạo, đó là biết tùy duyên, mà tùy duyên như vậy là để làm chi? - Là để sống với Bản tánh của mình, sống trở về với Bản tánh chân thật, ngoài ra không có gì quan trọng. Đó gọi là tùy duyên sống với Bản tánh, tiêu nghiệp cũ mà không tạo thêm nghiệp mới.

Như vậy tùy duyên mà thường sáng tỏ không có mê, không có mờ, tùy duyên mà không đặt thành một “cái ta” trong đó. Đó là điều quan trọng, còn tùy duyên mà có cái ta trong đó thì không phải tùy duyên. Cũng như ở đây “đói đến thì ăn, mệt ngủ liền” nhưng nếu còn có cái ý niệm là đói nên ăn hay không nên ăn thì sao? - Đó là chen cái ta vào trong đó, tức là cái gì nên ăn hay không nên ăn ? Đó là hết tùy duyên. Cho nên tùy duyên ở đây là thuận theo Tự tánh để sống trên đời, để cho nó luôn luôn được hiện hữu khắp nơi, đó mới là tùy duyên chân thật.

Ngài Sùng Tín sau khi ngộ đạo, Ngài hỏi vị thầy là Thiền sư Đạo Ngộ: “Làm sao để bảo nhậm ( giữ gìn ) ?” Ngài Đạo Ngộ bảo rằng: “Mặc tánh tiêu dao, tùy duyên phóng khoáng, chỉ hết phàm tình, không thánh giải khác.” Nghĩa là mặc tình thuận theo cái tánh đó mà tiêu dao tự tại, tùy duyên phóng khoáng thôi, chỉ cốt làm sao hết được cái tình phàm này, tình mê này chớ không có thêm một cái kiến giải thánh gì khác, không thấy có chứng có đắc gì khác nữa, đó là tùy duyên. Tùy duyên như vậy làm sao bắt chước đây ?

Chỗ này là phải sống, biết rõ mình có cái chân thật rồi thì sống tùy duyên, duyên đến thì tiếp, duyên qua thì thôi, không có cố chấp, không có mong cầu thêm nữa. Đó là vì có được chỗ sống vững vàng trong này rồi, nên mới tùy duyên được như vậy, mới tiêu được những nghiệp cũ và nghiệp mới không tạo thêm.

Thiền sư Thiên Y Nghĩa Hoài có bài kệ:


                Nhạn quá trường không

                Ảnh trầm hàn thủy
                Nhạn vô di tích chi ý
                Thủy vô lưu ảnh chi tâm.

Giống như con nhạn bay trên không, nhạn bay qua thì bóng hiện dưới nước, nhạn không có ý lưu dấu vết lại dưới nước. Và bay qua rồi thì bóng mất, nước cũng không có tâm giữ bóng con nhạn lại. Đó là tùy duyên, nhạn bay qua là duyên đến thì bóng nó hiện trong nước, duyên qua rồi thì nước không lưu bóng lại. Còn mình thì sao? Có khi duyên chưa đến mà kêu nó đến! Rồi duyên qua thì giữ lại không cho nó qua! Chính vì vậy cho nên khổ. Ngay trong lúc ngồi thiền cũng còn muốn giữ lại nữa. Ngồi thiền nhớ lại, giữ lại, lưu lại trong này, đó là không biết tùy duyên, còn biết tùy duyên thì tâm lúc nào cũng trong sáng, đâu có cái gì lưu lại trong đó thì có gì mà ngăn ngại ?

Thứ Sáu, 23 tháng 12, 2016

ĐẾN ĐI VÔ NGẠI (Tánh Thiện)




  ĐẾN ĐI VÔ NGẠI


Thân cùng chia sẻ
Mở rộng lòng ra
Học tánh vị tha
Là lời Phật dạy .

Khẩu luôn hoà ái
Từ tốn khiêm cung
Thoải mái ung dung
Là lời Phật dạy .

Ý trong sáng sủa
Không nghĩ hại ai
Nhân quả chẳng sai
Là lời Phật dạy .

Tu học chánh pháp
Thân khẩu ý chuyên
Liễu ngộ đạo thiền
Đến đi vô ngại .

Cuộc đời tự tại
Phước báo trong ta
Xuất nhập ta bà
Trí bi dũng cảm .


                  Tánh Thiện
                  23-12-2016

 

Thứ Ba, 20 tháng 12, 2016

NHÌN LẠI CUỐI NĂM (Tánh Thiện)

 


Hoa cuc quang duc (5)

              CUỐI NĂM NHÌN LẠI
 
 
Cuối năm nhìn lại chính mình
Con đường đạo nghiệp duyên mình đến đâu
Ta xin bắc một nhịp cầu
Ân Thầy nghĩa bạn càng sâu thấm bền .
 
Cuộc đời chẳng bớt chẳng thêm
Trung dung hành pháp mà nên đạo mầu
Duyên này chẳng có trước sau
Ngày nay học Phật phước giàu tự thân .
 
Sống đời đạo đức ân cần
Cõi lòng thanh thoát đẹp phần pháp thân
Một lời sám hối cũng cần
Một tâm niệm chánh nghiệp dần tiêu tan .
 
                    Tánh Thiện
                   20-12-2016

9 LỜI PHẬT GIẢNG, CÓ THỂ PHÁ GIẢI HẾT THẢY MỌI KHÓ KHĂN

tình yêu, khó khăn, cuoc song, 9 lời Phật giảng,



Con người trong cuộc sống có lẽ sẽ không tránh khỏi những khó khăn khiến bản thân cảm thấy buồn khổ. Tuy nhiên, thấu hiểu 9 lời Phật giảng dưới đây, thì thật sự hết thảy mọi buồn khổ đều sẽ tiêu tan.

1. Mất đi thứ gì đó, có cần phải tiếc nuối truy tìm?
Phật giảng: Mất đi thứ gì đó, kỳ thực nó không thực sự thuộc về ta, cho nên không cần tiếc hận, càng không cần phải truy tìm.
2. Cuộc sống quá mệt mỏi, như thế nào mới thoải mái?
Phật giảng: Cuộc sống mệt mỏi, một nửa là do sinh tồn, một nửa là do dục vọng ganh đua so sánh.
3. Ngày hôm qua và ngày hôm nay, làm thế nào để nắm giữ?
Phật giảng: Đừng để ngày hôm qua chiếm giữ ngày hôm nay.
4. Đối với bản thân như thế nào, đối với người khác ra sao?
Phật giảng: Đối tốt với bản thân mình, bởi vì cuộc đời này không lâu; đối tốt với người xung quanh mình, bởi vì kiếp sau có thể không còn gặp lại.
5. Như thế nào là xin lỗi có lịch sự?
Phật giảng: Thật lòng xin lỗi là một loại chân thành, không ngần ngại là một loại lễ độ. Nếu giải thích chân thành, nhưng lại không có được lễ độ, thì có thể đối với đối phương là kém hiểu biết và thô tục.
6. Như thế nào để cân bằng hạnh phúc và bi thương?
Phật giảng: Một người chỉ có một trái tim, nhưng lại có hai tâm. Một cái là hạnh phúc, một cái là bi thương, không cần cười đến quá to, nếu không sẽ đánh thức tâm bi thương bên cạnh.
7. Chúng ta nên phải như thế nào để “làm đến nơi đến chốn”?
Phật giảng: Chỉ cần chân còn trên mặt đất, thì đừng thấy mình quá nhẹ; chỉ cần còn sinh sống trên địa cầu, thì đừng thấy mình quá to lớn.
8. Có người nói tình yêu sẽ vì thời gian mà nhạt phai, có đúng vậy không?
Phật giảng: Tình yêu khiến người ta quên mất thời gian, thời gian cũng khiến người ta quên mất tình yêu.
9. Hai người yêu nhau nhưng không thể sống bên nhau, phải làm sao?
Phật giảng: Không thể sống bên nhau thì không thể sống bên nhau, kỳ thực cả đời này cũng không còn dài như vậy! Hãy trân quý mỗi lần tương ngộ!
Theo aboluowang.com

Chủ Nhật, 18 tháng 12, 2016

THIÊN NHAI CHIẾT BÚT - Tỳ khưu Giới Đức (Minh Đức Triều Tâm Ảnh)



                                                 THIÊN NHAI CHIẾT BÚT
                               Tỳ khưu Giới Đức (Minh Đức Triều Tâm Ảnh)

(Bài thơ Đường Luật “thất ngôn bát thập cú” này, dành để trân tặng, quý tặng chư vị đạo hữu, thân hữu, thi hữu, văn hữu, bằng hữu... như một lời tri tạ, bỏ bút trước khi ẩn tích – từ ngày 16, tháng giêng, Đinh Dậu, 2017 đến ngày 16, tháng giêng, Canh Tý, 2020)
 
                                             

Hai lần “nhập thất” ở hai nơi
Một ở làng quê, một núi đồi 
Đúng hẹn lại lên, ba tuế nữa
Đến kỳ phải ẩn, bảy tư rồi
Bệnh, già, thần chết không tha mạng!
Danh, lợi, ông câu chẳng chán mồi?
Bao tủ sách, kinh, không đọc nữa
Mấy gùi bút, giấy, quẳng đi thôi

Nhục vinh, chèo quẫy, tay run mỏi
Phải trái, nghĩ lung, óc rối bời
Lá trúc qua sông, câu chữ đắm!
Bè lau vượt biển, tứ từ trôi!
Cửa mây, khoá mãi, mây ngăn chướng
Động đá, khép hoài, đá hoá vôi!
Gắng đọc con tâm, không luỵ nghĩa
Cố tìm cái thực, chẳng mê lời

Năm canh, niệm giác, xem dê, khỉ
Sáu khắc, tỉnh không, ngắm tiết, thời
Thiền toạ tê chân, đau chớ ráng!
Kinh hành mỏi cẳng, mệt bèn ngơi!
Tự do chốc lát, miền trong trẻo
Giải thoát khắc giây, cõi rạng ngời
Cho chú lằn nâu, ti kẹo, bánh
Tặng đàn kiến đỏ, chút cơm, xôi

Mắt nghe, rõ rệt, làn mi động
Tai thấy, mơ hồ, hạt móc rơi
Tham vọng trong ngoài, đều lặng tiếng
Mê cuồng đây đó, thảy im hơi
Rừng “tư”, khám phá, “lòi” ma, quỷ
Núi “hoặc”, điều nghiên, “chộ” ngợm, người
Luống thẹn tròn đầu, dây tóc bẩn
Ngùi thương vuông áo, lấm thân hôi

Xênh xang xe ngựa, tham càng đắm
Hý hửng sang giàu, dục chẳng vơi
Đã sợ gieo nhân, ươm giống loại?
Còn lo thọ quả, cấy mầm phôi?
Vài giây thả rỗng, nhàn thơ thới
Bao kiếp bíu vin, mỏi rã rời
Ngọ nguậy kiến tri, “đùn mối gặm!”
Lắc lư trí tưởng, “gãy dầm bơi!”

Non sâu, ví lạm, tình sâu ẩn
Mắt trắng, như dường, nghĩa trắng phơi
Đá sỏi, chông gai – tâm cấy hạt
Khổ đau, phiền chướng - tuệ vươn chồi
Ngu nhân, cam chịu thân nhồng, sẻ
Hiền giả, ngùi thương kiếp kiến, ruồi
Mịt mịt, “si” um, mờ thế địa
Rần rần, “hận” cháy, nóng trần khơi

Suy lòng, hạnh nguyện, gìn y bát
Nghĩ bụng, công phu, giữ giống nòi
Nhân lý, chân cùm, đau cổ cẳng
Nghĩa tình, lệ chảy, xót con ngươi
Đâu vui, đâu khổ nên rành rẽ
Chỗ nợ, chỗ duyên phải rạch ròi
Chân dẫm than hồng, ghê lửa bỏng
Tay thò chão nóng, khiếp dầu sôi

Dẫu hay, thế sự luôn thay đổi
Vẫn biết, nhân tâm mãi chuyển dời
Được mất, lo âu, còn thấm thía?
Hơn thua, sợ hãi, đã ngoai nguôi?
Hang mây, gió vẹt lời huyên sáo
Vách đá, trăng dòm miệng đãi bôi
Nên nhớ, xuất gia, thuyền lướt ngược
Chớ quên, tại thế, nước về xuôi

Tháng ngày, ăn uống, mùi chay lạt
Hôm sớm, xả buông, vị mặn mòi
Ác dục chích châm, tiêm mấy nẻo
Độc sân cắn mổ, nhiễm bao đời
Ranh ma, xảo quyệt - tinh chồn cáo
Dõng lực, kiêu hùng - tính hổ voi
Bậc trí nhẹ vui, duyên dứt áo
Kẻ ngu, nặng khổ, nghiệp nằm nôi

Khung xanh, vén khói, trăng cười mỉm
Nước đục, tháo lừ, cá giỡn chơi!
Lưới nhện dày, thưa, trùm đã chặt?
Sợi hồng tơ, mảnh, buộc còn lơi?
Thênh thang giải thoát, lìa tham giận
Bát ngát tự do, đọ biển trời
“Đọc sách” ba năm, ta “diện bích”
Sát-na, mỗi mới, mới tinh khôi!


Ngoạ Tùng Am, Đông 2016
Tỳ-khưu Giới Đức
(Minh Đức Triều Tâm Ảnh)

 

Thứ Bảy, 17 tháng 12, 2016

CHUÔNG CHIỀU









                                                                       CHUÔNG CHIỀU

                                                           Chiều buông văng vẳng tiếng chuông xa,
                                                           Cạnh mái hiên trông cảnh xế tà.
                                                           Lá đổ nghiêng nghiêng mờ nắng nhạt,
                                                           Mây bay thoáng thoáng ánh sương pha.
                                                           Già lam cùng tựa bên kinh sách,
                                                           Thiện hữu nương nhau dưới lán nhà.
                                                           Đưa đẩy cơ duyên bao lũy kiếp,
                                                           Nhờ Thầy khai lối những ngày qua.

                                                                                                                       Minh Đạo


                                                                  http://quangduc.com/a59733/chuong-chieu  http://www.daophatngaynay.com/vn/van-hoc/tho/22764-chuong-chieu.html
http://poem.tkaraoke.com/70756/CHUONG_CHIEU.html
https://minhdao1160.wordpress.com/
 
 

Thứ Sáu, 16 tháng 12, 2016

MỘT CHỮ “ĐỨC”, KHÔNG NGỜ LẠI ẨN CHỨA THIÊN CƠ TO LỚN NHƯ VẬY!

Đạo đức, tu luyện, tiết lộ, thiên cơ, chữ đức, Bài chọn lọc,



Một chữ “Đức”, không ngờ lại ẩn chứa nhiều ý nghĩa sâu xa. Đó là những thông điệp mà Thần muốn truyền cho nhân loại, đặc biệt là con người ngày nay khi ngày càng rời xa đạo, cận kề mối hiểm nguy.

Chữ “đức” (德) là chữ Hán (thiên bàng) hợp thành từ các bộ “xích” (彳) , “thập” (十);  “mục” (目); “nhất” (一);   “tâm” (心) tổ hợp thành. Trong cuốn “Thuyết văn giải tự” giải thích: “Đức, thăng dã. Tùng  xích thanh”, tạm dịch là: “Đức, cảnh giới nhờ việc làm tốt mà thăng hoa”.
Hình chữ chọn dùng “彳” làm biên bàng, “㥁” làm thanh bàng. Vì vậy, “đức” có thể lý giải là đạo đức của con người, “tâm tính” (心性) của con người thăng hoa lên trên. Bởi “đức” có ý nghĩa vươn lên tầng thứ cao, cũng là chỉ tinh tấn trong tu luyện của người tu luyện.  “Xích” 彳, ý là đi thong thả. Theo “Thuyết văn giải tự”, “Xích” (彳) giống như 3 khớp xương đùi, bắp chân, bàn chân của chân dưới của con người liên kết lại với nhau, ý là đi từng bước nhỏ.
Nhưng bước đi thong thả trong chữ “đức” (德) này, không phải là chạy, không phải nhảy, không phải đang tản bộ trên đất bằng, cũng không phải đang dậm chân tại chỗ, mà là từng bước một có in dấu chân đi lên trên, hướng lên trên. Đối với một người bình thường mà nói, sự ít nhiều của “đức” quyết định năng lực lớn nhỏ, mức độ của hạnh phúc, hướng đi và tầng thứ của luân hồi.
Vậy nên, muốn “được” thì phải có “đức”, muốn “được” thì phải “mất”, muốn “được” thì phải “xả”, muốn “được” thì phải cho đi. Đối với người tu luyện mà nói, sự ít nhiều của “đức” đã quyết định mức độ khó dễ trong tu luyện của người tu luyện, tầng thứ và quả vị có thể đạt được.
Phía bên phải của “đức” là “thập mục nhất tâm” (十目一心). Chúng ta trước hết nói về chữ “nhất” (一) trong này. Chúng ta hiện nay đều lý giải chữ “nhất” là chữ số 1, cho rằng chữ nhất chính là đơn giản nhất. Trên thực tế chữ số này là phức tạp nhất. Trong “Thuyết văn giải tự”giải thích đối với chữ này là nhiều nhất. Vậy “nhất” (一) ở trong đó được đàm như thế nào?
Duy sơ thái cực, đạo lập ô nhất, tạo phân thiên địa, hóa thành vạn vật“, (tạm dịch là: Thái cực, Đạo tối nguyên sơ là được sinh ta từ “nhất”, sau đó tạo nên trời đất, sinh thành vạn vật). Vậy nên chữ “nhất” này nó là thủy tổ của vạn vật, là thủy tổ và bản nguyên của hết thảy mọi thứ. Từ “nhất” sinh ra âm dương, tạo ra trời đất. Vậy nên một nét ngang này thực tế chính là tách biệt trời đất, bên trên là trời, bên dưới là đất, còn “thập” (số 10) chính là “thế giới mười phương, bốn mặt tám phương”.
Vậy nên mọi người sẽ thấy chữ “đức” này rất có ý nghĩa, “thập mục” (十目) bên trên chữ “nhất” (一) chính là ý nói khắp trời đều là những con mắt. Chữ “tâm” (心) bên dưới chữ “nhất” đương nhiên chính là chỉ nhân tâm, vậy nên con mắt của khắp trời đều đang nhìn vào cái tâm của con người.
Quá khứ có một câu nói “trên đầu ba thước có Thần linh”, “làm chuyện trái với lương tâm ở trong phòng tối, mắt Thần lại thấy rõ như ánh điện”. Chính là nói khắp nơi đều là con mắt của trời, con mắt khắp trời đều đang nhìn xuống mặt đất này. Từ đây có thể thấy người xưa cho rằng cái gì là “đức”? Chính là không kể có người đang dõi nhìn bạn hay không, có pháp luật truy cứu bạn hay không, hành vi của bạn nếu phù hợp với đạo trời, thì mới là “đức” thật sự.
Lão Tử nói: “Vạn vật mạc bất tôn Đạo nhi quý Đức“, ý là muôn vật đều tôn trọng Đạo và quý trọng Đức; muôn vật nếu không có Đạo thì không thể sinh, không có Đức thì không thể thành được. Vạn vật trong cõi trời đất sở dĩ có thể sinh tồn và phát triển, đều là bắt nguồn từ sự dưỡng dục của đạo đức. Đức là một loại vật chất cao năng lượng nhìn không thấy, sờ không được nhưng lại thật sự tồn tại.
Có thể nói chữ “Đức” quyết định hết thảy mọi thứ của con người, sâu cạn nhiều ít của đức hạnh quyết định phúc phận và vận mệnh của con người. Cũng chính như “có đức mặc sức mà ăn” mà cổ nhân thường nói đến.
Đối với người bình thường mà nói, không có “đức” thì người ta sẽ không có phúc khí; đối với người tu luyện, không có đức thì người ta không thể tu luyện lên trên được, bởi vì tu luyện là “lấy đức diễn hóa ra công”. Vậy nên “tâm tính” (bao gồm cả “đức” trong đó) là thứ cơ bản nhất, then chốt nhất khiến người tu luyện đề cao tầng thứ, có được cao “công”.
Cát hung họa phúc của con người có liên quan chặt chẽ với đức, có đức là phúc, không có đức chính là họa, đây chính là “Thiên đạo vô thân, thường dữ thiện nhân“, ý rằng trời không thiên vị, thường giúp người lành.
Trong điển tịch cổ đại, “Thượng Thư – Sách lược Cao Đào” miêu tả 9 đức – 9 đức tính của Thánh nhân: “Khoan nhi lật, nhu nhi lập, nguyện nhi cung, loạn nhi kính, nhiễu nhi nghị, trực nhi ôn, giản nhi liêm, cương nhi tắc, cường nhi nghĩa”. (Tạm dịch là: khoan dung đại lượng nhưng cũng nghiêm túc cung kính, tính tình ôn hòa nhưng lại có chủ kiến, cẩn thận tỉ mỉ nhưng cũng trang trọng nghiêm túc, có tài trị quốc nhưng cũng thận trọng, giỏi lắng nghe ý kiến của người khác nhưng cũng cương nghị quyết đoán, hành vi chính trực nhưng thái độ ôn hòa, khoáng đạt giản dị nhưng cũng chú trọng cả những việc nhỏ, cương trực nhưng cũng vẹn toàn, kiên cường dũng cảm nhưng cũng phù hợp đạo nghĩa).
Trong quyển “Thượng Thư – Hồng Phạm”, nói đến ba phẩm đức khác: “Nhất viết chính trực, nhị viết cương khắc, tam viết nhu khắc”. (Tạm dịch: một là cương trực thẳng thắn, hai là lấy cứng rắn giành thắng lợi, ba là lấy mềm dẻo giành thắng lợi).
Trong quyển “Chu Lễ – Địa Quan”, lại có giảng đến 6 phẩm đức: “Tri, nhân, thánh, nghĩa, trung, hòa”; (tri: tri thức, hiểu biết; nhân: nhân nghĩa; thánh: sáng suốt: nghĩa: chính nghĩa; trung: chính trực; hòa: khiêm hòa).
Khổng Tử trong “Luận Ngữ” giảng “nhân, lễ, nghĩ, trí, tín”. Người xưa vô cùng tôn kính trời đất thần linh, có thể tuân giữ đạo đức, vậy nên có phẩm đức tốt, phúc phận lớn.
Con người hiện nay thường coi nhẹ đạo đức, nhìn nhận đạo đức một cách nông cạn. Hơn nữa còn cho rằng hai chữ “đạo đức” chỉ là một loại thuyết giáo, vốn không có nội hàm chân thật, chỉ nói ngoài cửa miệng mà thôi. Từ đó mà không thể thật lòng thành tín, không biết hàm nghĩa thâm sâu của đạo đức cũng như năng lượng vật chất và tinh thần to lớn của nó. Vậy nên con người hôm nay ngày càng rời xa đạo, thiết hụt đức, phúc phận mỏng manh, gặp nhiều chuyện không được như ý.
Tiểu Thiện, dịch từ NTDTV
 

ƯỚT ÁO (Tánh Thiện)



                                                                                         ƯỚT ÁO

                                                   Sông Hương nước ngập tràn bờ
                                                   Mưa rơi chẳng thấy bao giờ tạm ngưng
                                                   Nhìn lên Núi Ngự lưng chừng

                                                   Tiếng chuông Thiên Mụ bổng dưng gọi về

                                                    Đêm nay lặng lẽ tứ bề
                                                    Lời kinh huyền diệu tràn trề yêu thương
                                                    Tràng Tiền nối nhịp cầu thương

                                                    Biết bao sóng gió vô thường phút giây

                                                    Mưa về ướt áo em đây
                                                    Cho tôi nhắn gởi bên nầy mùa Đông
                                                    Vườn thiền ai đợi ai mong
                                                    Bao giờ phượng vĩ nắng hồng chiếu soi ?


                                                                                     Tánh Thiện
http://quangduc.com/a59732/uot-ao




 
 

Thứ Năm, 15 tháng 12, 2016

CUỐN SỔ CUỐI CÙNG CỦA CUỘC ĐỜI LÀ NGƯỜI BẠN GIÀ…




 
Người ta thường nói rằng, người vợ là khán giả cuối cùng trong cuộc đời của chồng, còn người chồng lại là cuốn sổ tiết kiệm cuối cùng của người vợ. Giữa vợ chồng, chính là “thân tình” cùng “ân tình”.
Người đàn ông, không kể là trong cuộc sống đã trải qua những chuyện gì, nhưng người thực sự chứng kiến khoảnh khắc cuối đời của bạn không ai khác, mà chính là người vợ, cũng là “khán giả cuối cùng” của bạn.
Người phụ nữ, khi đã đến tuổi già, dù cho gia đình có đến 5 thế hệ, con cháu đầy đàn, nhưng người thực sự không hối tiếc, chăm sóc bạn đến giây phút cuối cùng của cuộc đời, không ai khác, chính là người chồng, cũng là “cuốn sổ tiết kiệm cuối cùng” của bạn.http://tinhhoa.net/wpcontent/uploads/2014/08/BcKCN8.jpg
Chung quy, vợ chồng trên thế gian này, đều vì tính cách mà kết hợp, vì yêu thích mà đến với nhau, vì tình cảm mà lâu dài. Cái tình này, chính là thân tình cùng ân tình.http://tinhhoa.net/wpcontent/uploads/2014/08/BcKCN8.jpg
Loại ân tình này, thường không phải đến từ giai đoạn vợ chồng thuận buồm xuôi gió, mà là đến từ những lúc ngã lòng, trong hoạn nạn mà có nhau. Ví như lúc đối phương gặp rủi ro liền liều mình cứu giúp, hoặc trong lúc đối phương đau ốm thì tận tình chăm sóc, trong lúc cuộc sống bi thảm không oán không tiếc, hay trong lúc bạn bè xa lánh cũng không rời bỏ…
Loại tình cảm này, bất luận là lợi ích vật chất hay danh lợi gì cũng không thể thay thế được. Sở dĩ vợ chồng trên thế gian có thể yêu thương nhau, chính là vì họ đem “ân” đặt ở phía trước, đem “ái” đặt ở phía sau, cũng bởi vì giữa họ “ân tình” sớm đã vượt qua cái ngưỡng của “ái tình”.
Giữa vợ chồng, lúc tuổi còn trẻ là tình cảm bạn bè, trung niên là trợ thủ trong công việc, lúc về già trở thành cặp đôi cha mẹ. Bởi vì ở chung thời gian lâu rồi, mỗi người đều tiềm ẩn phụ tính cùng mẫu tính (bản năng của cha và mẹ), cũng là trong lúc vô tình mà bộc lộ ra, dần dần trở thành “cha mẹ” của đối phương, che chở cho bạn đời cũng giống như cho con cái.
Mặc kệ đối phương có bao nhiêu khuyết điểm cùng thiếu sót, cũng không quản là khi còn trẻ họ đã phạm phải bao nhiêu những sai lầm không thể tha thứ, hoặc đã từng gây ra cho mình những tổn thương lớn thế nào, đều có thể dùng tấm lòng bao dung mà tiếp nhận, mà tha thứ.
Nói đúng ra, đây mới là tình yêu. Tuy loại tình yêu này không có mấy phần lãng mạn, nhưng bởi vì nó tràn đầy thân tình, ân tình, yêu thương và giúp đỡ, cho nên, mặc dù không có mấy phần tình yêu, nó cũng có thể khiến cho hôn nhân trở nên ấm áp và hạnh phúc.
Tuệ Tâm