Thứ Sáu, 7 tháng 5, 2021

DUYÊN KHỞI LUẬN CỦA PHẬT GIÁO

 


Duyên khởi pháp đầy đủ, không - giả - trung còn gọi là Tam đế. Duyên khởi vô tự tính cho nên gọi là không, không tức là tự tính không, cũng tức là vô ngã, cho nên nói do duyên khởi pháp sinh diệt vô thường, không phải thực hữu, không chấp không cũng không chấp có tức là thực tướng.

“Nhân tính bình đẳng” cho đến “chúng sinh bình đẳng” là tư tưởng cốt lõi của giáo dục Phật Đà, giá trị của Phật Pháp chính là để hết thảy chúng sinh được ly khổ đắc lạc, đạt cứu cánh Niết Bàn tịch tĩnh. Do đó Phật Thích Ca dùng phương pháp giáo dục chỉ dạy chúng sinh liễu tri Phật pháp, rồi dùng Phật Pháp giác ngộ tha nhân; vì thế mà đề xướng chúng sinh bình đẳng “mọi chúng sinh đều có Phật tánh, đều có thể thành Phật”, đó là chân lí thiên cổ không bao giờ mất đi giá trị. 

Phật Giáo cho rằng vũ trụ vạn vật cho đến hết thảy hiện tượng trên thế gian đều do “duyên khởi tính không, nhân duyên hòa hợp” mà tồn tại. Kinh Kim Cang nói : “nếu thế giới thực có, tức là nói nhất hợp tướng, nhất hợp tướng tức là bất khả thuyết” chỉ do kẻ phàm phu còn lòng tham chấp. Lý luận này cũng là điểm khác biệt của Phật Giáo so với các tôn giáo khác, ở chỗ phủ định Thần Tạo Luận (do thần thánh tạo ra thế giới) mà công nhận chân lý “duyên khởi thuyết” và “hòa hợp luận”, đó là những quan điểm cho thấy sự khác biệt của Phật giáo. Phật pháp cho rằng vạn vật đều nương tựa bổ trợ lẫn nhau, tác động lẫn nhau mà hình thành và tồn tại, nhân quả luận cái này sinh dẫn đến cái khác sinh, chủ trương vạn vật duyên sinh tương hỗ mà thành, không phải là do thần tạo.

Thuyết duyên khởi của đạo Phật

Bà La Môn giáo cho rằng vũ trụ vạn vật đều do đấng Phạm Thiên (Brahma) tạo ra, là chuyển hóa của “thần ngã”, từ một loại nhân chung gốc chuyển biến thành vạn tượng sự vật, gọi là “chuyển biến thuyết”. Luận thuyết “thần tạo luận” này cũng là bản ý đầu tiên hình thành nhiều tôn giáo khác trên thế giới. Phật Thích Ca cũng phủ định “lục sư” ngoại đạo thời bấy giờ nhấn mạnh rằng vạn vật vũ trụ là do nhiều loại nguyên tố tập hợp mà thành, cũng tức nói nhiều loại phần tử bằng những hình thức khác nhau cấu thành vạn tượng phức tạp, cũng tức là nói thuyết tích tụ “nhất nhân” chỉ có nhân quả một chiều.

Phật Thích Ca Mâu Ni đề xuất thuyết “duyên khởi”, cho rằng mọi sự vật đều dựa vào nhau mà tồn tại, tác động lẫn nhau, sự tồn tại của tất cả mọi thứ đều lấy sự tồn tại của những thứ khác làm điều kiện chung, vì thế nói “cái này có làm cho cái khác có, cái này sinh làm cho cái khác sinh”. Quan điểm vạn vật dựa vào nhau tồn tại, làm điều kiện cho nhau tồn tại mà Thuyết Duyên Khởi thể hiện đã phủ định “chuyển biến thuyết” của Bà La Môn và thuyết “nhất nhân” một chiều của Lục sư ngoại đạo; cũng tức là phủ định thần tạo luận, mà chủ trương vạn vật duyên sinh phi thần luận.

Phật Giáo giảng “duyên khởi”, do đó có nhiều nhân duyên sinh ra pháp, từ đó sinh ra nhiều vấn đề kéo theo, vì thế chú trọng hiện tượng nghiệp lực sinh ra trong quá trình sinh sống của con người, hiện tượng này không phải điều diễn biến bên ngoài sự vật mà ngay trong quá trình sinh tồn. Sự kiến lập của lý luận này bắt nguồn từ sự quán chiếu toàn bộ quá trình nhân sinh, chứ không chỉ riêng là quan sát hiện tượng vũ trụ; vì thế  Phật Thích Ca chia đời người ra làm năm phần, chín phần, mười phần, mười hai phần. Về sau thuyết 12 phần của Phật giáo Đại Thừa trở thành cách nói thống nhất, tức thuyết thập nhị nhân duyên. Duyên khởi mà Phật Học giảng giải chính là bắt nguồn từ thuyết thập nhị nhân duyên. Như “Lữ Trừng Cư sĩ” trong “Duyên khởi và thực tướng” làm rõ ba loại duyên khởi, càng làm cho học thuyết duyên khởi thêm hệ thống và sâu sắc.

Covid-19 dưới góc nhìn lý duyên khởi

Loại thứ nhất “nghiệp hoặc duyên khởi” là thuyết Duyên khởi căn bản và nguyên sơ nhất, còn gọi là “phân biệt ái phi ái duyên khởi”, hay “thập nhị nhân duyên còn gọi là thập nhị hữu chi”. Thập nhị chi gồm có: Vô Minh, Hành, Thức, Danh Sắc, Lục Nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu, Sinh, Lão Tử. Thập nhị hữu chi lấy Vô Minh làm đầu, lấy Lão Tử làm điểm cuối để miêu tả quá trình hiện tượng nhân sinh; bởi vì có sinh nên có già chết, đó chính là gốc nguồn đau khổ của cuộc đời; vì vậy Phật giáo chủ trương nếu không có chết thì chỉ có một con đường đó là không sinh ra.

Loại thứ hai là “thọ dụng duyên khởi”, được tạo ra trên cơ sở của “nghiệp hoặc duyên khởi”. Thọ dụng duyên khởi chủ yếu làm rõ sự đan xen lẫn nhau của hai phương diện hiện tượng chủ quan và khách quan, từ đó hình thành các hiện tượng nhân sinh với những quan hệ nhân quả nội tại. Nội dung của thọ dụng duyên khởi là ba loại pháp môn gồm uẩn, giới, xứ; trong đó “Ngũ uẩn” có thể cho thấy rõ đặc trưng của duyên khởi này hơn cả. Uẩn “Sắc” trong ngũ uẩn thuộc về hiện tượng khách quan, uẩn “Thức” thuộc về hiện tượng chủ quan; thọ, tưởng, hành nằm giữa hai loại này nhưng thiên về hiện tượng chủ quan nhiều hơn. Sự tiếp xúc giữa Thức và Sắc buộc phải bắt đầu từ cảm thọ, sau đó từ Thọ tới Tưởng, từ Tưởng tới Hành, từ Hành tới Thức; do khác biệt trong cảm thọ khổ lạc mà sinh tâm tư yêu ghét, dẫn đến khác biệt trong hành động. Do đó Thọ có vai trò quyết định, nên gọi là “thọ dụng duyên khởi”. Duyên khởi quán của “Không Tông” chính là y theo ba loại hòa hợp giả Uẩn - Xứ - Giới của hữu tình tương tục nương nhau giả để hình thành nghiệp cảm duyên khởi, chứ thực chất không có một thực thể thật sự để thọ sinh cảm quả.

Loại thứ ba là “phân biệt tự tính duyên khởi”, tức là thuyết duyên khởi sinh ra sau cùng thời hậu kỳ Phật giáo Ấn Độ; bởi Phật Giáo tiếp nhận tư tưởng thần mật của ngoại đạo Bà La Môn dần dần xuống dốc hình thành hệ thống Mật tông thần mật của Phật giáo Ấn Độ hậu kỳ; do đó mất đi tư tưởng thuần túy và giải phóng truyền thống vốn có của Phật Giáo nguyên thủy. Phân biệt tự tính duyên khởi có thể xem như sự mở rộng một bước của Thọ dụng duyên khởi, đề cập đến cả vũ trụ nhân sinh, từ đó đắc được nhận thức về thực tướng. Phật Giáo Đại Thừa cũng nhấn mạnh vai trò của “cộng nghiệp”, để tiêu trừ ảnh hưởng của cộng nghiệp, sự giải thoát của con người chỉ có thể do cả nhân loại chứ không có cá nhân giải thoát hoàn toàn, như vậy có thể khiến cho phạm vi của duyên khởi mở rộng đến cả vũ trụ nhân sinh.

Hiểu biết về duyên khởi và nhân quả

Các tính của chư pháp bất đồng, thể hiện qua sự lí giải khái niệm “danh tưởng”. Danh tưởng không chỉ hạn chế ở ngôn thuyết, nó còn bao quát cả quan niệm biểu tượng trong tâm lí. Nhận thức về danh tưởng sau khi phát sinh và hoàn thành thì không hoàn toàn mất đi mà vẫn còn dư âm lưu lại làm căn cứ nhận thức lần sau, gọi là “tập khí” hay “huân tập”. Từ đó có thể phát sinh ý nghĩa nhận thức lần sau gọi là “công năng” hoặc “chủng tử”. Tập khí này khi lưu lại trong tâm lí sẽ còn bị ảnh hưởng từ các danh tưởng khác; từ đó phát sinh chuyển biến một cách không tự hay biết, tăng gia thế dụng, sức mạnh, đến khi phát triển tới một mức độ nhất định sẽ bộc phát thành một lần nhận thức nữa; quá trình diễn biến như vậy gọi là “chuyển biến sai biệt”. Tác dụng nhận thức biểu tượng cũng là sự tự chiếu của bản thân ý thức mà không có thực tại khách quan; thuộc về phạm trù trên mặt hiện tượng thể nhận thực tướng của Duy Thức phân biệt tự tính duyên khởi; muốn xem biểu tượng và bản chất có phù hợp hay không thì dùng Tam tính để biểu thị.

“Tam tính” tức: biến kế sở chấp tính, y tha khởi tính, viên thành thực tính. Khi nhận thức chưa hoàn mãn, sẽ bị ảnh hưởng bởi nhân ngã chấp và sẽ bị can nhiễu bởi ngã chấp; nên đối với sự vật chỉ có thể miễn cưỡng nhận thức bằng tưởng tượng, cho nên cái chúng ta nhận thức được chỉ là tự tướng được hình thành bởi sự phác họa của danh và tưởng chứ không phải bản chất của sự vật hiện tượng; thậm chí còn phủ lên nó một lớp mờ che đậy khác nữa, cho nên gọi đó là “biến kế tính” (biến: tức khắp thảy; kế: tức cộng dồn). Y cứ trên nó mà tiến hành những hành vi trong thực tiễn thì sẽ càng gia tăng đau khổ, biết rõ biến kế hư vọng nên cần phải gia tăng sự uốn nắn, giảm trừ chấp trước nhân pháp nhị ngã thì sẽ không bị sự chi phối của danh và tưởng, nhờ đó có thể hiểu rõ được bản chất của sự vật. Trước biết rõ sự nương dựa hỗ tương của hiện tượng duyên khởi, biết rõ biểu hiện cố định nhưng không phải là một tự thể độc lập nên càng nhận thức rõ hơn được y tha tính của sự vật hiện tượng, hiểu rõ được không có mối liên hệ giữa y tha tính và danh tưởng thì sẽ rời bỏ được sự buộc ràng của danh tưởng mà nhận thức rõ tính thực tại của nó, còn gọi là “ly ngôn tự tánh”.

Lý duyên khởi và bài học sâu sắc về cuộc sống

Bản chất của sự vật là không có nhận thức tự tính nên có thể tiêu trừ được sự chấp trước của nhân pháp nhị ngã, xa rời được năng sở nhị thủ, như vậy có thể từ tạp nhiễm chuyển hướng đến thanh tịnh, từ hữu lậu chuyển hướng đến viên mãn, thông qua thực tiễn để cuối cùng đạt đến thực tướng cứu cánh chính là “viên thành tính”. Thực tướng của tam tính lấy viên thành làm y chỉ; biến kế và y tha có thể đầy đủ ý nghĩa tương đối của thực tướng, thảy đều do trình tự của viên thành. Vũ trụ quan của Phật Giáo lấy duyên khởi làm căn bản, y nơi duyên mà nói thực tướng, hiểu biết nhận thức về thực tướng tức là nhận thức về bản chất của duyên khởi, cũng là không thể tách rời khỏi sự tu tập trong thực tiễn, thông qua sự tu tập trong thực tiễn để tịnh hóa tự ngã, thay đổi xã hội, cải thiện môi trường đều là căn bản của tự giác trong mỗi con người. Tự giác của mỗi người không ngừng hướng thượng, lấy việc thực hiện tự lợi lợi tha đạt đến điểm cuối cùng chính là giải thoát. Thực tiễn của việc tu tập là lấy việc tu hành giải thoát làm mục tiêu tối thượng.

“Trung Quán” nhấn mạnh, bất luận là nghị luận hay thực hành thì điều quan trọng là thể hiện được việc tu tập trong thực tiễn. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đầu tiên cũng lấy việc tu tập khổ hạnh rồi sau đó thể nhập chân lý tu hành trung đạo quán phi khổ phi lạc. Y cứ vào trung quán để thể nghiệm và quán sát thực tướng của chư pháp cần phải xa rời hết thảy sự phân biệt của danh và tưởng, biên kiến thiên kiến, không thể biểu rõ được thực tướng của sự vật, chỉ có tiêu trừ sự thiên chấp cực đoan, xa rời biên kiến thì mới có thể nghiệm và quán sát được bản chất của sự vật, vì thế sự tương ứng của trung và chân chính là trung đạo, cũng là sự thể hiện của tư tưởng Trung quán.

Tư tưởng Trung quán Đại Thừa của Bồ Tát Long Thọ xuất pháp từ lập trường của pháp môn bất nhị, nhấn mạnh bất sinh bất diệt, bất thường bất đoạn, bất nhất bất dị, bất lai bất khứ; “bát bất” này phá trừ phân biệt hư vọng, hiện thực ly rời hết thảy tri kiến, cũng gọi là “không quán”. Trung Luận chỉ rõ, “chúng nhân duyên sinh pháp, ngã thuyết tức thị không, diệc vi thị giả danh, diệc thị trung đạo nghĩa”. Duyên khởi pháp đầy đủ, không - giả - trung còn gọi là Tam đế. Duyên khởi vô tự tính cho nên gọi là không, không tức là tự tính không, cũng tức là vô ngã, cho nên nói do duyên khởi pháp sinh diệt vô thường, không phải thực hữu, không chấp không cũng không chấp có tức là thực tướng. Nhận thức của thực tướng đối với sự buông bỏ chấp ngã chính là thật nghĩa của vô ngã, càng chính là tính không của duyên khởi, chân thực tính của nhân duyên hòa hợp.

Thích Giải Hiền

KHÓI SÓNG (Thơ)

 


Mây chùng khói sóng khựng chân lê, (*)

Tuổi mộng xa rồi lắng thạch khê…

Dấu nỗi đời chênh ràng chốn ở,

Ghìm duyên phận mỏi ngại nơi về.

Hương tràn thức kẻ nghiêng bờ trúc,

Ruộng vẫy ươm tình rộn nẻo quê.

“ Thấy gốc phần “ theo từng kỷ niệm, (**)

Bên dòng xưa ấy chạnh lòng tê…

 

6/9/2018

Minh Đạo

--------------------------

 

( * ) “Nhật mộ hương quan hà xứ thị,

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

Hoàng Hạc Lâu (thơ Thôi Hiệu)

Quê hương khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai )

                         Tn Đà dch

 

(**)"Rộng thương còn mảnh hồng quần
Hoa tàn được thấy gốc phần là may".

        "Thấy gốc phần" - ao ước tội nghiệp của nàng Kiều nghĩa là gì? Chính là quê hương xuất xứ từ điển tích Hán Cao Tổ trong sách Hán Thư ghi "Cao Tổ đảo phong Phần Du xã" nghĩa là vua Hán Cao Tổ làm lễ đảo phong ở xã Phần Du. Phần Du là tên xã, tên quê hương Lưu Bang sau này là Hán Cao Tổ. Từ đó "phần du" hay theo cách nói người Việt "gốc phần" cũng là nói về tình quê, về quê hương.



 

Thứ Năm, 6 tháng 5, 2021

DỄ QUÊN QUÁ KHỨ CHÍNH LÀ MỘT LOẠI HẠNH PHÚC TRONG ĐỜI NGƯỜI

 


(Ảnh: Dazijia)

Trong cuộc đời của mỗi con người, sẽ có những ký ức tốt đẹp cùng với những ký ức không tốt đẹp. Ký ức tốt đẹp sẽ làm cho người ta nhớ mãi về nó, ký ức không tốt đẹp kia sẽ làm cho con người ta thống khổ mãi không thôi…

Sở dĩ có rất nhiều người luôn phiền não, thống khổ, chính bởi bản thân họ là một người có trí nhớ cực tốt, đối với những người và sự việc trước đây không buông bỏ xuống được, không quên được.

Liệu có cần làm cho bản thân mình mệt mỏi đến như vậy? Vì sao không thể làm một người dễ quên, sống cuộc đời vui vẻ thảnh thơi?

Quên mất mình đã cho người khác ân đức

Từ xưa có câu nói rất hay rằng: “Thi ân đừng mong báo đáp, mong báo đáp đừng thi ân”. Nhưng trong cuộc sống, có một số người sau khi đưa tay cứu trợ người khác liền cảm thấy đối phương thiếu mình cái ân tình, luôn để tâm rằng người khác phải biết ơn mình, phải biết hồi báo lại cho mình. Khi ở trước mặt người cũng thường cố ý bày ra thái độ cao ngạo, không tôn trọng đối phương.

Một hai lần còn chấp nhận, nhiều lần như thế cũng sẽ khiến những người đã từng nhận ân huệ to lớn của họ rất khó chịu. Như vậy, trong tâm người này lại càng thêm không thoải mái, cho rằng đối phương là người vong ân phụ nghĩa, cảm thấy chính mình lãng phí lòng tốt, trở nên thất vọng, tức tối thậm chí trở nên oán hận, vừa phiền não vừa thống khổ.

Giúp đỡ người khác vốn là một việc làm tốt, nhưng bởi vì luôn để ý, luôn nhớ rõ ở trong lòng cho nên trở thành gánh nặng, làm cho chính bản thân mình sống không thể vui vẻ, thoải mái.

Ai rồi cũng có lúc sẽ cần người khác đưa tay ra giúp đỡ, vì vậy hãy ghi nhớ sự giúp đỡ của người khác nhiều một chút, bớt nhớ cái ân giúp đỡ người khác của mình, thì cuộc sống của mình sẽ nhẹ nhõm đi rất nhiều.

Từ bỏ oán hận người khác cùng với những việc không như ý trước đây

Làm người ở đời sẽ gặp được rất nhiều người, trải qua rất nhiều sự việc, trong đó có thể có rất nhiều người khiến chúng ta tức đến phát điên, hận đến nghiến răng nghiến lợi, có thể có rất nhiều việc khiến chúng ta bị trói buộc, thậm chí ăn không ngon ngủ không yên.

Khi một người khoác lên tâm mình những oán hận thì chính là lúc đem lòng mình đi giam cầm vào trong tù ngục. Ánh mắt của họ lúc nào cũng nhìn chằm chằm vào cái người bị oán hận kia, rồi họ sẽ làm những việc không ý thức được với người kia, dần dần cuộc sống của họ càng lúc càng không như chính mình.

Mà không thoải mái cũng giống như một vết sẹo đau đớn, mỗi một lần nhớ đến thì nó sẽ phát tác đau đớn một lần; càng bám riết nhớ lấy nó, nó càng khó có thể lành lại.

Cho nên trong cuộc đời con người đừng ngại hãy dễ quên một chút, quên trước đây oán hận cùng với tức giận đối với người khác. Buông là sự giải thoát tốt nhất. Khi có một ngày chúng ta vứt bỏ được những việc này, chúng ta sẽ phát hiện rằng ánh mặt trời ấm áp kia đã lâu không thấy nay cuối cùng cũng xuyên qua bóng đêm chiếu rạng rỡ trên người mình.

Không nên luôn đắm chìm với hào quang quá khứ

Có người nói, đắm chìm với quá khứ huy hoàng là tảng đá trở ngại lớn nhất cho tương lai. Mỗi người đều có quá khứ, đều có thời xuân phong đắc ý, nhưng dù sao đó cũng là quá khứ. Mà trong cuộc sống có rất nhiều người không hiểu điều này, cứ lấy quá khứ đi định nghĩa cuộc sống hiện tại của mình.

Thấy cuộc sống người khác trong quá khứ không bằng mình, nhưng hiện nay những người đó lại tốt hơn mình rất nhiều, trong tâm lại không muốn cố gắng để theo kịp, lại cảm thấy thật không công bằng: Dựa vào cái gì hắn trước đây là một người nghèo khó mà hiện tại lại tốt như vậy?

Khi người khác từng bước đi lên phía trước thì họ lại “sống bám vào quá khứ”, còn tự cho là mình thông minh, cứ thế cùng người khác chênh lệch ngày càng lớn, cuộc sống càng lúc càng đình trệ.

Những người đắm chìm vào quá khứ huy hoàng không chịu rời bỏ kia, sẽ tự nhận thấy rằng mình là người có thực tài nhưng không gặp thời, là do cuộc sống cố ý gây trở ngại khó khăn cho mình, thế là trong tâm phẫn hận bất bình, nhìn xem cái gì cũng không thuận mắt.

Ngày hôm qua không thể ở lại, quá khứ huy hoàng cũng vậy. Nếu chẳng để ý huy hoàng của quá khứ, thì cũng sẽ không dừng bước tiến lên, sẽ không sinh lòng bất mãn đối với cuộc sống, thì cuộc sống này từng bước tiến lên thật tốt đẹp.

Đời người quá ngắn, xin hãy làm một người dễ quên

Hãy nhìn xem những người xung quanh chúng ta đi, ta sẽ phát hiện ra rằng những người có trí nhớ tốt thì thường thường có cuộc sống không thoải mái. Những người này trong tâm họ luôn chất chứa rất nhiều người và sự việc, không chịu buông xuống, cho nên tự vây khốn chính mình, luôn tìm mọi cách vùng vẫy trong thống khổ.

Cuộc đời này chính là quá ngắn ngủi, không có nhiều thời gian để cho đau khổ cùng lãng phí, sao không làm một người có trí nhớ kém một chút. Không cần để cho người, việc đã qua thành vật trói buộc lòng mình. Cuộc sống cần phải đi lên phía trước, bỏ qua người khác, bỏ qua quá khứ, cũng bỏ qua chính mình.

Đức Hạnh biên dịch

ĐỐI KHÁCH DẠ ẨM 對客夜飲 • LÊ THÁNH TÔNG

 


  




 Đối khách dạ ẩm

Tử quy chi thượng dạ tam canh,
Anh vũ bôi trung cảm khái tình.
Nghĩa sĩ duy hoài thiên lý chí,
Vĩnh bình bất tất lập công danh.

Lê Thánh Tông


Đêm uống rượu với khách
 
Kề nhánh đỗ quyên lúc nửa đêm,
Bên ly anh vũ cảm tình thêm.
Nghĩa sỹ chí ôm ngoài vạn dặm,
Công danh khó lập lúc thời yên.
 
Minh Đạo (Phỏng dịch)
 

Thứ Tư, 5 tháng 5, 2021

THUỐC TRƯỜNG THỌ RẺ NHẤT THẾ GIỚI KHÔNG NGỜ LẠI NẰM Ở HAI CHỮ “BẬN RỘN”



Một hành giả hỏi lão hòa thượng: “Trước khi đắc Đạo, ngài làm gì?”
Lão hòa thượng: “Đốn củi, gánh nước, nấu cơm”.
Hành giả hỏi: “Vậy đắc Đạo rồi thì sao?”
Lão hòa thượng: “Đốn củi, gánh nước, nấu cơm”.
Hành giả lại hỏi: “Vậy thì có gì khác với lúc chưa đắc Đạo?”
Lão hòa thượng: “Trước khi đắc đạo, khi đốn củi thì lo lắng đến gánh nước, lúc gánh nước lại nghĩ chuyện nấu cơm; đắc Đạo rồi, đốn củi thì cứ đốn củi, gánh nước thì là gánh nước, nấu cơm thì cứ nấu cơm”.

Từ xưa đến nay, khi nói đến trường thọ người ta đều cho rằng nó phụ thuộc vào yếu tố di truyền và phương thức sinh hoạt. Nhưng thuốc trường thọ rẻ nhất trên thế giới không ngờ lại rất đơn giản, nó chỉ nằm ở hai chữ “bận rộn”.

Phương pháp dưỡng sinh đạt tới trường thọ chính là dựa vào bận rộn

Lão tiên sinh Phương Thành hưởng thọ 100 tuổi, là một ngôi sao truyện tranh của Trung Quốc, cả đời sáng tác hơn 70 truyện khác nhau, ông còn viết cả tạp văn, là một trong ba họa sĩ truyện tranh nổi tiếng nhất của Trung Quốc. 

Ông có thân thể cường tráng, lúc về già vẫn kiên trì sáng tác, mạch suy nghĩ vô cùng nhanh nhạy, thậm chí lúc ông đã 93 tuổi, vẫn có thể gõ máy tính để viết truyện. 

Rất nhiều người hỏi ông cách dưỡng sinh, ông đã viết một bài vè, kết hợp với một bức tự họa đang đi xe đạp để thay cho câu trả lời, thơ viết: “Sinh hoạt gần đây rất bình thường, đi xe thư họa viết văn chương. Dưỡng sinh phải dựa vào hai chữ – Bận rộn!” 

“Bận rộn sáng tác, bận rộn chăm sóc hoa, nuôi chim, câu cá.v.v..chỉ cần là bận rộn thực sự, đầu nghĩ tay làm, đó đều là đạo dưỡng sinh cả”.

Bối Duật Minh làm việc luôn vui vẻ

Bối Duật Minh là một kiến trúc sư gốc Hoa nổi tiếng, hưởng thọ 102 tuổi, cả đời đã thiết kế được rất nhiều kiến trúc tiêu biểu, thành tựu rất lớn. Đến năm 90 tuổi, ông vẫn vui vẻ làm việc không chút mệt mỏi, ông đã thiết kế nhà bảo tàng Tô Châu. Công việc đối với ông mà nói chính là suối nguồn vui vẻ. 

Ông tự nói vui mình có “Số vất vả”, ông mỗi ngày đều đến công trường ở Tô Châu, có khi bận rộn đến tận sáng, ngày nào cũng đến công trường hơn 8 giờ đồng hồ, làm hết sức mình, cẩn thận từng chi tiết một.

Thuốc trường thọ rẻ nhất thế giới không ngờ lại nằm ở hai chữ "bận rộn" - a2
Người bận rộn sẽ không sinh ra cảm giác cô độc và uất ức, bận rộn có thể giúp xua đi cảm giác tiêu cực, giảm bớt áp lực. (Ảnh: Kosova Sot)

Bận rộn chính ra lại có lợi cho sức khỏe

1. Giảm bớt áp lực 

Người bận rộn sẽ không sinh ra cảm giác cô độc và uất ức, bận rộn có thể giúp xua đi cảm giác tiêu cực, giảm bớt áp lực. 

2. Tâm tình vui vẻ 

Làm cho bản thân có chỗ dựa vào, có mục tiêu, giữ được tâm tình vui vẻ, thân thể cũng sẽ càng khỏe mạnh.

3. Thông khí huyết

Lúc bận rộn, cơ thể hoạt động nhiều, làm cho khí huyết toàn thân được lưu thông, có lợi cho sức khỏe của cơ thể.

4. Đầu óc minh mẫn 

Người già bận rộn sẽ có lợi cho khả năng nhận thức, so với người quá nhàn rỗi, người bận rộn thường có khả năng nhận thức tốt hơn, có thể xử lý thông tin một cách nhanh chóng, cũng có trí nhớ và khả năng suy luận tốt hơn. 

5. Đề cao sức đề kháng của thân thể 

Người trong lúc bận rộn, hệ thống miễn dịch của cơ thể cũng ở vào trạng thái “tổng động viên”, có tác dụng đề cao khả năng miễn dịch, phòng tránh được bệnh tật. 

Phương pháp làm cho bản thân bận rộn

1. Không lười biếng

Duy trì được thói quen làm việc và nghỉ ngơi hợp lý, lúc ngủ thì ngủ cho ngon giấc, lúc dậy thì phải dậy ngay, không được ngủ nướng, trong công việc và cuộc sống phải sắp xếp ngăn nắp rõ ràng. 

2. Thường xuyên vận động 

Mỗi tuần duy trì thói quen vận động từ 3 đến 5 lần, ví dụ như đi bơi, chơi bóng, v.v. giúp cải thiện sức khỏe để thích ứng được với công việc bận rộn. 

3. Không phải cứ suốt ngày bận rộn

Không phải cứ loay hoay suốt ngày đêm không ngủ được, mà là cả đời đều có chuyện để làm. 

4. Nuôi dưỡng một loại hứng thú

Người già nên nuôi dưỡng cho mình một loại hứng thú, ví dụ như chơi đàn, đánh cờ, thư pháp, hội họa, du lịch, v.v. Có thể thông qua hứng thú mà học tập, trong lúc bận rộn mà vẫn có thể nhàn nhã, lại tìm được niềm vui cho chính mình.

Tại sao có người bận rộn thì thấy mệt mỏi, có người lại thấy vui vẻ nhàn nhã? 

Có thể thông qua hứng thú mà học tập, trong lúc bận rộn mà vẫn có thể nhàn nhã, lại tìm được niềm vui cho chính mình.
Có thể thông qua hứng thú mà học tập, trong lúc bận rộn mà vẫn có thể nhàn nhã, lại tìm được niềm vui cho chính mình. (ẢNh: Pinterest)

Có một câu chuyện như sau: Một hành giả hỏi lão hòa thượng: “Trước khi đắc Đạo, ngài làm gì?”

Lão hòa thượng: “Đốn củi, gánh nước, nấu cơm”.

Hành giả hỏi: “Vậy đắc Đạo rồi thì sao?”

Lão hòa thượng: “Đốn củi, gánh nước, nấu cơm”.

Hành giả lại hỏi: “Vậy thì có gì khác với lúc chưa đắc Đạo?”

Lão hòa thượng: “Trước khi đắc đạo, khi đốn củi thì lo lắng đến gánh nước, lúc gánh nước lại nghĩ chuyện nấu cơm; đắc Đạo rồi, đốn củi thì cứ đốn củi, gánh nước thì là gánh nước, nấu cơm thì cứ nấu cơm”.

Thường những người khi về già rồi mới có thể tìm thấy niềm vui trong bận rộn, vì những danh lợi tình nơi xã hội cũng đã trải qua hết rồi, bây giờ làm việc cũng chỉ là nhâm nhi về kiếp nhân sinh, không cần phải cố gắng làm đến mệt mỏi để đạt được một điều gì đó. 

Nhìn bề ngoài tuy cũng bận rộn giống như những người trẻ tuổi nhưng tâm thái lại khác nhau hoàn toàn, làm mà không suy nghĩ nhiều, cũng không truy cầu được mất, làm chỉ để mà làm, như vậy mới tìm thấy được niềm vui trong công việc.

Người trẻ tuổi nếu có thể sớm nhận thức đến điểm này, thì nhân sinh cũng sẽ trôi qua nhẹ nhàng hơn, không phải quá lao tâm khổ tứ. 

Chẳng phải vẫn có câu: “Sinh tử hữu mệnh, phú quý tại thiên”, ngụ ý rằng sinh tử hay vận mệnh của một người đều đã được ông trời sắp đặt hết rồi, làm mà không mong cầu, bận rộn mà không loạn, sống một cuộc đời nhàn nhã, thong dong.

Chân Chân biên dịch

ẨM TỬU ĐẮC CHƯ HỮU GIAI TÁC TỨC PHỤC TẨU BÚT THƯ THỊ 飲酒得諸友佳作即復走筆書示 CAO BÁ QUÁT

 


  








Ẩm tửu đắc chư hữu giai tác tức phục tẩu bút thư thị

Cố hương nhan sắc thượng y nhiên,
Nhân thế thăng trầm ngũ lục niên.
Tôn tửu nhãn trung đồng quá khách,
Cô phàm thiên phận tức phù yên.
Đình đình khuyết nguyệt như tằng ước,
Phiến phiến nguy phong chỉ tại tiền.
Hào tiếu lão điên liệt phong cảnh,
Do lai Ngao Tẩu thị Ngoan Tiên.

Cao Bá Quát

  

Uống rượu được tác phẩm hay của các bạn liền phóng bút viết đưa họ

Cảnh sắc làng xưa vẫn thế thôi,
Nỗi chìm năm sáu độ thu trôi.
Vùng trời buồm lẻ vầng mây nổi,
Chén rượu ly trong khách trọ rồi.
Trăng khuyết lững lơ như đã hẹn,
Non cao sừng sững sẵn kia rồi.
Kẻ rồ cười nói  vang vang phía,
Ương bướng tiên ngu lại thích đùa.
 
Minh Đạo (Phỏng dịch)