Chủ Nhật, 17 tháng 5, 2015

ĐÔI MẮT



                                                                     Đôi mắt em dịu hiền
                                                                     An vui và thánh thiện
                                                                     Rải tâm từ cùng khắp
                                                                     Đời bớt khổ triền miên  

                                                                     Vì thương người chứa chan
                                                                     Sầu não cùng lang thang
                                                                     Mắt em đầy giọt lệ
                                                                     Nguyện đời bớt gian nan
   
                                                                     Tìm đời bằng trí huệ
                                                                     Tìm người bằng tình thương
                                                                     Giữa dòng đời sanh tử
                                                                     Biết sao lý vô thường
              
                                                                                                 Minh Đạo - 2015

                                           
 

Thứ Năm, 14 tháng 5, 2015

BÌNH TĨNH TRƯỚC NHỮNG KHEN CHÊ CỦA CUỘC ĐỜI

                                     
 


Có một chú tiểu rất thông minh đến gặp một vị Lạt ma và nói rằng: “Trời ơi Ngài nổi tiếng lắm, đi đâu con cũng nghe danh ngài”. 
   Được khen vị Lạt ma liền hướng vô bên trong và kêu: “Này thị giả, hãy mang kẹo ra cho chú tiểu”.
   Chú tiểu nói tiếp: “Ngài làm như vậy, sao mà giống như Phật dạy quá!” .
   Vị Lạt ma lại gọi: “ Thị giả, mang thức ăn ngon ra cho chú tiểu”.   
   Chú tiểu khôn ngoan đó lại nói tiếp: “ Chính Ngài là Đức Phật taị thế”. 
   Vị Lạt ma lại gọi vào trong: “Haỹ mang thêm 3 đồng tiền vàng cho chú ". 
   Chú tiểu nghĩ rằng như vậy là đũ rồi và đứng chờ nhận quà.            
Chờ mãi mà không thấy ai ra,chú  hỏi vị Lạt ma sao thị giả của Ngài chưa đem kẹo, thức ăn và vàng ra. 
   Vị Lạt ma nói, “Tại sao ta phải cho con kẹo, thức ăn, vàng thật chớ? Con chỉ cho ta những lời nói trống rỗng. Ta cũng cho lại con những lời nói trống rỗng”.

  

Bình tĩnh trước những khen chê của cuộc đời
Khen và chê là hai phạm trù thuộc cảm xúc tương phản, luôn luôn làm dao động nội tâm chúng ta, kích thích sự hưng phấn hay ức chế, đem lại sự an lạc hay phiền não, có lợi hay bất lợi, là tuỳ thuộc cả hai đối tượng “trao và nhận”. Hãy coi lời khen ngợi và chỉ trích là như nhau.

Đã là con người không ai muốn mình là trò hề, là con rối trong mắt người khác. Một lời chỉ trích không có gì để lên án, nếu nó được góp ý với thái độ chân thành và không gian phù hợp. Nhưng vì cái tôi, cái ngã của chúng ta quá lớn nên khó chấp nhận lời góp ý từ người xung quanh.Nếu được khen hẳn nhiên chúng ta sẽ đón nhận với thái độ vui mừng, hớn hở, sung sướng tuy nhiên không phải lời khen nào cũng đúng và đáng để hãnh diện nếu nó không kèm theo một hành động cụ thể tương thích.

Tâm lý chung của con người là thích được khen hơn là chê, vì nghe những lời khen dễ hơn, lọt tai hơn, cảm xúc thăng hoa hơn, v.v… nhưng sống ở cõi Ta bà này, làm sao ta có thể luôn luôn đúng, vì thế nó phải có đúng có sai, có công bằng và thiếu công bằng, có ưu thì phải có khuyết, có khen ắt phải có chê.

Nhưng chê thế nào, cách chê người khác ra sao đó là một điều khó. Khen chê cũng là một nghệ thuật. Người chê được ví von như một nghệ sĩ biểu diễn trong bóng đêm nhưng bắt buộc phải truyền tải được cái hồn cho khán giả, như vậy có nghĩa là gì? Người chê phải có một trải nghiệm sâu sắc, kiến thức uyên thâm, giao tiếp tốt, hiểu lòng người, đặc biệt phải có cái tâm “thẳng” không cong quẹo. Có như vậy thì mới chê đúng, khen đúng đối tượng. Còn người bị phê phán giống như một người thợ mới vào nghề, làm thế nào để chứng tỏ khả năng, năng lực làm việc, bản lĩnh trong mọi tình huống, để đón nhận tất cả những gì đang diễn ra bên ngoài với vô vàn những điều không như ý muốn.
Chúng ta cùng nhau quay lại thời Đức Phật còn tại thế. Một hôm, Đức Phật và chúng Tỳ kheo đi trên con đường giữa Ratãgahã và Nalandã. Ði sau là tu sĩ ngoại đạo Suppiyo và một đệ tử là Brahmadatta. Suppiyo dùng vô số phương tiện hủy báng Phật, hủy báng Pháp, hủy báng Tăng. Trái lại, thanh niên Brahmadatta dùng vô số phương tiện tán thán Phật, tán thán Pháp, tán thán Tăng.
Khi đêm vừa tàn, chúng Tỳ kheo đem sự việc trên bàn luận với nhau. Ðức Phật đi đến, sau khi biết tự sự Ngài dạy rằng:
“Này các Tỳ kheo, nếu có người hủy báng ta, hủy báng Pháp, hủy báng Tăng, các ngươi chớ vì vậy sanh lòng căm phẩn, tức tối, tâm sinh phiền muộn…”
“Này các Tỳ kheo, nếu có người tán thán ta, tán thán Pháp, tán thán Tăng, thời các ngươi không nên hoan hỷ, khoái trá, tâm không nên thích thú…”
Tại sao Đức Phật lại dạy chúng Tỳ kheo như thế, vì Ngài cho rằng khi bị chê trách thì tức giận, buồn phiền, khi được khen ngợi thì vui sướng tột độ, như vậy đều có hại, và không biết chính xác được lời nói của những kẻ ấy đúng hay sai sự thật.
Theo phản xạ tự nhiên của con người, nếu như bị tấn công thì phải chống trả bằng mọi cách, coi đó là kẻ thù không đội trời chung. Có như vậy mới chứng tỏ được bản lĩnh của mình, không yếu thế, không hèn mọn, không nhu nhược và ngu dốt. Cái tâm háo thắng nó sinh ra suy nghĩ ấy.
Trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Đức Phật có dạy: “Khi bị kẻ xấu quấy phá, nhục mạ hãy cố nín lặng như người đem lễ vật biếu người khác, họ không nhận, thì lễ vật ấy được trả lại. Cũng như người ngửa mặt nhổ bọt lên trời, bọt chẳng tới trời, trái lại rơi vào mặt mình…”.
Học cách nín lặng không có nghĩa là ta đánh mất “mình”, sợ người khác đánh giá mình non kém, mà nín thinh để trả lại món quà cho người đang phỉ báng ta. Sự háo thắng nó được thể hiện rất rõ khi ta tìm mọi cách để trả thù cho những gì được gọi là “nợ”. Đó là cách suy nghĩ không sáng suốt và thiếu tích cực.Cho dù được tán thán hay bị phê phán thì chúng ta cũng hoan hỷ xem xét kỹ lưỡng, phân tích đúng sai, để từ đó rút ra cho mình những điều phù hợp nhất cho bản thân.
Bởi lẽ người thầy vĩ đại nhất của một con người không ai khác chính là bản thân mình. Không ai có thể yêu cầu, bắt buộc chúng ta thay đổi nếu điều đó ta thấy không phù hợp và cần thiết. Vì vậy, mỗi cá nhân phải tự học cách thay đổi, hoàn thiện, cải biên, làm mới mình, khi được “soi” vào những tấm gương lớn hơn.
Trong cuốn “Chê và Bị Chê” tác giả Trần Xuân Tuyết đã viết thế này: “Nếu vừa bị chê, chúng ta đã đỏ mặt tía tai là bản lãnh chúng ta còn thật kém cỏi, không bao giờ có được “bạn hiền”. Vừa bị chê, đã sợ sệt, là nhu nhược, khó lòng đi xa trên con đường sáng tạo cho đời cũng như cho chính bản thân. Bị chê, nhưng lạnh lùng không tiếp thu, xem xét lại mình, là khinh mạn, kiêu căng, là phản bội lại chính mình. Bị chê, vờ vịt nhận thiếu sót cho đẹp lòng người chê là giả dối. Những người bảo thủ và tự đại, những người hống hách và độc đoán, những người dốt nát mà hợm hĩnh, thường ít có khả năng chịu đựng được lời chê”. Một quan điểm đúng đắn ở mọi thời đại.
Chê người khác đã là một việc khó nhưng có đủ bản lĩnh, tầm vóc để đón nhận lời chê còn khó hơn. Hãy bình tĩnh lắng nghe và đi vào chi tiết từng câu nói của người chê, trong lúc ấy gần như tâm chúng ta bớt loạn và không thốt ra những lời vô nghĩa. Đừng để cảm xúc đưa mình tới suy nghĩ rằng mình đang bị lấn át hay cảm giác bị ức chế, mà hãy tìm trong mỗi câu chỉ trích một điều đúng mà bản thân chúng ta cần thay đổi.Cho dù thế nào đi chăng nữa, thì chúng ta cũng không nên lo lắng người khác đang nghĩ gì về chúng ta. Nếu cứ chăm chăm như vậy, chúng ta sẽ bị người khác kiểm soát xúc cảm và bị phụ thuộc vào lời nói cũng như hành động của họ.
Hãy dần từ bỏ những đánh giá bên ngoài, chọn lọc thông tin cần thiết, tìm cho mình những người bạn chân thành, vì chỉ có những người bạn chân thành mới cho ta sự tin cậy để ta lắng nghe và sửa đổi. Từ đó, chúng ta sẽ nhìn nhận và đánh giá mọi việc, sẽ bớt quan tâm tới những đánh giá từ bên ngoài. Đừng bao biến mình thành kẻ bất cần, không muốn nghe lời chỉ trích, dù cho nó có giá trị thật sự.
Cho dù là vô tình hay hữu ý mà chúng ta phải nghe những lời nhận xét thiếu căn nguyên thì cũng nhẹ nhàng bước qua nó và từ bỏ ý định đi tìm lí do tạ sao như vậy. Khi tâm an thì tất cả mọi thứ đều an. Hãy nghĩ đến những gì viên mãn mà chúng ta đang có và hãy vui vì điều ấy.
Ở đời này, việc giữ một tâm thế bình ổn trước những lời khen chê, hay những lời nhận xét gay gắt, hoặc những lời phê bình, v.v… không hề đơn giản. Tất cả đều cần có thời gian và sự kiên trì, nhẫn nhịn và biết lắng nghe trong mọi tình huống của cuộc sống.
                                                                   Theo KienThuc


Thứ Ba, 12 tháng 5, 2015

THỊ PHI

   

Dưới đây là 2 câu chuyện nói về cách mà người thời xưa đối diện với những thị phi.
Câu chuyện thứ nhất:
Trong một buổi nhàn hạ, vua Đường Thái Tông hỏi chuyện vị quan cận thần là Hứa Kính Tôn rằng:
– Trẫm thấy khanh phẩm cách cũng không phải là phường sơ bạc. Sao lại có nhiều tiếng thị phi chê ghét như thế?
Hứa Kính Tôn trả lời:
– Tâu bệ hạ. Mưa mùa Xuân tầm tã như dầu, người nông phu mừng cho ruộng đất được thấm nhuần, kẻ bộ hành lại ghét vì đường đi trơn trợt. Trăng mùa thu sáng vằng vặc như gương treo trên bầu trời đêm, hàng thi nhân vui mừng gặp dịp thưởng du ngâm vịnh, nhưng bọn đạo chích lại ghét vì ánh trăng quá sáng tỏ. Trời đất kia vốn vô tư không thiên vị, mà cơn nắng mưa thời tiết vẫn bị thế gian trách hận ghét thương. 
Còn hạ thần đâu phải một người vẹn toàn thì làm sao tránh khỏi tiếng chê bai chỉ trích.Cho nên ngu thần trộm nghĩ, đối với tiếng thị phi trong thế gian nên bình tâm suy xét, đừng nên vội tin nghe. Vua tin nghe lời thị phi thì quan thần bị hại. Cha mẹ tin nghe lời thị phi thì con cái bị ruồng bỏ. Vợ chồng tin nghe lời thị phi thì gia đình ly tán. Tiếng thị phi của thế gian nọc độc còn hơn rắn rết, bén hơn gươm đao, giết người không thấy máu.
Câu chuyện thứ hai:
Một lần, Phật đi giáo hóa ở vùng có nhiều người tu theo Bà La Môn giáo. Các tu sĩ Bà La Môn thấy đệ tử của mình đi theo Phật nhiều quá, nên ra đón đường Phật mà mắng chửi. Phật vẫn đi thong thả, họ đi theo sau không tiếc lời rủa xả. Thấy Phật thản nhiên làm thinh, họ tức giận, chặn Phật lại hỏi:
– Ngài có điếc không?
– Ta không điếc.
– Ngài không điếc sao không nghe tôi chửi?
– Này tín đồ Bà La Môn, nếu nhà ông có đám tiệc, thân nhân tới dự, mãn tiệc họ ra về, ông lấy quà tặng họ không nhận thì quà đấy về tay ai?
– Quà ấy về tôi chứ ai.
– Cũng vậy, ông chửi ta, ta không nhận thì thôi.
 Trong kinh Phật viết rằng, khi người ác mắng chửi người thiện, người thiện không nhận thì người ác giống như người ngửa mặt lên trời phun nước bọt, nước bọt không tới trời mà rời xuống ngay mặt người phun. Có thọ nhận mới dính mắc đau khổ, không thọ nhận thì an vui hạnh phúc. Thế nên từ nay về sau nếu có nghe thấy ai đó nói lời không tốt về mình, chớ có thọ nhận thì sẽ được an vui.Theo Phật giáo, khẩu nghiệp là một trong những nghiệp nặng nề nhất mà một người có thể tạo ra. Vết thương bạn gây ra trên thân thể người khác còn có ngày lành nhưng vết thương gây ra bởi lời nói thì chẳng biết ngày nào mới lành lại được.
http://media.kenh9.tv/http/1200x1200/bocau.net-BcKCN8-42026.jpgVì vậy hãy cẩn trọng với lời nói của mình, đừng gây ra thị phi vì vô ý thức, cũng đừng trách móc người khác chỉ vì lỗi lầm của họ bởi: “Every saint has a past, every sinner has a future”, nghĩa là “Vị thánh nào cũng có một quá khứ, và tội đồ nào cũng có một tương lai”.
Nguồn: giadinhonline

Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2015

MỘT BÀI VIẾT HAY VỀ BỘT NGHỆ CỦA MỘT VỊ BÁC-SỈ TRẺ VN.

                                        



Bột nghệ:
Bột nghệ là một thuốc sát trùng (antiseptic) rất mạnh, là một antibiotic thiên nhiên (trụ sinh), có nhiều anti-oxidants (chống lão hoá). Khi dùng nghệ tươi để tẩy sẹo mổ hay sẹo trứng cá (trẻ dậy thì), thì vết sẹo lành thật nhanh và các mụn cũng bị tẩy sạch. Nghệ tốt hơn các thuốc trị trứng cá vì vừa sát trùng, vừa lành vết thương, vừa làm nhạt sẹo rất hiệu nghiệm. Chỉ trong vòng 1, 2 tuần là vết sẹo lành, vết sẹo nhoà đi và không thấy vết mổ nữa.
Nếu ta trộn chung bột nghệ với mật ong thật và sống (không phải nước đường, mật miá hay caramel – nước đường thắng như nước mầu) thì lại thêm anti-oxidants và mạnh như natural antibiotic.
Cháu có người mợ khi chạy sang Mỹ thì bị lang beng, loang lổ cùng mặt. Người con trai học bác sĩ lấy vợ bác sĩ Ấn độ, mách cho là bên gia đình vợ dậy trộn bột nghệ (mua ở tiệm Ấn độ bao to cho rẻ) với mật ong tươi (chưa nấu, mua ở local farmer’s market), viên thành cục như ô mai cam thảo. Sau khi phơi khô thì cho vào microwave cho khô kỹ thêm. Thật ra mấy thứ sát trùng, antiobiotic này không thể mốc được. Mỗi ngày, mợ cháu nhai 3 viên, sáng trưa chiều ba bữa. Chỉ trong 2-3 tháng là da mặt trở lại bình thường, một mầu và trắng mịn như xưa.
Mỗi khi bị vết thương, sưng cổ họng… cần antibiotic, cháu cứ mua Turmeric viên từ các health food stores, uống thay cho trụ sinh. Chỉ 2-3 ngày là hết sưng. Tuy nhiên, ta là người Á Đông cần để ý xem mình có ăn món gì quá nóng (ớt, tỏi, sầu riêng, xoài, mít…), làm sưng cơ thể, khơi dậy arthritis (sưng khớp xương) thì nên bớt đi và uống nước mát. Nếu không chắc là bệnh gì thì nên nấu chè đậu xanh cả vỏ (neutralizer, detox), rong biển (phổ tai, seaweed) hay ăn nhiều rau ngò (1 bó cilantro 1 ngày - the best detoxifying herb) mà ăn. Chỉ trong vòng 1 ngày là tống được các chất độc như chì (lead), kim nhũ (mercury)… ra khỏi cơ thể. Những chất chemical và toxic metals rất độc, làm cho gan, thận… bị tắc nghẹt và ngưng làm việc tẩy độc. Rau ngò là binding agent, quện lấy các chất toxic metals và đẩy ra ngoài.
Cá (nục hay bất cứ loại cá nào) đã ươn hay mang toxic chemicals từ water run off ( từ chemical plants, pesticides từ ruộng đồng…) có thể làm  tắc gan, cứng gan và gan ngưng làm việc tẩy độc ngay. Cơ thể ta có thể nhiễm trùng hay nhiễm độc trầm trọng và blood pressure cũng như sugar level drop nhanh chóng. Mercury có thể ảnh hưởng đến luồng điện trong cơ thể và óc, và làm ngăn cản (impair) những functions thật basic nhất như thở, đi đứng, tim đập… và có thể gây nên epilepsy (phong đòn gánh) hay bất tỉnh. Cá còn có thể đưa vào thân ta parasites (ký sinh trùng) nếu ăn sống (sushi, sashimi, seviche, gỏi…) nấu chưa chín hẳn hay chưa lọc sạch phần độc. Những ký sinh trùng có thể làm shut down toàn cơ thể trong 24 tiếng, làm gan sưng vù và nghẽn các lục phủ ngũ tạng, hay làm máu đóng cục, nghẽn các tinh mạch. Phổi không thở được, thì không có air exchange là tim cũng shut down. Ông bố chồng cháu ăn cá lúc 12 giờ trưa, 1 giờ là ngất siủ và blood pressure dropped to nothing. Ông ta vào nhà thương, 5 ông bác sĩ không chẩn được bệnh. Cháu hỏi một ông Nutritionist, chuyên về Toxicology thì được biết như trên. Cháu vội chạy vào nhà thương, chỉ cho các đấng kia biết và họ làm detox.
Parasites rất nguy hiểm, nhưng nguy hiểm bội phần khi chết hơn là khi sống. Khi sống, nó có thể đục thủng thân ta, muốn đi đâu là đi, từ da đến óc, làm ta bị chẩy máu toàn thân. Nếu nó lên óc thì có thể đứt mạch máu óc, mù mắt… Tuy nhiên, khi chết, các bạch huyết cầu trong thân ta bu lại, bám lấy con xác ký sinh trùng và tạo nên một cục to như bướu (tumor), làm nghẹt sự lưu thông của mạch máu hay cản trở việc làm của bắp thịt. Nếu bác có giờ, cháu mời bác tìm trong Internet chương trình Monsters Inside Me để hiểu rõ hơn.
Nước ngọt (Coca Cola, Pepsi Cola… ) rất độc cho sức khoẻ vì nhiều lý do:
1. Đường refined, biến chế, tẩy trắng… rất addictive (dễ nghiện) hơn bất cứ các chất độc khác. Trong cái lưỡi của người bình thường, các tế bào phát triển trước hết là tế bào cho ta thưởng thức chất ngọt, xong đến chua, mặn, đắng, chát và cay. Diet của người Mỹ chỉ có 3 vị là ngọt, mặn và chua. Cơm Ấn độ có cả 6 vị. Chính vì thế mà người Mỹ hay làm thức ăn và uống nhiều đường để bán cho nhiều hàng, dù biết là đường trắng cũng như bột mì trắng (hoá ra glucose khi vào cơ thể ta) làm gan ngưng làm insulin. Đó là khi ta mệt rũ ra và phài ăn thêm đường hay kẹo. Sau một thời gian dài, ta mắc bệnh tiểu đường (diabetes), tức là cơ thể không thể hấp thụ (metabolize) được đường từ thức ăn và ăn đường vào là sẽ thải qua đường tiểu ra. Cơ thể trở thành malnourished (thiếu dinh dưỡng) và nhiều phần bắt đầu chết dần.
2. Đường là nguyên do gây ra nhiều loại cancers.
Đường (refined sugar, refined starches, corn syrup…) là nguyên cơ của nhiều bệnh ung thư (cancers). Nếu ta có thèm chất ngọt  thì nên ăn trái cây hay dùng các loại complex sugar (mật ong, kẹo mạch nha, agave nectar…), complex starches (gạo lứt) hay thay đường bằng lá cây Stevia (zero calorie) hay Xylitol (natural sugar but zero calorie). Xin chớ dùng Equal (Aspertame), Sweet & Low (Saccharin) hay Splenda. Cơ thể ta không thể nhận ra các chất hoá học nhân tạo này và không tiêu hoá được (metabolize). Các chất này đọng đầy các bộ phận detox như gan, kidney, pancreas… và làm chướng ngại vật như đống rác. Một ngày nào đó, cơ thể ta đầy rác rến, không làm việc nữa và đình công vĩnh viễn.
Nếu bác lùi xa và quan sát lại xã hội Mỹ thì sẽ nhận định là xứ Mỹ giầu có nhất nhưng cũng là sắc dân đứng hàng đầu về cancer, heart attack, strokes, diabetes và bao nhiêu bệnh nhà giầu như depression, gout… Nếu ăn theo đúng loại metabolic type của mình (Sympathetic hay ParaSympathetic ) và theo đúng loại máu của mình (A, B, AB, O, positive, negative…) thì sẽ không có bệnh gì. Ngoài ra môi trường sống có những pollution thấy được (rác rến, Asbestos…) và loại không nhìn thấy (Ozone, Radiation, Radon…). Có những nhà hay văn phòng xây quá gần cột điện cao thế, làm chất sắt hay metals trong máu chạy bậy bạ.
3. Các chất artificial flavoring rất độc. Mình không biết là các chất đó có phải là thức ăn cho người hay là chất bậy bạ như mấy hãng vô lương tâm bên Trung Hoa làm.
4. Carbon Dioxide làm nước có bọt có thể  tạo nên các bong bóng trong cơ thể ta và gây nên vấn đề. Nếu thiếu kiến thức, nhiều khi các chemists vườn pha các chất tẩm bậy, phạt nhau, làm hư hại cơ thể hay tạo nên sạn trong thân.
5. Coca Cola, Pepsi Cola… rất nhiều chất độc mạnh, có thể dùng để lau chùi bình điện đóng corrosion, hay chất rỉ sét, đóng vôi, đóng nhựa. Chất acid rất tai hại dù lưỡi ta không cảm nhận được nhưng tiêu thụ trường kỳ độc.
6. Chất phèn để lọc nước và preservatives để tránh hư thối cũng rất là độc. Đó là những chất chemical hoá học, không phải là natural như đường trong trái cây, gạo hay đậu thiên nhiên. Cơ thể ta không nhận ra các molecules đó thì không tiêu hoá mà cũng không thải ra ngoài. Rốt cục, người ta toàn là chất độc, chất acid, ký sinh trùng… trục trặc hết chuyện này đến góc kia, gia tăng tốc độ của việc lão hoá cơ thể.
7. Nước bên Mỹ phải lọc từ chất chemical (pesticide, insecticide…), rác rến (particles, mud…) đến minerals, metals độc. Các nước ngoài không dùng các loại máy reverse osmosis nên có thể còn những chất này. Tuy nhiên, nếu uống nước purified, reverse osmosis… thì cơ thể ta sẽ thiếu chất minerals (khoáng chất) và thiếu ăn thức ăn tươi (thiếu vitamins) thì óc không làm việc điều hoà, làm điện chạy liên tục thì tư tưởng sẽ bị đứt đoạn, thiếu quân bằng, tứ chi rã rời, bủn rủn, chóng mặt hay có khi nói năng lảm nhảm, không đầu đuôi. Minerals rất ư quan trọng cho cơ thể ta làm việc chính xác. Ăn uống thiếu dinh dưỡng, tiêu thụ thức ăn giả (margarine hay shortening, transfat, đường hoá học, artificial flavoring, coloring…) sẽ làm cho cơ thể bị yếu dần. Lúc ấy, các con bệnh, vi trùng (bacteria), siêu vi trùng (virus)… sẽ xâm chiếm thân yếu như các ký sinh trùng (rong rêu, cây tầm gởi…) xâm nhập ăn tươi nuốt sống cây yếu ớt. Từ từ, chúng tiêu hủy cơ thể chúng ta.
Tốt hơn hết, ta nên ăn uống kỹ lưõng bằng cách học hỏi qua Internet. Chưa bao giờ việc nghiên cứu dễ dàng, nhanh chóng và phong phú như thời đại Information Age này. Tránh ăn thức ăn tiền chế (frozen TV dinners, các thức của VN hoặc Trung Quốc làm sẵn…) và tránh pizza, hamburgers, thức nướng cháy bén lửa (carcinogenic gây ra cancer), uống nước ngọt, thịt chứa preservatives như bacon, ham, luncheon meats, Spam, hot dogs, Vienna Sausages, lạp xưởng…
Ngoài ra, cháu xin lưu ý về vụ ăn chay, các thức giả cá, giả giò… làm bằng đậu nành, rong biển, mì căn… Nhiều món như các bác đã thấy là plastic. Ăn vào không tiêu nhưng nếu không may mà không thải ra, thì ở lì trong ta, làm tắc tị, nghẹt cứng đường ruột hay trong ruột dư. Ngoài ra đậu nành dù mang tên là lành nhưng có thể rất tai hại cho nhiều người. Đậu nành mimic (giả) estrogen, một hormone có nhiều trong đàn bà nhưng thân đàn ông cũng có sản xuất một ít. Nếu ta có quá nhiều estrogen thì sẽ gây ra hormonal imbalance, làm xáo trộn cơ thể. Một người bình thường có trên 100 loại hormone thì mới function hoàn hảo. Quá nhiều loại hormone này, thiếu hormone kia, sinh ra nhiều bệnh. Đàn bà quá nhiều testosterone thì mọc râu rậm rạp, giọng nói ồ ồ như vịt đực. Đàn ông ăn quá nhiều đậu nành thường hay có giọng mái, thanh tao như đàn bà và ít râu ria, mặt mày láng coóng, da mịn màng, đi đứng yểu điệu như con gái. Đây là loại estrogen supplement các cô “boy” bên Thái Lan (hay Micheal Jackson) uống để thêm nét con gái.
Nếu anh có máy hiển vi xem live blood test, thì có thể nhìn thấy các hồng/bạch huyết cầu, đếm từng tế bào, các parasites (run sán lải to nhỏ), các chất độc cũng như rác rưởi bơi lội trong toàn thân ta

                                                                 Nguồn  tredeponline

Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2015

THIỀN VÀ KHOA HỌC

  Soeur Elaines McInnes là một vị nữ tu Thiên chúa Giáo, và cũng là một Thiền sư Phật giáo. Năm 1980, sau 15 tu học về thiền quán ở Tokyo, Bà có đuợc danh xưng là Zen Roshi – Thiền sư. Trong vòng 40 năm, Bà đã đem mùi vị của Thiền Quán rải khắp các nhà tù trên thế giới.
  Tác dụng của sự kiểm soát hơi thở và Stress
 1) Sự tương quan giữa Mind và Body :

Thế kỷ thứ XVII, René Descartes nhà toán học và triết học người Pháp, khẳng định thuyết nhị nguyên, tách rời thế giới tâm linh và thế giới vật chất, (mind – body dualisme) theo ông, Mind: tư tưởng, và Body: cơ thể, là hai cái entity không làm cùng 1 chất liệu. Này nhé: nếu bạn cầm dao cắt vào da thịt, máu sẽ tuôn trào, nhưng nếu bạn đưa bộ óc lên bàn mổ, thì ý tưởng không chảy ra theo vết cắt...vì vậy những gì xảy ra trong tư tưởng hoàn toàn biệt lập với những gì xảy ra trong cơ thể, nói cách khác đó là hai phần tử riêng biệt, không ảnh hưởng gì đến nhau. Nếu như Descartes còn sống đến ngày nay thì hẳn là ông đã thấy mình thật sự sai lầm...
 Tư tưởng và cơ thể con người là 2 bộ phận liên quan mật thiết, những tình cảm yêu ghét, giận hờn không thể cân đo đong đếm đó có thể dẫn đến những căn bệnh rất thực tế như nghẽn tim, loét bao tử, hay ngược lại những căn bệnh hiểm nghèo mà bác sĩ tưởng chừng phải bó tay bỗng nhiên thuyên giảm một cách kỳ diệu sau những cuộc hành hương. Và nữa, sức mạnh của thiền định – Meditation – là một sự thật không thể chối cãi. Sự kiện những vị thiền sư Tibet ngồi toạ thiền trong tuyết lạnh và sử dụng Hoả thân để làm nóng lớp chăn phủ trên người đã làm nao núng giới khoa học gia Tây phương.
  
Có một sự giải thích khoa học nào không cho những sự kiện tưởng như thuộc về một thế giới huyền bí của tâm linh đó? Hay chúng ta đành dễ dãi bằng lòng với cách xếp hạng chúng vào mục...Khoa học huyền bí, và phải kêu gọi đến...lòng tin - faith - để mà...gật gù: “Đã bảo là huyền bí rồi mà!”. Trước khi vận dụng đến “khả năng tin tưởng” của tâm linh, chúng ta hãy thử dùng con mắt khoa học để khảo sát về hiện tượng tương quan giữa Cơ thể (Body) và Ý tưởng (Mind) qua các chứng bệnh. (Trong phạm vi bài này Tiff chỉ xin bàn tới sự liên quan giữa Stress, các căn bệnh gây ra bởi Stress và ứng dụng của Thiền – Meditation – trong đòi sống hàng ngày).     




2) Sự liên quan giữa Stress và Bệnh:        
Tất cả chúng ta đều biết Stress gây ra rất nhiều bệnh. Cái list của những căn bệnh thời đại đó càng ngày càng dài ra tưởng như không bao giờ hết. Cái Stress cao độ (intense) và kéo dài (prolonged) làm yếu đi khả năng đề kháng của cơ thể (immunity defense), làm mệt mỏi trái tim, làm hư hoại những tế bào của não bộ (memory’s brain cell), làm tăng mỡ đọng ở eo và mông (một trong những risk factor của heart desease (nghẽn tim, infartus...), cancer và diabetese (đái đường). Stress cũng dự phần lớn vào những bệnh thoái hoá như polyarthritis rhumatoide – thoái hóa khớp xương), những bệnh tâm thần – depression, và góp phần làm cho các tế bào mau già.    
   
Các cơ cấu giữa Stress và Disease chỉ mới được hiểu khá tường tận từ khoảng đầu thập niên này (vào khoảng năm 1990, những bài học về Stress còn nằm trong phần Psychiatric mà không phải là phần Diagnosis – bệnh lâm sàng).      
3) Stress là gì?     
  
Trước hết ta hãy thử lược sơ qua, để hiểu rõ hơn Stress là gì? Stress là một trong những khả năng sinh tồn của loài ngươì. Nói khác đi Stress là một phản ứng tự vệ của cơ thể trước các nguy cơ. Stress là một phản xạ tự nhiên giúp con người đối phó với những bất trắc từ bên ngoài tác động. Khi gặp nguy hiểm – đối đầu với con sư tử chẳng hạn – cơ thể con người cần phải nhanh chóng sẵn sàng để “đương đầu” hay “chạy trốn” (fight or flight reponse).

Khi não bộ đánh hơi được một sự nguy hiểm, một tín hiệu được báo ngay cho:   

A- Adrenal glands (nằm trên chóp thận) để tiết ra hai loại hormones:    

- Adrenaline (epinephrine) và         
- Glucocorticoids & cortisol.   
  
B- Các tế bào thần kinh vùng Hypothalamus để tiết ra chất:  

- Nor-epinephrine. Các loại hormones này là những chất hóa học cực mạnh, có tác dụng làm cho: **
- Các giác quan nhạy bén hơn, các cơ bắp (muscle) săn chắc lên,  giảm thiểu khả năng tiêu hoá (tác dụng của nor–epinephirine). 

- Tim đập nhanh hơn, phổi: hô hấp nhanh hơn, chuẩn bị đưa oxygen tới các tế bào (t/d của epinephrine).

- Độ đường tăng trong máu để cung cấp nhiệt lượng cần thiết (cortisol).

- Nói tóm lại cơ thể chúng ta đang ở trong tư thế sẵn sàng tác chiến hay ….chạy trốn.    
Một khi Stress đã qua đi, (như trong ví dụ này, con sư tử đã đi...chỗ khác chơi) thì các hormones trở về trạng thái cũ. 

Thế nhưng trong xã hội ngày nay, Stress biến đổi hình thức, nó không còn đơn thuần là một con sư tử, nanh dài móng nhọn, mà nó thiên biến vạn hóa ra hàng triệu tình huống khác: một ông Boss khó tính,  một ông xã (hay bà xã) ưa cằn nhằn, một cuộc tình sóng gió, 3 tiếng đồng hồ kẹt xe trên xa lộ, 50 cm tuyết sáng thứ hai…v.v...Cái phản ứng “đánh”  hay “chạy”  (fight or flight) của cơ thể vẫn không thay đỗi nhưng cái Stress ngày nay đã khác với cái stress ngày xưa. Và không phải trong tình huống nào mình cũng có thể...Đánh hay Chửi được, mà phần nhiều là phải...chịu trận!!!. Vì vậy cơ thể con người gần như luôn luôn đầy ắp những thứ hormones này. Chính sự hiện diện lâu dài, ngày này qua ngày khác, và ở nồng độ cao (high concentration) của các stress hormones mà tạo ra các nguy cơ tác hại cho cơ thể: 
    
a- Tổn thương các mạch máu, đưa đến các bệnh về tim mạch (heart disease). 

b- Giảm khả năng đề kháng của cơ thể (immunity systeme), đưa đến cancer, bệnh nhiễm trùng (infectious disease).... 
c- Mất calcium trong xương gây ra osteoporosis ở phụ nữ lúc mãn kinh (menopausis).  
d- Làm tăng mỡ đọng ở eo và mông - heart disease.      
e- Diabetese, đái đường, mất trí nhớ…        
f- Cái liste của những tác hại vì Stress còn rất là daì, đó là chưa kể đến những căn bệnh thần kinh như depression, parkinson' disease, Alzheimer, stroke vv và vv…     


4) Thiền - Quán sổ tức, và Stress.  
  
Theo DR.Andrew Weil (University of Arizona) thì cách điều hoà hơi thở là cách thức hữu hiệu nhất để chống lại sự âu lo (anxiety) và Stress, và ngay đối với cả những thể loại nặng nhất của bệnh khủng hoảng thẩn kinh (panic disorder). Vì khi bạn chú tâm vào hơi thở, và thở sâu, chậm, yên lặng và đều đặn thì bạn không thể nào...stress, hay lo âu được. Bởi lẽ rất dễ hiểu là cơ thể bạn không thể nào cùng lúc lúc làm được những việc trái ngược nhau. Như chúng ta biết, ngược lại với Stress, sự điều hoà hơi thở sẽ làm cho tim đập chậm, giảm huyết áp, làm an tĩnh hệ thần kinh. Khi não bộ không nhận được tín hiệu nguy cơ nữa thì cơ thể trở lại với trạng thái điều hoà, các bộ phận điều tiết những Stress hormone không còn được kích thích cũng sẽ trở về trạng thái bình thường, và cơ thể bạn không nằm trong trạng thái chuẩn bị ứng chiến như ta đã thấy ở trên. Và như thế, bạn vừa..."shut down" những tác hại của Stress.   

Hiện nay những Bệnh viện lớn như Columbia Medical center ở New York city, những bệnh nhân trước khi giải phẫu Tim, đều được mời tham dự những buổi Thiền, Meditation. Ở những bệnh nhân có tham gia thiền quán, người ta nhận thấy ít lo âu trước khi mổ, ít mất máu trong khi mổ và hồi phục nhanh hơn sau khi mổ. 

Điều hòa hơi thở chỉ là một dạng thô thiển nhất của Thiền quán, cần nói thêm là Thiền không chỉ là sự điều hòa hơi thở nhưng nếu bạn biết áp dụng vào đời sống hàng ngày thì ít ra bạn cũng ngăn ngừa hay chặn đứng được những tác hại của Stress, tuy bạn chưa đi vào trạng thái Thiền định nhưng bạn cũng đã kiểm soát được mình qua sự điều tức. Khi kiểm soát được hơi thở của mình, cơ thể của bạn là của bạn. Có thể bạn chưa đạt được giải thoát hay Đốn ngộ với sự kiểm soát hơi thở, nhưng ít ra đời sống bạn cũng sẽ được thoải mái hơn và...ít bệnh tật hơn!!!  

Thứ Năm, 7 tháng 5, 2015

QUỲNH HƯƠNG


                                                  Trăng lên hoa nở khách đề thơ
                                                  Hương ngát hoa đời ý vẩn vơ
                                                  Trà nguội đêm tàn sương điểm lạnh
                                                  Say đời say mộng mãi còn mơ

                                                                                                                Minh Đạo - 2015


Thứ Ba, 5 tháng 5, 2015

NĂNG LỰC TINH THẦN: “DĨ TÂM ỨNG TÂM”


                                                   
  

        Câu chuyện có tính cá biệt, gần như hư cấu. Bởi tất cả sự vận hành của đời sống, theo đạo Phật, đều do nghiệp lực chi phối. Sinh Tử cũng không ngoài quy luật này. Không ít người theo đạo Phật hay các đạo khác bị bệnh ngặt nghèo có thể qua khỏi hay không qua khỏi hay‘vãng sinh’. 
        Vì thế không nhất thiết là phải theo khuôn mẫu nào cả.  Hãy cẩn trọng, tránh mọi sự tô hồng “phép lạ”, đánh bóng cho một tông phái hay một tôn giáo nào hết.
         Tuệ giác – sự thấu hiểu lẽ thực, có lẽ là mục tiêu tối hậu dẫn đường cho sự sống an lạc dài lâu trong giải thoát.
        Anh Cẩn sinh năm 1949. Hiện anh đang sống ở thành phố Encinitas, miền Nam California. Có thể nói anh là một trong những người Việt di tản thành đạt ở Mỹ. Sang Mỹ từ năm 1975, anh bắt đầu làm việc ngay trong lĩnh vực điện toán. Với kinh nghiệm từng làm việc trong ngành điện toán khi còn ở Việt Nam, anh nhanh chóng thăng tiến trong ngành công nghệ quan trọng này của Mỹ.
         Ðến năm 1990, anh đã nắm giữ những chức vụ cao trong các hãng lớn như General Electric. Anh quyết định mở business riêng của mình. Công việc kinh doanh của các công ty software do anh sáng lập đều thành công ở những mức độ khác nhau.
         Theo anh Cẩn, con đường đến với Phật Pháp của anh cũng tương tự với những người thuộc giới trí thức và làm việc trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật. Anh theo đạo Phật vì mẹ là một Phật tử thuần thành, thường xuyên đi Chùa, tụng kinh.
         Lúc trẻ anh đọc rất nhiều sách Phật, cũng thiền tập, nhưng là để thoả mãn nhu cầu về tri thức hơn là tìm cho mình một con đường đi trong cuộc sống. Một tác động lớn đến đời sống tâm linh của anh xảy ra cách đây hơn chục năm, trong anh khi đang điều hành công ty của mình ở Mỹ.
         Hôm đó, có một nhân viên lên gặp anh khóc và nói rằng mình bị áp lực lớn vì không theo nổi cách làm việc của anh. Anh Cẩn hết sức ngạc nhiên, vì anh thuộc loại giám đốc biết quan tâm đến nhân viên. Có điều anh luôn yêu cầu nhân viên phải làm việc đúng như cách của anh làm, để họ cũng thành công như anh.
         Anh quên mất là không phải ai cũng có khả năng như anh được. Hoá ra là cho dù đang muốn làm một việc tốt, nhưng vì chấp ngã, nên vô tình anh làm tổn thương người khác ! Qua sự kiện đó, anh bắt đầu nhìn lại mình.
         Anh bắt đầu trở nên biết lắng nghe người khác hơn. Anh bắt đầu tìm cách đem Phật Pháp áp dụng vào trong cuộc sống hằng ngày. Anh Cẩn rất quan tâm đến Phật Giáo Tây Tạng. Theo anh, truyền thống Tây Tạng vạch ra con đường tu tập rõ ràng cho các Phật tử còn đang sống cuộc đời thường như anh. Vẫn biết “tu là chuyển nghiệp” như nhiều thầy đã dạy, nhưng làm thế nào ?”
        Phật Giáo Tây Tạng đưa ra cho anh Cẩn câu trả lời này cụ thể hơn. Do đó, anh thường lên nghe giảng pháp ở ngôi chùa Tây Tạng ở Long Beach, nơi có Geshe Tsultim Gyeltsen trụ trì. Ngài là một trong những chư vị cao tăng của Phật Giáo Tây Tạng, rất được Ðức Ðạt Lai Lạt Ma quí mến.
        Vào khoảng tháng 06/2007, anh Cẩn thấy sức khoẻ mình tự nhiên suy kiệt hẳn.
         Vì sao thì bác sĩ chưa chẩn đoán được. Phải đợi đến khi anh thấy mình bị chứng “double vision” - một vật mà nhìn thành hai - anh mới khám bác sĩ nhãn khoa rồi được chuyển qua bác sĩ khác để cho scan não bộ của anh. Lúc đó họ phát giác là anh bị ung thư phổi, đã di căn tới não, nên họ tức tốc đưa anh vào nhà thương.
        Ðối với y học, ca của anh Cẩn có vẻ như đã quá trễ. Bác Sĩ vẫn bắt đầu phương pháp xạ trị mà không ai hứa hẹn điều gì. Cuộc sống của anh tính theo từng tháng. Chỉ còn chờ phép lạ …
        Ðối với một người đọc sách Phật nhiều như anh Cẩn, anh cũng biết sinh tử là vô thường. Nhưng khi phải đối mặt trực diện với nó, anh mới thấy mọi kiến thức trước đây của mình về cái chết sao chỉ là một mớ khái niệm rỗng, không giúp gì được cả. Anh cảm thấy hoang mang quá đỗi. Anh chưa chuẩn bị sẵn sàng cho việc đi về một nơi nào đó đằng sau cái chết. Bởi vì anh vẫn còn lo cho vợ anh, con anh, và cả doanh nghiệp đang làm việc nữa, sau này không có anh rồi sẽ ra sao.
         Anh cố tự nhủ rằng mình chấp và bám víu như vậy là sai với tinh thần nhà Phật, nhưng anh không thể nào chế ngự được nỗi sợ hãi khi hình ảnh cái chết và vợ con mình hiện lên trong đầu. Cùng với cơ thể bệnh hoạn, tâm anh lại bị thiêu đốt trong sự sợ hãi. Thân tâm anh suy sụp toàn diện !
    Ðến lúc như tuyệt vọng, tự nhiên anh nghĩ đến Geshe Tsultim Gyeltsen. Anh nhờ một người bạn thân đến chùa ngay để trình bày với thầy về hoàn cảnh của anh, và xin được qui y với Ngài. Thầy nhận lời ngay. Cuối tuần đó, anh sung sướng được gặp thầy, được thầy làm Lễ Qui Y chính thức.
      Anh xin thầy lời khuyên về sự giải thoát cho bản thân mình. Lời khuyên của Ngài thật đơn giản : giao tất cả mọi chuyện vướng bận trong đời lại cho người thân, để chuẩn bị cho mình vượt lên trên tất cả những lo toan đó.
      Với một niềm tin mãnh liệt (?) vào vị thầy tôn kính, anh thực hiện đúng như vậy. Anh bàn giao lại công việc, tài sản lại cho người thân của mình lo liệu. Anh tức tốc lấy vé máy bay để cùng vợ đi Hawai, với ý nghĩ là tận hưởng những ngày tháng cuối để vui với gia đình. Ðúng cái đêm trước ngày khởi hành, “phép lạ” xảy ra.
      Tối hôm ấy, anh cũng ngồi thiền để tĩnh tâm như mọi khi. Và khi anh nhắm mắt lại, anh thấy tự nhiên trong tâm anh tràn ngập hình ảnh vị thầy tôn kính của mình. Kỳ diệu hơn nữa, tâm của anh hoàn toàn tĩnh lặng cùng hình ảnh của thầy. Không cần một cố gắng nào cả, sự sợ hãi đang chế ngự anh trước đây tự nhiên biến mất. Giống như người lạc giữa sa mạc gặp được dòng suối mát, anh đã để tâm mình an trú trong những giây phút bình an tuyệt diệu đó.
      Ðây là một dạng kinh nghiệm thực chứng của thiền quán mà không phải ai cũng tìm được, dù một lần trong đời.
       Hôm sau, anh đem theo niềm an lạc đó sang Hawaii cùng với kỳ nghỉ của mình. Buổi sáng đầu tiên ở Hawai, anh chống gậy đi ra biển để ngắm bình minh. Và trong khi để tâm mình theo dõi vẻ đẹp của trời biển trong lúc mặt trời lên, hình ảnh của thầy lại tràn ngập trong anh cùng với thiên nhiên.
      Bình an lại đến ! Anh cảm thấy hạnh phúc trong giây phút hiện tại quá đỗi ! Lúc đó, anh mới thực sự ngộ ra rằng giây phút hiện tại là hiện hữu nhiệm màu nhất.
       Nó không có khởi đầu, không có kết thúc. Nó chỉ là những cảm thọ bình an nối tiếp trong tâm một cách bất tận, và anh đã an trú được trong nó.
       Khi về lại Cali, anh gặp thầy và kể lại những trải nghiệm này của mình. Ngài chỉ cười mà không giải thích thêm. Mà anh cũng không chờ đợi được giải thích vì cuộc sống của anh đã thực sự thay đổi rồi. Anh vẫn điều trị bệnh theo bác sĩ.
       Thời gian còn lại, anh tận hưởng từng giây phút của cuộc sống với gia đình, bạn bè của mình. Sống trọn vẹn như vậy, anh nghĩ rằng không có gì khác biệt giữa việc mình sống thêm một năm hay mười năm nữa.
        Bốn tháng sau, bác sĩ scan lại và không phát hiện ra sáu cục bướu trước đây nằm trên não của anh nữa. Có vẻ như anh đã vượt qua được giai đoạn nguy kịch nhất.
       Bác sĩ cũng nói “phép lạ” đã xảy ra …
        Cho đến hôm nay, mọi chuyện mới qua đi hơn một năm. Nhìn lại, anh Cẩn có cảm giác thời gian đó dài lắm ! Hiện tại, anh vẫn tiếp tục sống bình thản. Anh vẫn cùng bác sĩ tiếp tục theo dõi căn bệnh.
        Anh Cẩn bảo rằng nó có thể quay lại bất cứ lúc nào, nhưng anh tự hào là đã chiến thắng được nó một lần. Ðiều quan trọng là anh không còn bận tâm đến nó nhiều nữa.
        Không ai có thể biết chắc chắn là ngày mai chúng ta có còn sống hay không.
       Như vậy, đâu là sự khác biệt giữa một người ngày mai chết vì ung thư và một người ngày mai chết vì bất cứ một lý do nào đó, một tai nạn xe cộ chẳng hạn ?
       Vậy thì hãy sống trọn vẹn ngày hôm nay là được rồi.
       Tôi hỏi đâu là “phép lạ” trong trường hợp của anh ?
       Anh Cẩn cho rằng đó là sự kết hợp nhiều yếu tố. Có thể là do anh có một bác sĩ giỏi, và anh biết cách làm việc với bác sĩ của mình.
       Có thể là do khi anh giữ được cái tâm bình an rồi, toàn bộ năng lượng trong con người anh dùng để hồi phục những tế bào ung thư.
        Trong việc điều trị ung thư vào giai đoạn đã di căn thì y học chỉ đóng góp chừng phân nửa vào kết quả. Phân nửa còn lại dành cho những yếu tố mà khoa học chưa thể lý giải hết, như niềm tin, sức mạnh của cái tâm bình an …
         Giải thích tại sao vị thầy có thể trao cho anh được sự bình an, bước ngoặc của cuộc đời mình, anh Cẩn cho rằng đầu tiên là vì anh đã đặt niềm tin tuyệt đối vào Ngài. Cộng với thầy của anh có năng lực của tâm để truyền cho anh, còn anh cũng hết lòng nhận.
        “Dĩ Tâm ứng tâm” có lẽ là vậy đó.
         Khi cả người cho lẫn người nhận đều mở rộng tâm của mình hướng vào nhau, “phép lạ” của tâm linh sẽ xảy ra …
         Chia tay với anh Cẩn, tôi cảm ơn anh vì câu chuyện của anh là một món quà lớn dành cho tôi. Anh Cẩn mong rằng những điều tôi ghi lại được sẽ phần nào giúp đỡ những ai đang phải đối diện với căn bệnh ung thư như anh. Ðừng bỏ cuộc. Ðừng đóng cửa lại với cuộc sống.
       Thông điệp của anh là Hãy Tạo Cho Mình Một Niềm Tin & Một Cái Tâm Bình An (?). Tôi nghĩ thông điệp này đâu chỉ dành cho người bệnh, mà còn dành cho tất cả chúng ta, Những con người đang sống trong một thời đại đầy biến động này.

                                                               Trích email quangaduc@


Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2015

CHỮA BỆNH, DƯỠNG SINH BẰNG CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG PHÙ HỢP VỚI TỰ NHIÊN



Trong năm mươi năm qua số bệnh nhân nhiểm bệnh và tử vong vì ung thư đã không ngừng gia tăng. Hiện nay theo báo cáo của tổ chức Y Tế Thế Giới, mỗi năm có thêm khoảng 10 triệu người mới phát bệnh ung thư và khoảng 6 triệu người chết do ung thư. Tại Việt nam, hàng năm có khoảng 100 đến 150 ngàn người mới mắc bệnh ung thư và khoảng 70 ngàn người chết vì ung thư. Trong khi những tiến bộ khoa học có vẽ như bất lực trong việc chận đứng ung thư thì thỉnh thoảng người ta vẫn ghi nhận được thông tin những bệnh nhân ung thư khỏi bệnh hoàn toàn nhờ những liệu pháp cổ truyền. Phải chăng đây chỉ là cá biệt? Bài viết sau đây sẽ giải thích về những nguyên lý và giá trị thực tiển của Macrobiotics, một phương pháp chữa bệnh bằng chế độ ăn uống phù hợp với tự nhiên cùng với những so sánh, đối chiếu với một số nghiên cứu khoa học và một số tập quán ăn uống có giá trị dưỡng sinh cao.
                                           

  Chữa bệnh ung thư không cần dùng thuốc
Vào tháng 08-1982 ở nước Mỹ có một trường hợp bệnh ung thư di căn được chữa khỏi hoàn toàn đã được nhiều tờ báo lớn lúc bấy giờ như Life, Paris Match đăng tải gây được sự chú ý của nhiều người. Bác sĩ Anthonny Sattilaro là giám đốc một bệnh viện lớn ở Philadelphia. Ông đã bị ung thư di căn đến nhiều bộ phận trên cơ thể, đã trải qua 3 lần giải phẩu. Ông đã hoàn toàn tuyệt vọng. Sau đó ông đã được giới thiệu phương pháp điều trị bằng chế độ ăn uống đặc biệt theo Giáo Sư Oshawa dưới sự hướng dẫn trực tiếp của GS bác sĩ Kichio Kushi. Bảy tháng sau, tất cả các xét nghiệm cần thiết được thực hiện đã chứng tỏ ông hoàn toàn khỏi bệnh*. Chữa bệnh ung thư không dùng thuốc như trường hợp BS Anthony Sattilaro không phải là duy nhất. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho phóng viên Sabine de la Brosse của báo Paris Match, bác sĩ Kushi cho biết:

- Hàng năm tôi tiếp nhận khoản 3000 bệnh nhân. Phân nữa trong số đó là bệnh ung thư. Có đến 40% bệnh nhân ung thư đã đến thời kỳ chót. Khi không còn chút hy vọng sống sót họ mới tìm đến tôi. Tôi có thể nói phân nữa số bệnh nhân “chờ chết” ấy hiện nay đã bình phục hẳn. Họ đã mạnh khoẻ và đã trở lại cuộc sống bình thường.

Phóng viên : Vậy còn số phân nữa kia thì sao?

BS Kushi : Số người ấy không theo đúng phương pháp mà tôi chỉ dẫn cho họ. Họ ăn uống sai, không kiêng kỵ được. Họ ăn uống trái phép rồi tiếp tục tồn trữ chất độc trong cơ thể.
BS Kushi đặc biệt nhấn manh : Phải nhìn nhân rằng sự hợp tác của những người xung quanh nhất là những người trong gia đình là điều rất cần thiết. Nếu người chồng bị bênh và người vợ nấu ăn thì người vợ phải nâng đỡ tinh thần người chồng bằng cách ăn cùng một chế độ với chồng theo phương pháp Macrobiotics.


Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2015

MẸ

                                                            
                                               Mấy mươi năm nhớ Mẹ ta xưa
                                               Kĩu kịt lưng còng gánh đậu trưa
                                               Thương Mẹ thương đời thường vất vả
                                               Thơ ngây trẻ dại biết lời thưa
                                                           Thời gian dòng chảy ánh tà dương
                                                           Tạc dạ công ơn những đoạn trường
                                                           Nguyện cầu Phật Tổ mong siêu thoát
                                                           Có Mẹ con trong chốn lạc thường...
                                                                                          Minh Đạo