Theo Đạo Phật, con người là một loài trong sáu cõi luân hồi mà chúng sinh phải trải qua để trả những nghiệp báo của mình vào những kiếp trước. Dù cuộc sống có ít vui nhiều khổ, nhưng con người lại là chúng sinh có khả năng tu hành để giải thoát, để thành Phật, thành Bậc Giác Ngộ. Ngay cả những chúng sinh ở cõi sung sướng khác như cõi trời muốn thành Phật cũng phải sinh lại về cõi người để tu và mới đạt được Đạo
Phần I: Nhân sinh quan
-Theo Duy Thức Học.
-Thập Nhị Nhân Duyên
-Duyên Khởi.
-Nghiệp -Luân Hồi.
-Khổ (Khổ đế);
-Nguyên nhân của khổ (Tập đế).
-Chỉ con người mới tu được!
Theo Đạo Phật, con người là một loài trong sáu cõi luân hồi mà chúng sinh phải trải qua để trả những nghiệp báo của mình vào những kiếp trước. Dù cuộc sống có ít vui nhiều khổ, nhưng con người lại là chúng sinh có khả năng tu hành để giải thoát, để thành Phật, thành Bậc Giác Ngộ. Ngay cả những chúng sinh ở cõi sung sướng khác như cõi trời muốn thành Phật cũng phải sinh lại về cõi người để tu và mới đạt được Đạo. Sáu cõi luân hồi đó là: Thiên (Trời), A-Tu-La (Thần), Nhân (Người), Súc sinh (Loài vật), Ngạ quỷ (Quỷ đói), và Địa ngục.
I-Theo Duy Thức Học:
Như trong phần "Nhập Thế Gian" chúng ta thấy rằng con người, chúng sinh và vũ trụ được thành hình vì do sự "Vô minh" của tâm, tâm không thấu rõ "sự" và "lý" của pháp mà đã "vọng động" có "tâm phân biệt" và ‘vọng tưởng’ để từ đó làm duyên khởi cho bao nhiêu duyên khởi khác hiện ra (trùng trùng duyên khởi) và đưa chúng sinh vào vòng "luân hồi sinh tử", khó thoát ra được.
Và cũng trong phần đó, chúng tôi đã cố gắng dẫn chứng bằng những đoạn Kinh mà Đức Phật đã giải thích về sự "ra đi" từ nơi nguồn gốc để vào "vòng luân hồi sinh tử". Như thế, chúng ta đã biết vì "trong một lúc" vọng động, phân biệt của Chơn tâm mà chúng sinh đã mượn đến tứ đại (đất, lửa, gió, nước) để kết hợp thành thân xác của mình. Với thân xác nầy đã "trói buộc" chơn tâm trong khuôn khổ, không vượt ra khỏi giới hạn của nó; vì vậy chơn tâm mất hẵn bản chất "tự sáng suốt, chiếu soi" và không còn "tự tại cùng hư không", tức là không thể lớn bao trùm cả hư không hay nhỏ ngồi trong hạt bụi vi trần được nữa. Cái "chơn tâm" bị mê muội đó đã trở thành "vọng tâm" để ôm lấy cái thân "tứ đại" vay mượn mà cứ ngỡ là thân thật của mình, để rồi yêu mến nó, phải làm lụng cực nhọc, săn sóc cho nó, tìm đủ mọi cách để chiếm hữu các thứ nhằm cung phụng cho cái thân giả tạm. Mọi chúng sinh trong "tam giới" còn luân hồi sinh tử đều là do "Tâm" ở nơi "vọng tâm" nầy mà sinh ra (Tam giới do tâm); nhưng thế nào lại là "vạn pháp do thức"? Cũng trong phần Nhập thế gian, chúng ta còn thấy "Vọng tâm" của chúng sinh lại mượn Kiến đại để "nhận thức" thấy, nghe, hay biết để làm "thức" cho mình. Điều nầy có nghĩa là chúng sinh chỉ có "thức" khi đã là chúng sinh ở trong tam giới; chính nhờ "thức" nầy mà con người, chúng sinh biết chọn con đường tu hành, chọn "pháp" để mà giải thoát, để về trở lại với Chơn Tâm. Thế là biết được "vạn pháp" cũng do "Thức", cho nên "Vạn pháp do thức" là vì vậy! Cũng kể từ đó chúng sinh có "Tâm" và "Thức" hay gọi chung lại là "Tâm thức" (khác với Thức tâm, thức tâm hay là chơn tâm là một trong 7 đại). Ngoài ra, chúng sinh và con người còn vay mượn "hư không" để thân thể được tăng trưởng lớn lên, đi đứng nằm ngồi. Nếu không có "tính hư không" thì thân thể không thể di động hay tăng trưởng. "Thức" đã đóng góp phần quan trọng vào sự "cấu thành" chúng sinh và con người, cho nên tìm hiểu "Duy Thức" cũng là điều cần thiết của chúng ta vậy!
Nếu "Tâm" khi chưa vào cõi luân hồi thì nó chỉ là "Tâm" với đầy đủ tính chất của nó. Đức LụcTổ Huệ Năng đã diễn tả về cái Tâm, cái Tự Tánh ấy như sau:
Hà kỳ Tự Tánh bổn tự thanh tịnh
Hà kỳ Tự Tánh bổn bất sanh diệt
Hà kỳ Tự Tánh bổn tự cụ túc
Hà kỳ Tự Tánh bổn vô động diêu
Hà kỳ Tự Tánh năng sanh vạn pháp.
(Cái Tâm của ta tự nó vốn là thanh tịnh, không sanh không diệt, có đầy đủ tất cả tự nó không lay chuyển, nhưng lại "năng sanh vạn pháp" quyền biến vô cùng).
Nhưng khi chúng sinh vào cõi "sinh tử luân hồi" rồi, thì cái tâm ấy bị trói buộc trong thân thể "tứ đại", không vượt thoát ra ngoài được và "cái nhận biết" không qua khỏi các giới hạn của "căn, trần" mà "thân xác" đã cho phép. Các thức ấy là gì?
Khi chúng sinh được thân tứ đại; trên thân có được 6 giác quan, 6 giác quan ấy tiếp xúc với 6 trần cảnh bên ngoài để từ đó có thể nhận thức được vũ trụ, vạn vật chung quanh mà trong Duy thức kể đó là:
- Sắc pháp (11): sắc pháp gồm có 5 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân hay tiếng Hán là nhãn, nhĩ, tĩ, thiệt, thân- không có ý vì ý đã nằm trong các "thức" chính yếu tức là Tâm Vương) và lục trần: sắc trần, thinh trần, hương trần, vị trần, xúc trần và pháp trần tức là những đối cảnh của vật chất bên ngoài được các căn nhận làm đối tượng cũng như cảnh, sắc đối với mắt; âm thanh đối với tai; mùi, hương đối với mũi; vị nếm đối với lưỡi; đụng chạm, tiếp xúc đối với thân...
Từ 6 căn chúng sinh nhận định và biết được 6 trần bằng 6 thức. Sáu thức đó mà Duy thức học gọi là:
-"Tâm Vương" (6): Nhãn thức (nhận biết của mắt); nhĩ thức (nhận biết của tai); tĩ thức (nhận biết của mũi); thiệt thức (nhận biết của lưỡi); thân thức (nhận biết của thân); ý thức (nhận biết của pháp) hay là thức thứ sáu; và trong Tâm Vương còn hai thức khác là: Thức thứ bảy hay là Mạt Na Thức (ý thức về cái Ngã, cái Ta); và Thức Thứ Tám hay A Lại Da Thức (Tàng thức, là cái túi chứa đựng mọi nghiệp Thiện, Ác hay Vô ký (không thiện, không ác) của mọi chúng sinh trong cuộc sống).
Ở đây, chúng tôi muốn lấy một ví dụ để chúng ta có thể hiểu rõ hơn về các thức này:
‘Cây đó có hoa. Hoa của nó màu sắc rất là đẹp, hình dáng hài hòa, thật hấp dẫn, khiến ai thấy cũng thích. Tôi muốn chiếm hữu làm của riêng mình. Nhưng có thằng bé đến muốn nhổ cây hoa. Tôi đuổi nó đi và đến bứng đem về nhà’.
Trong thí dụ ấy nói đến điều gì?
-‘Cây đó có hoa’: ý nói ‘mắt’ (căn) nhìn thấy được ‘cây có hoa’ (đối cảnh hay đối tượng).
-‘Hoa của nó màu sắc rất là đẹp, hình dáng hài hòa, thật hấp dẫn, khiến ai thấy cũng thích’: nhận xét của ‘ý thức’ (thức thứ sáu) về hoa của cây có hoa đó.
-‘Tôi muốn chiếm hữu làm của riêng mình’: ‘ý thức’ muốn cây có hoa ấy phải thuộc ‘về mình’, ‘về ta’ (thuộc về cái Ngã). Ý thức này được gọi là Mạt Na Thức (Thức Thứ Bảy), hay để phân biệt với Thức thứ Sáu (ý thức) nên thức này còn được gọi là Ý Căn.
-‘Nhưng có thằng bé đến muốn nhổ cây hoa’: Sự ‘muốn chiếm hữu’ của mình có nguy cơ bị mất.
-‘Tôi đuổi nó đi và đến bứng đem về nhà’: Tôi dùng đến sức mạnh, ỷ lớn hiếp nhỏ để đuổi thằng bé và chiếm cây có hoa làm của riêng. Như vậy theo luật nhân quả tôi đã ‘tạo nhân xấu’ đối với thằng bé, nhân xấu ấy được ‘tàng chứa’ trong ‘cái túi chứa A Lại Da Thức’ (Thức Thứ Tám). Đến khi đủ nhân duyên thuận tiện ‘nhân’ sẽ nẫy mầm, khi ấy tôi phải trả ‘quả’ cho nó, có thể trong kiếp này, hay kiếp sau hoặc ở những kiếp lâu dài về sau không chừng.
Hi vọng với thí dụ này giúp cho chúng ta có thể hiểu về các trường hợp tương tự đối với tai, mũi, lưỡi, thân một cách dễ dàng hơn, cũng như nhận định về Duy Thức trong các trường hợp khác của cuộc sống.
Với Duy Thức này cũng còn cho chúng ta hiểu rõ hơn: Tại sao trong Đạo Phật chủ trương là "Vô Ngã"("Nhứt thế pháp vô ngã": Mọi pháp đều Vô Ngã)? Vì thực ra "Tâm" mọi chúng sinh đều như nhau, bình đẳng và "vô ngã" (không phân biệt ta, người, chúng sinh, ngay cả tướng thọ mạng), tất cả đều "viên dung" với các đại khác trong một thể "không hai" (bất nhị) ở cõi gọi là Niết Bàn, Viên Giác, Chơn Như, Không Như Lai Tạng, Đại Viên Cảnh Trí, và bằng nhiều danh từ khác nữa. Vì do "không biết" (Vô minh) mà sinh ra ý "cần có ngã" (Vọng tâm) và ‘có tâm phân biệt’; để rồi mượn tứ đại tạo thành "thân ngã" tạm bợ có sinh lão bệnh tử, như vậy tất cả những cái ngã đó chỉ là vay mượn tạm, không phải là Thật. Cái Ngã thật chỉ có là "Chơn Tâm", là "Phật tánh" không thôi! Muốn thoát khỏi sinh tử luân hồi thì mọi cái "ngã giả" phải trả về cho nguyên gốc của nó và ‘không mượn nữa’ hay đúng hơn là: Trong túi chứa A Lại Da Thức không còn có nhân xấu (hay Nghiệp) nào nữa thì lúc ấy ‘Túi A Lại Da Thức’ bị ‘vỡ tan’ và tâm của chúng sinh lại được ‘khuếch tán, trương lớn’ cùng khắp hư không (cảnh Đại Viên Cảnh Trí) về với "Cõi Chơn tâm" để trở thành bậc Giác Ngộ. Lúc ấy, "Tâm" của chúng sinh mới được tự tại vô ngại như thuở ban đầu trong cùng khắp hư không, muốn lớn được lớn, muốn nhỏ được nhỏ v.v... mà Đức Phật đã ví dụ "như quặng vàng đã được tôi luyện thành vàng ròng; đã là vàng ròng rồi thì không trở lại là quặng nữa", tức là sẽ không bao giờ bị ‘Vô minh’ lôi cuốn vào cảnh Luân Hồi nữa, trừ khi vì nguyện lực mình muốn vào cảnh Luân hồi để độ chúng sinh như những Bậc Bồ Tát hay các Đức Phật đã làm!
Với cái "ngã" về thân, nó đòi hỏi chúng ta rất nhiều vấn đề, nhiều nhu cầu "phải được" đáp ứng trong cuộc sống; và nó chi phối con người phải luôn lo nghĩ, mưu cầu, hay tìm đủ mọi cách để thỏa mãn cho nó; mà "Mạt Na thức" là cái thức chính yếu để chúng sinh nghĩ về mình, làm cho mình, chấp về mình (ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái).
Với những nhận thức được từ Tiền ngũ thức (nhãn thức, nhĩ thức, tĩ thức, thiệt thức, thân thức), chúng sinh chỉ nhận định được những vật, hiện tượng, biến cố... chung quanh hay trong vũ trụ; và với "ý thức" chúng sinh lại được hiểu rõ, nhận định ‘chính xác, đầy đủ’ hơn. Nếu chỉ với sáu thức đó thôi như các triết thuyết thế gian đã chủ trương thì khi con người, chúng sinh chết đi sẽ không còn có một cái gì để làm căn bản "tái sinh" mà duy trì sự nối tiếp của vạn vật, vạn hữu trong vũ trụ nầy cho đến ngày nay cả; vì "ý thức" dễ bị diệt không còn trong năm trường hợp mà Hòa Thượng Thích Thiện Hoa đã kể trong Phật Học Phổ Thông khóa IX, trang 154 như sau:


